MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ..................................................................................1
I. Cơ sở lí luận..................................................................................................1
II. Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất..................3
1. Bình đẳng về tạo lập và phát triển tài sản chung hợp nhất......................4
2. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung hợp nhất............6
3. Bình đẳng về chia tài sản chung hợp nhất...............................................8
III. Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật............................................9
C. KẾT LUẬN....................................................................................................10
Danh mục tài liệu tham khảo...............................................................11
A. LỜI MỞ ĐẦU.
Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn, tức là sự liên kết
giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn bình
đẳng và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt
đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững. Từ đó, ta
có thể thấy sau khi kết hôn, quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng phát sinh mà cụ
thể hơn đó là các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng về nhân thân và về tài
sản. Các quan hệ này được pháp luật bảo hộ trên cơ sở tiến bộ - bình đẳng.
Nguyên tắc bình đẳng vợ chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan
trọng của luật Hôn nhân và gia đình, trong đó có quyền bình đẳng của vợ chồng
đối với tài sản chung hợp nhất. Việc quy định rõ ràng về quyền bình đẳng giữa
vợ và chồng đối với tài sản chung hợp nhất sẽ giúp bảo vệ quyền và lợi ích của
cả hai bên vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân đồng thời góp phần giảm những
tranh chấp, xung đột giữa vợ và chồng về tài sản đặc biệt là tài sản chung hợp
nhất.
B. NỘI DUNG CHÍNH.
Về tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy
định tại Điều 27 đó là:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập
do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung
hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài
sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn,
được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
3
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật
quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu
phải ghi tên của cả vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng
đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản
chung.”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 219 Bộ luật dân sự, tài sản chung của vợ
chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất hay gọi là tài sản chung hợp nhất vợ chồng.
Điều 127 Bộ luật dân sự quy định “Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà
trong đó phần quyền của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài
sản chung… Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau
đối với tài sản thuộc tài sản chung”.
Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt thì bình đẳng có nghĩa là ngang hàng
với nhau về địa vị, quyền lợi hay một mặt nào khác của xã hội. Theo đó thì
quyền bình đẳng giữa của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất là việc pháp
1. Bình đẳng về tạo lập và phát triển tài sản chung hợp nhất vợ chồng.
Căn cứ để xác lập tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng dựa
trên cơ sở hôn nhân. Kể từ khi kết hôn, trong suốt thời kỳ hôn nhân, toàn bộ
những tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra đều thuộc khối tài sản chung của vợ
chồng. Khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ghi nhận:
“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung
hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài
sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản
chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi
kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận”.
Qua việc quy định về việc tạo lập và phát triển tài sản chung hợp nhất vợ
chồng của luật hôn nhân gia đình ta có thể thấy quyền bình đẳng giữa vợ và
5
chồng đối với tài sản chung thể hiện ở việc: tài sản chung đó không nhất thiết
phải do cả hai vợ chồng cùng tạo ra một cách trực tiếp mà có thể do một bên vợ
hoặc chồng tạo ra và cũng không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi
bên, việc tạo lập và phát triển khối tài sản chung này không đòi hỏi các bên phải
đóng góp một số tài sản bằng nhau nhất định nào mà dựa vào khả năng và
nhiệm vụ của mỗi bên trong cuộc sống gia đình, tất cả những tài sản được tạo ra
hay thu nhập hợp pháp của vợ hay chồng trong thời kì hôn nhân đều trở thành
tài sản chung mà không phân biệt việc ai làm ra số tài sản nhiều hơn. Với những
tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, thừa kế chung, vợ và chồng đều bình
đẳng và có quyền ngang nhau đối với tài sản này vì vậy việc nó được đóng góp
vào khối tài sản chung hợp nhất đã thể hiện quyền bình đẳng của vợ chồng. Có
thể thấy sự bình đẳng trong việc tạo lập tài sản chung hợp nhất vợ chồng xuất
phát từ chính tính chất đặc biệt của cuộc sống vợ chồng. Được gắn kết bởi mối
và khoản 1 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Vợ, chồng có quyền
và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung.”
Như đã phân tích ở trên, vợ chồng bình đẳng với nhau trong tạo lập và phát
triển tài sản chung hợp nhất của vợ chồng, do điều kiện sức khoẻ, nghề nghiệp,
công việc của mỗi bên khác nhau, thu nhập có sự chênh lệch, dẫn đến công sức
đóng góp thực tế cho việc tạo dựng tài sản chung của vợ chồng khác nhau, thậm
chí một bên vợ chồng không có thu nhập do đau yếu, tật nguyền, không có khả
năng lao động để tạo thu nhập hoặc chỉ làm công việc nội trợ gia đình. Tuy
nhiên, điều đó không có nghĩa là bên có thu nhập thấp hơn lại không có quyền
sở hữu bình đẳng hoặc phụ thuộc vào bên có thu nhập cao hơn, ngược lại, hai
vợ chồng vừa bình đẳng về tạo lập và phát triển tài sản chung vừa bình đẳng với
nhau về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.
Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân, cả hai vợ chồng đều phải cùng
nhau hướng tới một mục đích chung, lợi ích của gia đình vì vậy khi thực hiện
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung cũng phải gắn liền với mục
đích, nhu cầu chung của gia đình. Khoản 2 Điều 28 Luật hôn nhân gia đình năm
7
200 cũng đã quy định: “Tài sản chung của vợ chồng được chỉ dùng để bảo đảm
nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.” Để thực
hiện điều đó, vợ và chồng luôn phải bình đẳng và thống nhất với nhau khi thực
hiện các quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.
Khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Việc xác
lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá
trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để
đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung
đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của
Luật này”. Khoản 3 Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định: “Vợ
3. Bình đẳng về phân chia tài sản chung hợp nhất.
Theo quy định của Luật hôn và gia đình Việt Nam năm 2000 thì tài sản
chung của vợ chồng có thể được phân chia trong ba trường hợp: Chia tài sản
hcung khi hôn nhân đang tồn tại (Điều 29); chia tài sản chung khi vợ chồng li
hôn (từ Điều 95 đến 98); chia tài sản chung khi một bên vợ hoặc chồng chết.
Trong cả ba trường hợp này quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản
chung đều được pháp luật tôn trọng và bảo vệ khi nguyên tắc “chia đôi” được
áp dụng.
Trong việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, khi hôn nhân còn tồn
tại, trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự
riêng, hoặc có lí do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản
chung. Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng thể hiện ở việc cả hai vợ chồng đều
có thể yêu cầu chia tài sản chung, và việc chia tài sản này phải được sự đồng ý,
thỏa thuận của bên còn lại, việc chia tài sản chung này thực hiện theo nguyên
tắc “chia đôi”.
Trường hợp chia tài sản chung vợ chồng khi li hôn, nguyên tắc chia tài sản
chung được quy định tại Điều 95 luật hôn nhân và gia đình theo đó quyền bình
đẳng của vợ chồng đã được tôn trọng ở việc các bên có thể thỏa thuận với nhau
về việc chia tài sản chung, nếu hai bên không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án
giải quyết. Quyền bình đẳng của vợ chồng trong chia tài sản chung khi li hôn
9
còn thể hiện ở nguyên tắc chia tài sản, theo đó tài sản chung của vợ chồng khi li
hôn sẽ chia đôi cho cả hai, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng
tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên trong tạo lập, duy trì, phát triển tài sản
này.
Trường hợp chia tài sản chung vợ chồng thứ ba là khi một bên vợ hoặc
chồng chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết, khi đó nguyên tắc chia đôi tài sản
chung được áp dụng, quyền bình đẳng của vợ và chồng trong việc chia tài sản
bạc, thỏa thuận. Tuy nhiên, luật lại không quy định rõ “giá trị lớn” ở đây là bao
nhiêu, ngay cả trong nghị định 70/2001/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Hôn nhân
gia đình năm 2000 cũng chỉ quy định tại khoản 3 Điều 4 là “Tài sản chung có
giá trị lớn của vợ chồng nói tại khoản 1, khoản 2 Điều này được xác định căn
cứ vào phần giá trị của tài sản đó trong khối tài sản chung của vợ chồng”. Việc
quy định không cụ thể như vậy, có thể khiến một trong hai bên vợ hoặc chồng
lạm dụng tài sản chung để dùng vào những mục đích riêng, gây thiệt hại cho
bên còn lại. Để đảm bảo sự bình đẳng cũng như bảo vệ quyền lợi của các bên
trong quan hệ hôn nhân đối với tài sản chung vợ chồng, pháp luật cần có một
quy định cụ thể, chính xác về điều này.
C. KẾT LUẬN.
Với tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân, hai vợ chồng cùng nhau thực
hiện mục đích chung vì lợi ích của gia đình. Vì vậy quyền bình đẳng của vợ và
chồng đối với tài sản chung hợp nhất cũng như những quy định của pháp luật để
đảm bảo quyền bình đẳng này có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bình đẳng
giữa vợ và chồng sẽ giúp gia đình hòa thuận, phát triển từ đó góp phần xây
dựng xã hội giàu mạnh, tốt đẹp, văn minh.
11
Danh mục tài liệu tham khảo.
1. Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Nxb Công An nhân dân, Hà Nội , 2009.
2. Luật Hôn nhân gia đình năm 2000.
3. Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
4. Th.s Bùi Thị Mừng, bài viết “Bảo vệ quyền của người phụ nữ đối với tài
sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình