những ảnh hưởng của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng tới việc thực hiện quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường
quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách (Lời nói đầu, Luật Hôn nhân và gia
đình nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2000). Có nhiều cơ sở để xác lập nên
một gia đình, trong đó hôn nhân là yếu tố chủ đạo. Lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin đã khẳng định rằng hôn nhân và gia đình là các quan hệ xã hội ra đời mang
tính lịch sử, cùng với sự xuất hiện của xã hội có giai cấp, chế độ tư hữu và Nhà
nước. Vì vậy, như bất cứ một quan hệ xã hội nào, quan hệ hôn nhân và đình cũng
chịu sự tác động, điều chỉnh của Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật
mà trước tiên phải kể đến là vấn đề kết hôn và đăng ký kết hôn. Đăng ký kết hôn là
một sự kiện pháp lý quan trọng tạo nên một tế bào mới cho xã hội, đồng thời thể
hiện sự giám sát của Nhà nước đối với việc tuân thủ pháp luật nói chung và pháp
luật hôn nhân và gia đình nói riêng.
Tuy nhiên, thực tế có rất nhiều trường hợp nam nữ mong muốn xác lập quan
hệ vợ chồng đã chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn,
hoặc nhiều trường hợp nam nữ chỉ mong muốn chung sống như vợ chồng với suy
nghĩ “sống thử”. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: do phong tục, tập
quán; do xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa đã góp phần mang văn hóa
nước ngoài du nhập vào Việt Nam. Trong xu thế phát triển kinh tế, văn hóa của
nước ta hiện nay, việc chung sống như vợ chồng vẫn sẽ tồn tại, thậm chí có thể có
chiều hướng gia tăng. Điều này sẽ gây ra những tác động lớn đến việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ chung sống như vợ chồng và những
người có liên quan.
Xuất phát từ thực tiễn đó, bài khóa luận này nghiên cứu tình trạng nam nữ
chung sống như vợ chồng với mong muốn chỉ ra những ảnh hưởng của nó đến quan
hệ vợ chồng - quan hệ giữa các bên chung sống, đồng thời đề xuất một số kiến nghị
nhằm hạn chế hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng trong xã hội, bảo vệ
quyền lợi của những người có liên quan, đặc biệt là quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.
2. Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu: khóa luận tập trung phân tích và làm sáng tỏ những ảnh

phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những
thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi
giống. [1, tr.44]
Như vậy, hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, phát sinh và
phát triển đồng thời với tiến trình phát triển của xã hội loài người. Cùng với sự thay
đổi các hình thái kinh tế - xã hội đã có nhiều hình thái hôn nhân và gia đình tồn tại
và phát triển, hình thái gia đình thấp hơn bị thay thế bởi hình thái mới cao hơn:
Ở thời đại mông muội, có chế độ quần hôn; ở thời đại dã man, có chế độ
hôn nhân cặp đôi; ở thời đại văn minh, có chế độ một vợ một chồng được
bổ sung bằng tệ ngoại tình và nạn mại dâm. Ở giai đoạn cao của thời đại
dã man, thì giữa chế độ hôn nhân cặp đôi và chế độ một vợ một chồng, có
xen kẽ sự thống trị của người đàn ông đối với nữ nô lệ và chế độ nhiều vợ.
[1, tr.117]
Chính vì mang tính lịch sử, quan hệ HN&GĐ phản ánh các đặc điểm, đặc
trưng và có vai trò lịch sử nhất định đối với mỗi giai đoạn phát triển của xã hội. Tất
cả những điều đó được thực hiện thông qua các chức năng xã hội cơ bản của gia
đình: chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục và chức năng kinh tế. Việc duy trì tốt
các mối quan hệ trong gia đình mà nền tảng là quan hệ hôn nhân không những góp
phần mang lại những lợi ích của bản thân các thành viên trong gia đình mà còn gắn
liền với lợi ích của Nhà nước, của toàn xã hội. Nhà nước luôn phải sử dụng pháp
luật để điều chỉnh các khía cạnh của quan hệ HN&GĐ. Sự điều chỉnh này ở mỗi
Nhà nước, mỗi chế độ là khác nhau. Nó có thể là sự quy định rõ ràng bằng quy
phạm pháp luật hoặc thừa nhận bằng tập quán. Nhà nước đã kiểm soát được quyền
tự do kết hôn của công dân bằng cách đặt ra các quy định công dân phải xác lập
quan hệ vợ chồng như thế nào, tuân thủ những điều kiện, thủ tục gì. Điển hình
trong các quy định đó chính là quy định về kết hôn và điều kiện kết hôn.
Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 đã quy định về chế định
kết hôn nhưng không giải thích cụ thể về thuật ngữ “kết hôn”. Khắc phục điều này,
Luật HN&GĐ năm 2000 đã đưa ra định nghĩa “kết hôn là việc nam và nữ xác lập
quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết

- Thứ hai, đăng ký kết hôn là một trong các hoạt động quản lý hành chính
Nhà nước về công tác hộ tịch (khai sinh; khai tử; nhận cha, mẹ, con…) Bởi vậy
thực hiện tốt việc đăng ký kết hôn sẽ góp phần giúp cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền quản lý công tác hộ tịch ở địa phương.
- Thứ ba, việc cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận kết hôn là sự kiện
pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật HN&GĐ giữa vợ và chồng, bao gồm các
quan hệ về nhân thân và tài sản. Giấy chứng nhận kết hôn là cơ sở pháp lý để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng.
Mọi nghi thức kết hôn khác như tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc kết hôn theo
phong tục tập quán, tiến hành theo nghi lễ tôn giáo tại nhà thờ mà không có Giấy
chứng nhận kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp thì không được công
nhận là hợp pháp. Như vậy, việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký kết
hôn thì mới có giá trị pháp lý, hai bên nam nữ mới phát sinh quyền và nghĩa vụ
giữa vợ chồng với nhau.
Về thủ tục đăng ký kết hôn, Điều 14 Luật HN&GĐ quy định:
Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn. Đại diện
cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết
hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao
Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên.
Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27
tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo đó, việc đăng ký kết hôn
được quy định tại Mục 2, Chương II như sau:
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn là Ủy ban nhân dân cấp xã,
nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn (Điều 17)
Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải nộp tờ khai và xuất trình Giấy
chứng minh nhân dân.
Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu có đủ điều kiện
kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ thì hai bên nam nữ sẽ được ký vào Giấy
chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và
cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn. Trong trường

- Chung sống như vợ chồng trái pháp luật: là việc nam nữ chung sống như
vợ chồng không đăng ký kết hôn và không có đủ điều kiện để được kết hôn. Trong
thực tế, có những trường hợp vì nhiều nguyên nhân, lý do khác nhau mà nam nữ
muốn kết hôn khi một bên hoặc cả hai bên chưa đến tuổi kết hôn theo quy định của
pháp luật. Đối với các trường hợp này thì họ thường tổ chức “cưới chui”. Bởi vì,
bản thân nam nữ và gia đình biết rằng nếu có yêu cầu đăng ký kết hôn thì cơ quan
đăng ký kết hôn cũng sẽ từ chối việc đăng ký kết hôn cho họ. Hoặc có thể nam nữ
cũng đã yêu cầu được đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nhưng đã bị từ
chối. Cũng có thể là từ phía cha mẹ già muốn cho con yên bề gia thất để khi nhắm
mắt xuôi tay được yên lòng nên họ đã tổ chức lễ cưới cho con khi con chưa đến
tuổi kết hôn. Có thể, có trường hợp gia đình ít người, muốn có người để phụ giúp
việc nên đã lấy vợ, lấy chồng cho con khi con chưa đến tuổi kết hôn. Khi tổ chức
lễ cưới, có thể nam nữ hoặc gia đình có ý nghĩ rằng tổ chức lễ cưới trước rồi khi
nào đủ tuổi kết hôn sẽ đi đăng ký sau. Nhưng sau khi cưới, hai bên nam nữ lại
không có ý định đi đăng ký kết hôn nữa. Như vậy, chính họ đã coi quan hệ của
mình là vợ chồng, và bạn bè, hàng xóm cũng mặc nhiên coi họ là vợ chồng của
nhau.
Trước khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực, những trường hợp nam nữ
chung sống như vợ chồng có đủ điều kiện kết hôn mà không đăng ký kết hôn thì
được coi là “hôn nhân thực tế”, gọi là “hôn nhân” tức là Nhà nước đã thừa nhận đó
là quan hệ vợ chồng.
“Hôn nhân thực tế” là thuật ngữ chỉ quan hệ hôn nhân được xác lập trên cơ sở
các bên nam, nữ không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng có đủ
các điều kiện kết hôn. Dù không có Giấy chứng nhận kết hôn, các bên nam, nữ vẫn
chung sống với nhau như vợ chồng, thực hiện các quyền, nghĩa vụ với gia đình và
xã hội.
Theo quan điểm của nhà làm luật Việt Nam, đăng ký kết hôn là thủ tục pháp
lý bắt buộc, song trong một số trường hợp vẫn phải thừa nhận “hôn nhân thực tế”
xuất phát từ những lí do như: do tác động của điều kiện lịch sử trong thời gian đất
nước có chiến tranh; do ảnh hưởng của tôn giáo, phong tục, tập quán….Với những

rệt, do đó trình độ hiểu biết pháp luật nói chung và pháp luật HN&GĐ nói riêng
cũng được nâng cao; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được chú
trọng hơn đã góp phần đưa các quy định của pháp luật tới gần với nhân dân, ý thức
làm theo pháp luật của người dân được cải thiện;...
Xuất phát từ các cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, Điều 11 Luật HN&GĐ
năm 2000 khẳng định: “nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau
như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.”
Như vậy, quan điểm không công nhận là vợ chồng theo pháp luật đối với các
trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng từ sau ngày 01/01/2001 là hoàn toàn
đúng đắn, xét trên các góc độ:
- Thứ nhất, nếu thừa nhận hôn nhân thực tế, tức là cho phép xác lập quan hệ
vợ chồng mà không cần đăng ký kết hôn thì các quy định về việc đăng ký kết hôn
sẽ không bảo đảm được hiệu lực thi hành, tức là không bảo đảm được tính pháp chế
xã hội chủ nghĩa
- Thứ hai, việc thừa nhận hôn nhân thực tế sẽ gây ra những khó khăn, vướng
mắc trong việc giải quyết các tranh chấp về nhân thân và tài sản phát sinh từ quan
hệ HN&GĐ, làm cho tính thống nhất trong việc xét xử của Tòa án không được đảm
bảo.
- Thứ ba, việc thừa nhận “hôn nhân thực tế” sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả
của công tác quản lý Nhà nước về hộ tịch; việc quản lý hộ tịch và nhân khẩu ở địa
phương sẽ không tránh khỏi tình trạng lơi lỏng, bị bỏ xót.
Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 đã hoàn toàn có đủ cơ sở lý luận và thực
tiễn để không thừa nhận hôn nhân thực tế và bắt buộc thực hiện quy định về đăng
ký kết hôn. Tuy nhiên, để đạt được điều này thì bên cạnh quan điểm nhất quán
cũng cần phải thực hiện nhiều biện pháp mang tính hỗ trợ thiết thực như: không
ngừng tuyên truyền, giáo dục, giải thích về ý nghĩa của việc đăng ký kết hôn, tạo
mọi điều kiện để việc đăng ký kết hôn được dễ dàng, thuận lợi, đặc biệt là đối với
nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
1.2.2. Thực trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết
hôn ở Việt Nam hiện nay

Theo Chỉ thị số 02/2003/CT-BTP ngày 14/7/2003 của Bộ trưởng Bộ tư pháp
thì từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 cũng như các văn bản hướng dẫn áp dụng ra
đời, dưới sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, sự cố
gắng, nỗ lực của các cơ quan tư pháp địa phương, sự tham gia tích cực của các tổ
chức, đoàn thể quần chúng, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân cũng
như thực hiện nhiều hình thức đăng ký kết hôn phong phú như tổ chức ngày đăng
ký kết hôn, đăng ký lưu động tại thôn, ấp, bản, làng… nên các địa phương đã rà
soát, lập danh sách và đăng ký kết hôn cho phần lớn các trường hợp nam và nữ
chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01
tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện đăng ký kết hôn. Do vậy, số lượng các
trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đã được
giảm một cách đáng kể.
Tuy nhiên, do số lượng các trường hợp phải đăng ký kết hôn theo mục 3 Nghị
quyết số 35/2000/QH10 quá lớn, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại sự thiếu tích cực, chủ
động ở một số địa phương nên trong cả nước còn không ít trường hợp đã được rà
soát, lập danh sách nhưng chưa được đăng ký kết hôn.
Theo một vài số liệu thống kê: ở Lào Cai có tới 90% các cặp vợ chồng chung
sống với nhau mà không đăng ký kết hôn [21]; ở Điện Biên, con số của Sở Tư pháp
Điện Biên đưa ra là 35.022 cặp hôn nhân thực tế, 8000 cặp không đăng ký hoặc
không đủ điều kiện đăng ký kết hôn, tỉ lệ không đăng ký kết hôn tính trung bình là
19% [17]; ở Hải Phòng tính đến năm 2003 thì tỉ lệ này là 3,7% [16]…
Việc điều tra tình trạng chung sống như vợ chồng ở mỗi tỉnh để tìm ra được
một con số chính xác tỉ lệ các trường hợp chưa tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn có
thể được coi là bất khả thi, bởi chỉ tới khi các bên có mâu thuẫn và yêu cầu Tòa án
giải quyết thì lúc đó quan hệ chung sống như vợ chồng của họ mới thực sự được
làm rõ.
Chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ mang tính quy luật của tự nhiên,
đó là sự hướng tới nhau, gắn bó và liên kết giữa hai loài khác giống [1, tr.130] do
đó nó đã, đang và sẽ tồn tại trong xã hội của chúng ta. Mặt khác, đây cũng là một
quan hệ bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục, tập

trên mạng bằng chat voice (nói chuyện qua internet), chat webcam (vừa nói chuyện
vừa xem hình của “đối phương” qua internet); thêm vào đó là các website tìm bạn,
tìm người yêu qua mạng,… đã tạo điều kiện cho nam nữ tiếp cận nhau nhanh hơn,
dễ dàng hơn từ đó góp phần đẩy nhanh số lượng nam, nữ chung sống như vợ
chồng.
Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa - hiện đại hoá càng
ngày càng gia tăng thêm nhiều áp lực đến mỗi cá nhân và mỗi gia đình như áp lực
việc làm, cạnh tranh lao động; sự thích nghi với mọi môi trường, hoàn cảnh. Với
gia đình, càng ngày xu hướng tách rời, độc lập giữa con cái, cha mẹ, các thế hệ
trong gia đình với nhau càng rõ nét. Thế nên, một cá nhân dễ dàng thiết lập một
mối quan hệ mới và cũng dễ dàng phá vỡ nó.
Những phân tích trên cho thấy, sự phát triển của tình hình kinh tế - xã hội
được thúc đẩy bởi xu thế hội nhập kinh tế, toàn cầu hóa đã tạo ra hàng loạt các yếu
tố cùng tác động đến mỗi cá nhân, mỗi gia đình. Đó là những cơ sở, điều kiện để
cho việc chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn ngày càng gia tăng.
* Do ảnh hưởng của phong tục tập quán, hủ tục lạc hậu
Trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, mặc dù trình độ văn hóa nói chung
cao hơn, song ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thì trình độ văn hóa vẫn
còn thấp, đời sống HN&GĐ của một số đồng bào dân tộc thiểu số còn bị chi phối
nặng nề của phong tục tập quán do đó ảnh hưởng của các quy định pháp luật tới
nhận thức của đồng bào chưa rõ rệt, đồng bào còn chưa thấy rõ được ý nghĩa của
việc đăng ký kết hôn đối với quan hệ vợ chồng. Cuộc sống của vợ chồng phần
nhiều được quyết định theo phong tục tập quán, quan niệm đạo đức truyền thống.
Những phong tục tập quán đó có dấu ấn sâu sắc trong đời sống của đồng bào dân
tộc, một mặt nó tạo ra bản sắc dân tộc riêng, nhưng mặt khác nó cũng gây ra những
cản trở nhất định đến việc tiếp nhận các quy phạm pháp luật, tiếp nhận những nét
văn hóa mới. Có thể kể ra một số phong tục cưới xin hiện nay được coi là trái với
quy định của pháp luật HN&GĐ, nhưng nó vẫn đã và đang tồn tại, ăn sâu vào đời
sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
Luật tục của người Ê đê ở Tây Nguyên có phong tục khi cưới vợ, cưới chồng

chung sống để giúp đỡ nhau nhưng do e ngại với những người khác về tình trạng
“rổ giá cạp lại” nên đã không đăng ký kết hôn.
- Trong thực tế có không ít trường hợp khi bản án ly hôn của Tòa án có hiệu
lực một thời gian thì họ lại quay trở về chung sống với nhau. Về nguyên tắc, vợ
chồng đã ly hôn mà muốn quay lại với nhau thì phải đăng ký kết hôn. Tuy nhiên,
do ngại ngùng hoặc không ý thức được sự cần thiết của việc đăng ký kết hôn nên
họ quyết định không đi đăng ký kết hôn nữa mà về chung sống lại với nhau.
- Có một xu hướng khác, nhất là trong giới trẻ, họ cảm thấy mệt mỏi với
những mối quan hệ chặt chẽ của hôn nhân hợp pháp, không muốn đăng ký kết hôn
để có thể có một lối ra dễ dàng khi họ không muốn ràng buộc nhau nữa.
- Tình trạng nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
còn xảy ra ở một bộ phận sinh viên ra các tỉnh, thành phố lớn để học tập. Do sống
xa nhà, thiếu thốn cả về điều kiện vật chất và tinh thần. Họ đã chọn giải pháp chung
sống như vợ chồng để giải quyết những khó khăn của mình.
- Cuối cùng, phải kể đến đó là những trường hợp nam nữ do không có đủ điều
kiện kết hôn theo luật định như: trường hợp đã có vợ, có chồng nhưng lại muốn
chung sống với người khác; hay trường hợp nam, nữ chưa đủ tuổi kết hôn nên
muốn “cưới chui”,… Tất cả những lý do đó khiến cho họ đi đến quyết định chung
sống với nhau như vợ chồng mà bỏ qua thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền
của Nhà nước.
* Do các quy định của pháp luật chưa hiệu quả
Nguyên tắc “không thừa nhận hôn nhân thực tế” được quy định ở Điều 11
Luật HN&GĐ năm 2000. Tiếp theo đó là hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật HN&GĐ: Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội;
Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001
của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp… Như
vậy là các quy định pháp luật đã rất rõ ràng, chi tiết nhưng tại sao số lượng các
trường hợp không đăng ký vẫn gia tăng, thậm chí với số lượng ngày một nhanh.
Phải chăng quy định của pháp luật chưa thực sự hiệu quả và chưa dự liệu được hết
thực tế cuộc sống? Có thể thấy các văn bản dưới luật nói trên đều quy định rõ ràng

của đất nước hiện nay đã phát triển nhưng tình trạng chung sống như vợ chồng vẫn
đang gia tăng và có tác động xấu đến đời sống gia đình và xã hội.

1.3. PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ VẤN ĐỀ NAM
NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG
Thế kỷ 21 là thế kỷ mà quyền tự do cá nhân được đề cao hơn bao giờ hết. Ở
hầu hết các nước trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, hiện tượng nam nữ chung
sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đang diễn ra phổ biến. Do điều kinh
tế, chính trị, xã hội của từng nước là khác nhau nên việc nhìn nhìn nhận của pháp
luật mỗi nước về vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng là khác nhau.
1.3.1. Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở Anh
quốc
Tại Anh, hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng được điều chỉnh bởi
pháp luật HN&GĐ.
Sự chung sống như vợ chồng của những phụ nữ đã ly hôn trước khi kết hôn
lần thứ hai gần như là quy tắc xử sự hiện nay, áp dụng cho 70% các trường hợp kết
hôn như vậy. Bên cạnh đó, những phụ nữ chưa một lần kết hôn chung sống như vợ
chồng với một người nam giới trước khi họ tiến hành kết hôn ngày càng trở thành
phổ biến, từ 7% năm 1970 tăng đến 48% vào năm 1987 [20]. Cho đến nay, con số
này còn tăng lên nhiều.
Từ thực tế đó, Quốc hội Anh đã ban hành những đạo luật khác nhau dẫn đến
sự thay đổi về mức độ công nhận đối với hiện tượng chung sống như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn ở công dân.
Trước đây, pháp luật Anh không công nhận những người ăn ở với nhau như
vợ chồng mà không kết hôn là vợ chồng, dưới góc độ pháp luật các bên chung sống
như vợ chồng không có tư cách pháp lý của các cặp đã kết hôn, vì vậy mối quan hệ
giữa họ không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật HN&GĐ, đồng thời những
người chung sống như vợ chồng mà không kết hôn cũng không chịu sự điều chỉnh
của bất kỳ một đạo luật hoặc một quy chế pháp lý nào. Do vậy, giữa họ không phát
sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với nhau.

nhận và các bên phải có nguyện vọng được kết hôn với nhau [20].
Như vậy, về mặt pháp lý nhà làm luật phủ định tính hợp pháp của hiện tượng
nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, xuất phát
từ quan điểm coi hôn nhân là một hợp đồng, sự tự do, tự nguyện của các bên nam,
nữ là yếu tố quyết định thì nhà làm luật vẫn tiếp tục thừa nhận “hôn nhân thực tế”
mặc dù quan điểm này không phải là phổ biến ở hầu khắp 50 bang ở nước Mỹ.
1.3.3. Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở
Australia
Quan hệ HN&GĐ ở Australia chỉ thuộc phạm vi điều chỉnh của nhà thờ cho
tới khi đạo luật về HN&GĐ đầu tiên “Marriage Act” ra đời năm 1961. Từ đó, các
khía cạnh của quan hệ hôn nhân mới được thể hiện rõ ràng bằng những quy định cụ
thể. Pháp luật Australia quy định nam nữ muốn trở thành vợ chồng phải tiến hành
hôn lễ tại nhà thờ hoặc tại cơ quan nhà nước. Sự tuyên bố của nhà thờ hoặc Giấy
chứng nhận của cơ quan nhà nước có giá trị pháp lý trong việc khẳng định rằng
quan hệ hôn nhân đã phát sinh hiệu lực.
Như vậy, trên nguyên tắc pháp luật Australia không công nhận các bên chung
sống như vợ chồng mà không tiến hành hôn lễ tại nhà thờ hoặc tại cơ quan nhà
nước là vợ chồng. Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm của pháp luật Australia coi
hôn nhân là hợp đồng nên cũng công nhận quan hệ vợ chồng đối với những trường
hợp các bên ký kết một hợp đồng sống chung với nhau gọi là “cohabitation
contract”. Khi hợp đồng sống chung giữa các bên được ký kết thì các bên có tư
cách là vợ chồng của nhau. Nếu trong hợp đồng có những điều khoản trái với đạo
đức, chính sách công cộng thì điều khoản đó sẽ không phát sinh hiệu lực, còn hợp
đồng sống chung thì vẫn có giá trị pháp lý. Đối với các trường hợp này quan hệ hôn
nhân được phát sinh do hợp đồng.
1.3.4. Sự điều chỉnh đối với quan hệ chung sống như vợ chồng ở Pháp
Nhà làm luật của Pháp quan niệm hôn nhân đồng thời mang hai tính chất: hợp
đồng dân sự và thiết chế pháp luật.
- Điều 194 Bộ luật dân sự quy định:
Không ai có thể được đòi hỏi danh nghĩa vợ, chồng và các hệ quả dân sự

người sẽ được trao cho một bản chính giấy chứng nhận kết hôn công nhận hai bên
là vợ chồng của nhau.
Giấy chứng nhận kết hôn (Giấy đăng ký kết hôn) là chứng chỉ do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn cấp cho hai bên nam nữ, sau khi
đã xem xét các điều kiện kết hôn của họ là hợp pháp, tổ chức đăng ký kết
hôn theo nghi thức luật định và ghi nhận sự tự nguyện kết hôn để trở thành
vợ chồng của họ. Giấy chứng nhận kết hôn là chứng cứ viết, xác nhận
giữa hai bên nam nữ đã phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng. Quan hệ
này được Nhà nước công nhận và quy định các biện pháp bảo hộ. [12,
tr.304]
Việc được cấp Giấy chứng nhận kết hôn mang giá trị pháp lý to lớn, đó là:
- Việc tiến hành nghi thức đăng ký kết hôn cho hai bên nam nữ do cơ quan
đăng ký kết hôn thực hiện và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho họ có ý nghĩa rất
quan trọng. Đây được coi là biện pháp để Nhà nước kiểm soát việc tuân thủ pháp
luật trong quá trình thực hiện kết hôn của công dân, ngăn chặn hiện tượng vi phạm
các điều kiện kết hôn mà pháp luật đã quy định, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho
hai bên nam, nữ khi thiết lập quan hệ vợ chồng.
- Giấy chứng nhận kết hôn còn là bằng chứng bắt buộc để Tòa án xem xét và
thụ lí giải quyết khi vợ chồng muốn ly hôn. Trường hợp vợ chồng đã ly hôn, muốn
tái hợp lại, phải cùng nhau đi đăng ký kết hôn lại để được cấp Giấy chứng nhận kết
hôn mới, khi đó, họ mới được công nhận là vợ chồng hợp pháp.
- Việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh
quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung cũng như quan hệ vợ chồng nói riêng. Bao
gồm những quyền, nghĩa vụ về nhân thân và các quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ
và chồng.
2.1.2. Những ảnh hưởng của việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn tới quan hệ vợ chồng
Giả sử mọi cuộc hôn nhân đều diễn ra một cách êm đẹp, các bên nam nữ thật
sự yêu thương, gìn giữ được mối quan hệ vợ chồng lâu dài, mục đích hôn nhân đạt
được thì việc có đăng ký kết hôn hay không không trở thành vấn đề nghiêm trọng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status