Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật Hôn nhân gia đình hiện hành - Pdf 26

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan hệ kinh tế quốc tế là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự
hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới, các xu hướng vận động của
quan hệ kinh tế quốc tế rất đa dạng, nhưng nổi bật trong giai đoạn hiện nay là
hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập kinh tế khu vực. Quá trình hội nhập này chi
phối sự phát triển của tất cả các quốc gia, có thể tạo ra những tác động tích cực
cũng như gây ra tác động tiêu cực đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
Là một khu vực có vị trí chính trị, kinh tế quan trọng, châu Á - Thái Bình
Dương cũng không nằm ngoài xu hướng chung này. Trong mấy chục năm qua,
châu Á - Thái Bình Dương đã nổi lên là một khu vực phát triển kinh tế năng
động, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế và chính trị thế giới.
Từ nửa cuối những năm 1980 của thế kỷ XX, để duy trì tính năng động kinh tế
của khu vực, đối phó với sự canh tranh ngày càng cao về kinh tế trên thế giới,
một số nước châu Á - Thái Bình Dương đã liên kết với nhau tạo ra nền thương
mại và đầu tư quốc tế thông thoáng. Trong bối cảnh đó, Diễn đàn hợp tác kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được thành lập vào tháng 11 năm 1989 tại
Canberra (Australia).
Việt Nam đã là thành viên của APEC từ năm 1998, đã có nhiều cơ hội
thuận lợi và nhất là những bài học kinh nghiệm về hội nhập quốc tế, nhưng cũng
phải đối diện với những khó khăn thách thức rất lớn khi tham gia APEC. Do
vậy, việc duy trì môi trường hoà bình ổn định và tăng cường hợp tác cùng có lợi
với các nước trong khu vực có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần vào sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
APEC là một thực thể đa dạng, qua hơn một thập kỷ tồn tại, phát triển đã
từng bước lớn mạnh và đến nay đã có 21 thành viên với trình độ phát triển kinh
tế khác nhau. Đối với APEC, chúng ta đã và sẽ tiếp tục đưa ra các cam kết trong
kế hoạch hành động quốc gia hàng năm, đồng thời tham gia ngày càng sâu vào
1

Nam và APEC.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Một số nội dung pháp lý về hợp tác kinh tế- thương mại giữa Việt Nam và
APEC.
- Hợp tác kinh tế- thương mại giữa Việt Nam và các nước APEC.
- Thực trạng và giải pháp về hợp tác kinh tế- thương mại Việt Nam và APEC.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo được sử dụng trong Khoá luận là tổng
hợp, phân tích, so sánh dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trong quá trình nghiên cứu, còn sử dụng các số liệu về phát triển kinh tế
của các nước thành viên APEC, về các sự kiện lịch sử trong quá trình hình thành
và hoạt động của APEC.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Khoá luận
Khoá luận sẽ làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn của mối quan
hệ hợp tác kinh tế- thương mại giữa Việt Nam và APEC. Hiểu hơn nữa về Diễn
đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, thấy được thực trạng kinh tế
nước nhà, giúp chúng ta có một cái nhìn đúng đắn, tổng thể về tình hình kinh tế
và tiến trình hội nhập APEC.
Khoá luận còn nêu lên một số vấn đề đặt ra, chỉ ra mối liên hệ và tác động
qua lại của quá trình hội nhập APEC, từ đó đưa ra ý kiến đề xuất là những việc
cần thiết phải làm trong thời gian tới, nhằm đẩy mạnh phát triển mối quan hệ
hợp tác này, đưa đất nước phát triển.
5. Kết cấu Khoá luận
Khoá luận bao gồm: Lời nói đầu, Nội dung và Kết luận
Phần Nội dung gồm có 3 chương:
Chương I. Cơ sở pháp lý của hợp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam
và APEC.
Chương II. Một số nội dung pháp lý về hợp tác kinh tế - thương mại giữa

mại và đầu tư trong khu vực cũng tăng rất nhanh. Những năm 1980 - 1991 mức
tăng trưởng bình quân hàng năm về mậu dịch trong nội bộ khu vực châu Á -
Thái Bình Dương lên tới 9,51%, cao hơn tốc độ bình quân 5,61% hàng năm của
mậu dịch thế giới cùng thời gian đó [1, tr. 24].
Các hình thức hợp tác song phương và đa phương về đầu tư, thương mại,
chuyển giao kỹ thuật, xuất khẩu lao động cũng phát triển rất nhanh, đặc biệt là
đối với các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có cường quốc kinh tế mạnh nhất
thế giới đó là Mỹ, có vị trí ở khu vực Bắc Mỹ, nằm giữa Canada và Mexico,
giáp bắc Thái Bình Dương và bắc Đại Tây Dương, với nguồn vốn lớn, kỹ thuật
hùng hậu, thêm vào đó là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và thị trường
tiêu thụ rộng lớn, kim ngạch xuất nhập khẩu vào loại cao nhất thế giới. Ở châu
Á, Trung Quốc là một nước có diện tích lớn, nguồn tài nguyên thiên nhiên tương
đối phong phú, nhiều chủng loại, hơn nữa có nguồn lao động dồi dào. Ngoài ra
cũng phải kể đến các nước ASEAN và các nước Đông Dương: có nguồn tài
nguyên và lao động tương đối phong phú, lại thiếu vốn và kỹ thuật, là điểm đến
của các nhà đầu tư trên thế giới. “ASEAN cũng là đối tượng thu hút nhiều vốn
đầu tư của thế giới, vào cuối những năm 1980 bình quân hàng năm tranh thủ
được 13,5 tỷ USD, so với 4,6 tỷ USD vào đầu những năm 1980” [2, tr. 7].
Một nhân tố góp phần không nhỏ vào sự phát triển của ASEAN là sự hợp
tác giữa các nước thành viên và các nước ở bên ngoài, chủ yếu là các nước được
gọi là “đối thoại” bao gồm Mỹ, Canada, Nhật, Australia, Niu Zealand, Liên
minh châu Âu, Hàn Quốc. Các quốc gia trong khu vực có những lợi thế so sánh
khác nhau, có thể bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cùng tồn tại và phát triển. Bên cạnh
các yếu tố sản xuất và kết cấu ngành nghề khác nhau, thì sự ổn định tương đối
về chính trị trong mỗi quốc gia là hết sức quan trọng trong việc tạo ra tiền đề
xúc tiến hợp tác kinh tế khu vực, “các nước Đông Nam Á có trách nhiệm chính
trong việc tăng cường ổn định kinh tế và xã hội của khu vực” [3, tr. 23]. Các
quốc gia sẽ phải tăng cường hợp tác kinh tế với quan điểm hướng ngoại, làm cho
sự hợp tác đó đóng góp vào việc thúc đẩy tự do hoá thương mại toàn cầu.

định dần các lĩnh vực cần đưa ra hợp tác ở cấp khu vực và thành lập các uỷ ban,
nhóm chuyên gia, nhóm công tác. Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ nhất ở
Canberra 1989 mới chỉ đưa ra 2 lĩnh vực hoạt động, Hội nghị Bộ trưởng lần thứ
hai ở Singapore 1990 đã đưa ra 7 lĩnh vực hợp tác, Hội nghị Bộ trưởng APEC
lần thứ ba 1991 tại Seoul (Hàn Quốc) đã bổ sung thêm 3 lĩnh vực hoạt động. Tại
hội nghị này, tự do hoá mậu dịch và thương mại là một nội dung quan trọng, đề
xuất việc tham khảo nguyên tắc của GATT để thúc đẩy tự do hoá, đồng thời
cũng nhấn mạnh tính quan trọng của việc mở cửa phát triển kinh tế, hợp tác
khoa học - kỹ thuật.
1.2.2. Giai đoạn từ 1993 - 1998
Chú trọng vào tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư với việc xây
dựng các văn kiện nền tảng. Tại hội nghị không chính thức các nhà lãnh đạo
kinh tế APEC (AELM) lần đầu tiên tại Xiatơn (Mỹ) tháng 11/1993 đã đề ra viễn
cảnh: “Tinh thần cộng đồng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương” làm thay
đổi căn bản cơ cấu tổ chức của APEC, hình thành cơ cấu quyết sách ba tầng:
Hội nghị quan chức cao cấp, Hội nghị Bộ trưởng, Hội nghị cấp cao. Những
quyết định quan trọng phải được Hội nghị cấp cao quyết định.
Hội nghị cấp cao lần thứ 2 ở Bogor (Indonesia) tháng 11 năm 1994 đã có
cống hiến quan trọng cho việc thúc đẩy APEC phát triển theo chiều sâu, cụ thể
hoá kế hoạch đưa ra tại hội nghị Xiatơn. “Tuyên bố Bogor” đưa ra thời gian biểu
thực hiện tự do hoá mậu dịch và đầu tư khu vực châu á - Thái Bình Dương đối
với các thành viên phát triển không muộn hơn năm 2010, các thành viên đang
phát triển không muộn hơn năm 2020.
Hội nghị cấp cao lần thứ 3 tại Osaka - Nhật Bản năm 1995 đã thông qua
“chương trình hành động Osaka” với ba nội dung chính: tự do hoá thượng mại
và đầu tư, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế - kỹ thuật.
Hội nghị cấp cao lần thứ 4 tại Manila - Philippin tháng 11 năm 1996 với
chủ đề chính: “Từ tầm nhìn đến hành động”đã thông qua kế hoạch hành động
quốc gia (IAP) và kế hoạch hành động tập thể (CAP).
Hội nghị cấp cao lần thứ 5 tại Vacuvơ (Canada) tháng 11 năm 1997 xác

xác định chủ đề chính: “Thế giới của những khác biệt” “Đối tác vì tương lai”
thông qua tiêu chuẩn minh bạch hoá trong tám lĩnh vực cụ thể gồm: dịch vụ, đầu
tư, luật và chính sách cạnh tranh, tiêu chuẩn và hợp chuẩn, sở hữu trí tuệ, thủ tục
hải quan, tiếp cận thị trường, đi lại của doanh nhân.
Hội nghị cấp cao lần thứ 12 tại Xantiago (Chilê) tháng 11/2004 chủ đề
chính: “Một cộng đồng - tương lai của chúng ta” khẳng định quyết tâm trong
việc thúc đẩy sự thịnh vượng và tăng trưởng bền vững của các nền kinh tế thành
viên.
Hội nghị cấp cao lần thứ 13 tại Busan (Hàn Quốc) năm 2005 xác định chủ
đề chính: “Hướng tới một cộng đồng: đối mặt với thách thức, tạo ra sự thay
đổi”.
Hội nghị cấp cao lần thứ 14 tại Hà Nội (Việt Nam) năm 2006 với chủ đề:
“Hướng tới cộng đồng APEC năng động vì ổn định và phát triển” thể hiện mục
tiêu trước mắt của APEC là “Năng động, ổn định và phát triển” vừa bao hàm
tầm nhìn của APEC trong tương lai là “Hướng tới một cộng đồng”. Tại hội nghị
này, các ưu tiên đã được APEC 2006 thông qua: Tăng cường và thúc đẩy hợp
tác thương mại, đầu tư, phát triển bền vững; an ninh con người; phòng chống
dịch cúm gia cầm; phát triển nguồn nhân lực; nâng cao năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ; cải cách APEC; chống tham nhũng; liên kết giữa
các thành viên APEC thông qua du lịch và văn hoá. Có thể nói, các ưu tiên hợp
tác của APEC thể hiện trên nhiều lĩnh vực theo tôn chỉ mục đích của APEC,
thúc đẩy thịnh vượng và phát triển trong khu vực vì lợi ích và an ninh của người
dân và doanh nghiệp.
Chủ trì năm APEC 2006 và tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh APEC lần thứ
14 là vinh dự của Việt Nam, góp phần khẳng định vai trò của Việt Nam trong
APEC, trên trường quốc tế.
Hội nghị Thượng đỉnh APEC lần thứ 15 sẽ được tổ chức tại Australia.
Như vậy, qua hơn một thập kỷ tồn tại và phát triển, từ một Diễn đàn tư
vấn kinh tế với cơ chế hoạt động lỏng lẻo, APEC đã từng bước lớn mạnh và đến
nay đã có 21 thành viên. Nội dung hoạt động trong từng năm APEC đều được cụ

(doanh nghiệp vừa và nhỏ).
2.1.2. Cấp chuyên viên
- Uỷ ban thương mại và đầu tư (CTI)
- Uỷ ban kinh tế (EC)
- Uỷ ban quản lý và ngân sách (BMC)
- Uỷ ban điều hành SOM về hợp tác kinh tế và kỹ thuật (ESC)
Để triển khai các nhiệm vụ và mục tiêu hợp tác kinh tế- thương mại trong
APEC, do các nhà lãnh đạo kinh tế giao phó theo từng giai đoạn, hoặc từng năm
công tác, APEC thành lập các tiểu ban và nhóm công tác trực thuộc Uỷ ban
thương mại và đầu tư và Uỷ ban kinh tế (EC) dưới sự chỉ đạo chung của SOM.
APEC hiện có 11 tiểu ban trực thuộc CTI là: Tiếp cận thị trường bao gồm
lĩnh vực thuế và phi thuế; dịch vụ; đầu tư; sở hữu trí tuệ; tiêu chuẩn và hợp
chuẩn; thủ tục hải quan; chính sách cạnh tranh và cải cách cơ chế; đi lại của
doanh nhân; giải quyết tranh chấp; nhóm xây dựng năng lực WTO; mua sắm
Chính phủ... và một số nhóm công tác trực thuộc SOM như: Nhóm chuyên gia
về kỹ thuật nông nghiệp; năng lượng; nghề cá; phát triển nguồn nhân lực; khoa
học công nghệ công nghiệp; du lịch; xúc tiến thương mại; giao thông vận tải;
doanh nghiệp vừa và nhỏ và bảo tồn tài nguyên biển v.v…
Ngoài ra còn một số các mạng lưới, tiến trình, tổ hợp, diễn đàn khác trong
APEC bao gồm: Mạng lưới đầu mối liên hệ về giới; Mạng lưới đầu mối liên hệ
về văn hoá; Tiến trình Bộ trưởng tài chính; Tổ hợp tác trung tâm nghiên cứu
APEC; Diễn đàn về đổi mới khoa học đời sống; Hệ thống thực phẩm APEC.
2.1.3. Ban thư ký
Làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội nghị quan chức cấp cao và có
quan hệ thông tin liên lạc trực tiếp, thường xuyên với các nền kinh tế thành viên,
các uỷ ban, các nhóm công tác và nhóm đặc trách của APEC.
Nhiệm vụ mang tính chất hành chính, phục vụ các hội nghị của APEC,
theo dõi việc triển khai các dự án.
2.1.4. Cơ chế hoạt động của APEC
APEC hoạt động như một diễn đàn hợp tác kinh tế và thương mại đa

gia sẽ đưa ra các cam kết một cách tự nguyện về tự do hoá thuế quan, phi thuế
quan, dịch vụ và đầu tư phù hợp với nguyên tắc của WTO, giúp các nền kinh tế
thành viên củng cố nền kinh tế của mình, thông qua việc chia sẻ ý kiến và mang
lại nhiều lợi ích cho hoạt động hợp tác kinh tế trong APEC.
* Thuận lợi hoá kinh doanh
Một trong những mục tiêu chính của APEC chính là việc tạo thuận lợi tối
đa cho sự phát triển thương mại của các nền kinh tế thành viên. Kể từ khi thành
lập APEC luôn nỗ lực, tạo thuận lợi cho thương mại bằng cách đặt ra các mục
tiêu cụ thể, nhất là có chương trình hỗ trợ xây dựng năng lực cho các nền kinh tế
đang phát triển. Thuận lợi hoá kinh doanh tập trung vào việc giảm chi phí giao
dịch trong kinh doanh, tăng cường trao đổi thông tin và tự do thương mại, làm
cho thị trường hoạt động có hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh thương mại thế giới ngày càng gia tăng, thuế quan giảm
dần và công nghệ phát triển, thuận lợi hoá thương mại càng trở lên quan trọng,
đồng thời lợi ích tiềm tàng của nó cũng không ngừng tăng theo. APEC đã xây
dựng bộ nguyên tắc thuận lợi hóa thương mại và kế hoạch hành động thuận lợi
hoá thương mại (TFAP), đưa ra các biện pháp cụ thể giảm chi phí giao dịch và
đơn giản hoá các quy định hành chính và thủ tục theo một thời gian biểu nhất
định, bảo đảm việc thực hiện của các thành viên.
* Hợp tác kinh tế và kỹ thuật (ECOTECH)
Chương trình ECOTECH được thực hiện dưới dạng các dự án, chương
trình hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể, bao gồm đào tạo và các hoạt động hợp tác
khác, nhằm hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực của các nền
kinh tế thành viên, tạo điều kiện để các thành viên tận dụng thương mại toàn cầu
và nền kinh tế mới, đảm bảo cân bằng và phát triển bền vững.
2.3. Nguyên tắc hoạt động của APEC
Sau hơn một thập kỷ tồn tại và phát triển, dựa trên những nguyên tắc cơ
bản của Luật Quốc tế, các nước thành viên APEC đã từng bước xây dựng và
cùng khẳng định những nguyên tắc, tư tưởng cơ bản làm cơ sở cho quan hệ
trong nội bộ các nước thành viên và giữa các nước này với các nước khác trong

phải là thành viên.
- Nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch (Transparency):
Mọi chính sách, pháp luật hiện hành tại các thành viên phải được công
khai minh bạch hoá, phải đảm bảo tính trong sáng của các chính sách, pháp luật
này.
- Nguyên tắc lấy mức bảo hộ hiện tại làm mốc (Standstill):
Chỉ tiến hành giảm không tăng thêm các biện pháp bảo hộ. Theo nguyên
tắc này, các thành viên luôn phải tuân thủ mức bảo hộ đã được thoả thuận hiện
tại, không tăng các biện pháp bảo hộ, đảm bảo sự công bằng trong đối xử giữa
các thành viên.
- Nguyên tắc vận dụng linh hoạt (Flexibility):
Trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tiến trình tự do hoá thương
mại và đầu tư, không thể áp dụng một cách cứng nhắc. Do trình độ phát triển
kinh tế không đồng đều của các thành viên, có sự ưu tiên và hỗ trợ năng lực đối
với các nước đang phát triển.
Như vậy, để các nền kinh tế thành viên phát triển thịnh vượng nói riêng
và cũng để tồn tại và phát triển bền vững của APEC, đòi hỏi các thành viên phải
cùng nhau nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu chung và thực hiện theo những nguyên
tắc đã được xác định. Thắt chặt hơn nữa mối liên hệ, tình đoàn kết giữa các
thành viên, để bảo đảm ổn định khu vực và phát triển kinh tế.
3. Sự cần thiết của hợp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và APEC
3.1. Nhu cầu phá thế bị bao vây cấm vận kinh tế, cô lập về chính trị
APEC ra đời vào thời điểm quan hệ giữa Việt Nam với các nước tham gia
sáng lập diễn biến phức tạp, phần lớn các thành viên APEC đều là nước thân
Mỹ, đồng minh với Mỹ và đã ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh với Việt Nam.
Trong giai đoạn từ 1989 – 1995, thực hiện chủ trương của Đảng về mở
rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước, hội nhập khu vực và quốc tế, hoạt
động đối ngoại Việt Nam tập trung giải quyết các trở ngại, mặc cảm trong quan
hệ với các nước láng giềng, khu vực, trong đó lưu ý đặc biệt tới các nước lớn, có
quan hệ phức tạp với Việt Nam trong lịch sử như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản,

bằng thương lượng hoà bình; lấy lợi ích quốc gia, dân tộc là cao nhất, xác định
đúng đối tác, đối tượng, kiên định về chiến lược, linh hoạt về sách lược, ưu tiên
cho việc củng cố quan hệ với các nước láng giềng, tránh bị rơi vào thế đối đầu,
bị cô lập hay lệ thuộc.
Việc tăng cường hợp tác song phương và đa phương sẽ tạo nên sự đan xen
quyền lợi, sự phụ thuộc về lợi ích kinh tế giữa các nước với nhau và giữa các
nước với Việt Nam. Là một nước nằm trong khu vực Thái Bình Dương, thành
viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, thành viên sáng lập tiến trình hợp tác
Á - Âu (ASEM), Việt Nam đã chủ động tham gia APEC, đây là bước đi tiếp
theo hết sức quan trọng, tạo hình thái không phụ thuộc thái quá vào một nước cụ
thể. Là điều kiện quan trọng góp phần giữ vững an ninh, độc lập dân tộc và cũng
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế nước ta.
3.2. Nhu cầu chống tụt hậu về kinh tế
Các xu hướng vận động của quan hệ kinh tế quốc tế rất đa dạng, chi phối
sự phát triển của tất cả các quốc gia. Các xu hướng nổi bật của quan hệ kinh tế
quốc tế trong giai đoạn hiện nay là hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập kinh tế
khu vực. Các xu hướng này trở nên ngày càng đặc biệt quan trọng, bởi vì khó có
thể có quốc gia nào đứng ngoài xu hướng hội nhập, và APEC là sự lựa chọn phù
hợp với xu thế khách quan của nước ta.
Hiện nay, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc gia, cho
nên để tránh tụt hậu về kinh tế, hội nhập khu vực và quốc tế là những chính sách
ngoại giao chủ chốt của mỗi quốc gia. “Mở cửa” nền kinh tế ra bên ngoài, nhưng
phải đảm bảo sự ổn định chính trị, an ninh quốc gia. Nhận thức rõ những cơ hội
và thách thức của vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế đối với các nước đang phát
triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng, xuất phát từ mục tiêu hội nhập
kinh tế quốc tế là để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo
định hướng XHCN, Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) khẳng định chủ trương
“Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” và nghị quyết 07/NQ-TW ngày 27/11/2001
của Bộ Chính trị đã khẳng định tính tất yếu của toàn cầu hoá, chỉ rõ khả năng
tận dụng những cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, để tránh khỏi nguy

MỘT SỐ NỘI DUNG PHÁP LÝ VỀ HỢP TÁC
KINH TẾ - THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ APEC
1. Một số nội dung cơ bản của tiến trình APEC
1.1. Phát triển về thể chế
Từ ngày thành lập đến nay, APEC đã trải qua một quá trình tương đối dài
và là kết quả của những mong muốn, nỗ lực hợp tác ở khu vực châu Á - Thái
Bình Dương. APEC là một diễn đàn kinh tế, một cơ chế liên chính phủ nhằm
xúc tiến hợp tác, tăng trưởng và phát triển khu vực, không đưa ra những quyết
định, nguyên tắc có tính chất bắt buộc đối với các thành viên. Mọi hoạt động
hợp tác, cũng như các thoả thuận đạt được đều dựa trên nguyên tắc đồng thuận,
cam kết của các thành viên và việc thực hiện cam kết dựa trên cơ sở tự nguyện,
không chịu sự giám sát của một cơ quan với các chế tài hay giải quyết tranh
chấp, phù hợp với lợi ích của các bên. Điều này phản ánh tính đặc thù của quá
trình hội nhập kinh tế trong khu vực.
Về mặt thể chế, APEC được coi là thực thể liên kết kinh tế liên khu vực
lỏng lẻo, được xem là một diễn đàn đối thoại nhiều hơn là một tổ chức với cơ
chế chặt chẽ, mang tính ràng buộc cao; và đồng thời APEC có sự khác biệt
tương đối rõ ràng so với các tổ chức hợp tác khu vực khác, đặc biệt là Liên minh
châu Âu (EU) có cơ cấu tổ chức hết sức chặt chẽ, với cơ quan liên chính phủ
như Hội đồng châu Âu, Toà án châu Âu, Nghị viện châu Âu để điều phối sự hợp
tác giữa các thành viên .
Từ khi mới thành lập, trong APEC luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai xu
hướng phát triển: Xu hướng thứ nhất là muốn đẩy nhanh quá trình tự do hoá
thương mại, đầu tư, dịch vụ và thể chế hoá APEC, mà đại diện là các thành viên
phát triển, đứng đầu là Mỹ. Những thành viên này ấp ủ ý tưởng phát triển
APEC thành một diễn đàn chặt chẽ, mang tính ràng buộc cao hơn, giữ vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy tự do hoá thương mại trên thế giới và khu vực.
Tham gia APEC sẽ mở ra cho Mỹ thị trường mậu dịch và đầu tư to lớn ở châu
Á, tăng cường quan hệ giữa Mỹ và khu vực kinh tế năng động nhất trên thế giới,
tạo môi trường thúc đẩy chính sách tự do hoá toàn cầu. Xu hướng thứ hai trong

APEC tại Indonesia có nhiệm vụ tiến hành các nghiên cứu về xu hướng và các
vấn đề kinh tế của khu vực.
Năm 1995, APEC thành lập thêm nhóm công tác về doanh nghiệp vừa và
nhỏ dưới hình thức nhóm đặc trách ở cấp độ chính sách về doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
Năm 1996, nhóm công tác về hợp tác nông nghiệp (ATC) được thành lập.
Tại Hội nghị cấp cao lần thứ 4 tại Manila (Philippin) tháng 11/1996 các chương
trình hợp tác kinh tế và kỹ thuật cụ thể được tiến hành nhằm bổ trợ cho kế hoạch
tự do hoá và thuận lợi hoá của APEC. APEC chuyển sang giai đoạn hoạt động
thực sự với việc các thành viên bắt đầu thực hiện IAP từ 01/01/1997, các kế
hoạch này xác định lộ trình các thành viên thực hiện mục tiêu tự do hoá thương
mại đề ra.
Năm 1998, Tiểu ban SOM về ECOTECH được thành lập (năm 2002 đổi
thành Uỷ ban SOM về ECOTECH) hoàn thành cơ bản cơ cấu tổ chức của Diễn
đàn cho đến nay.
Về cấp độ hội nghị hợp tác chuyên ngành, ngày càng nhiều những cuộc
họp cấp Bộ trưởng chuyên ngành được tổ chức, trên các lĩnh vực như: giáo dục,
năng lượng, phát triển môi trường bền vững, tài chính, phát triển nguồn nhân
lực, hợp tác công nghệ và khoa học khu vực, doanh nghiệp vừa và nhỏ, viễn
thông và thông tin, thương mại giao thông vận tải, các vấn đề về phụ nữ, du lịch,
các vấn đề về đại dương và y tế.
APEC là một Diễn đàn “mở” theo nghĩa APEC ủng hộ chế độ thương mại
đa phương, không tạo ra sự phân biệt đối xử giữa APEC với các nước và nhóm
nước khác trên thế giới, đồng thời APEC mở cửa cho các nền kinh tế không phải
là thành viên tham gia. APEC đã chấp nhận những nguyên tắc như chủ nghĩa tự
nguyện và chủ nghĩa khu vực mở, theo đó những điểm khác nhau trở nên rõ ràng
hơn giữa APEC và WTO. Đối với WTO thì hiệu lực ràng buộc được coi là một
yếu tố cần thiết trong các hiệp định về thúc đẩy tự do hoá thương mại, còn
APEC thì cho rằng tự do hoá trong khuôn khổ của nó chỉ có thể đạt được thông
qua các hành động tự nguyện của mỗi thành viên. Mặt khác, nguyên tắc nhất trí

Các nhà lãnh đạo tại Hội nghị cao cấp lần thứ hai, năm 1994 tại Indonesia
đã đề ra mục tiêu thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư tại châu Á - Thái
Bình Dương đối với các nền kinh tế phát triển vào năm 2010, với các nền kinh
tế đang phát triển vào năm 2020. Hội nghị cấp cao Osaka tại Nhật Bản 1995 đã
thông qua chương trình hành động, Osaka giúp cho APEC thực hiện mục tiêu tự
do hoá thương mại và đầu tư. Hội nghị cấp cao Xubic tại Philippin 1996 đã
thông qua kế hoạch hành động quốc gia (IAP). Hội nghị cấp cao Vancuvơ tại
Canada 1997 đã nhất trí với kiến nghị của Hội nghị Bộ trưởng thương mại
APEC về xác định các lĩnh vực tự nguyện tự do hoá sớm (EVSL) ngay trong
năm 1997 và 15 lĩnh vực được đưa vào EVSL, bao gồm: lâm sản, cá và sản
phẩm từ cá, đồ chơi, đá quý và đồ trang sức, hóa chất, thiết bị và dụng cụ y tế,
hàng hoá và dịch vụ liên quan tới môi trường, năng lượng, thoả thuận công nhận
lẫn nhau về thiết bị viễn thông, cao su tự nhiên và cao su tổng hợp, phân bón,
thực phẩm, ôtô, hạt có dầu, máy bay dân dụng.
Mặc dù đã đạt được kết quả đáng kể, nhưng trước cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ châu Á đã làm nhiều thành viên APEC không có khả năng tuân thủ
các cam kết tự nguyện tự do hoá sớm, mặc dù vậy các thành viên APEC vẫn cố
gắng duy trì nỗ lực tự do hoá thương mại.
1.2.2. Thuận lợi hoá thương mại và đầu tư
Sau khi chương trình EVSL đi vào bế tắc và thất bại, thì thuận lợi hoá
thượng mại và đầu tư được đẩy mạnh hơn và trở thành ưu tiên hàng đầu trong
APEC. APEC đã triển khai hàng loạt các hoạt động tại các nhóm công tác và
diễn đàn khác nhau như nhằm triển khai trụ cột thuận lợi hoá thương mại và đầu
tư, tập trung nhất vào các lĩnh vực sau: về thuế quan và các biện pháp phi thuế
quan, việc triển khai các hoạt động hợp tác thuế quan và phi thuế quan nhằm
tiến tới giảm dần thuế quan và các hàng rào phi thuế quan, góp phần tạo thuận
lợi cho việc giao lưu thương mại trong khu vực, giảm thiểu sự bảo hộ và tăng
cường tính minh bạch trong thương mại.
Về dịch vụ: APEC đã đưa ra chương trình hành động về dịch vụ, nhằm
giảm dần hạn chế việc mở cửa thị trường dịch vụ của các thành viên và tăng

Đi đôi với việc thực hiện mục tiêu này là một chương trình hỗ trợ năng
lực về xây dựng nguồn nhân lực. Chương trình này càng được đẩy mạnh tại Hội
nghị cấp cao Thượng Hải năm 2001 bằng việc thông qua sáng kiến Bắc Kinh về
xây dựng năng lực APEC.
Chương trình nghị sự APEC về hợp tác khoa học, kỹ thuật, công nghệ
hướng tới thế kỷ 21.
Phát triển bền vững, ba vấn đề được đưa vào chủ đề phát triển bền vững
của ECOTECH là: Thành phố phát triển bền vững, sản xuất sạch, tính bền vững
của môi trường biển. Tuy nhiên, không có nhóm công tác về vấn đề này, nên
vấn đề chưa được thúc đẩy phát triển mạnh.
Chương trình hành động ECOTECH (EAP) được các thành viên tham gia
trên cơ sở tự nguyện, nhằm khuyến khích việc tự nguyện đóng góp cho các hoạt
động ECOTECH. Các quan chức cao cấp APEC đã thông qua 4 lĩnh vực ưu tiên
của ECOTECH năm 2003 gồm: hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, xây dựng
năng lực đối phó với chủ nghĩa khủng bố, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
tri thức và giải quyết những tác động xã hội của toàn cầu hoá.
Cũng trong năm này, tiểu ban hợp tác ECOTECH đã tổ chức đối thoại bàn
tròn lần đầu tiên với các thể chế tài chính quốc tế, thảo luận những lĩnh vực có
thể hợp tác thông qua các chương trình nhằm đào tạo và phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ; hỗ trợ năng lực cũng như trao đổi chuyên gia kỹ thuật. Các cuộc đối
thoại tiếp theo cũng đã được tổ chức sau 2 năm bên lề hội nghị quan chức cao
cấp APEC lần thứ 3 năm 2005 tại Hàn Quốc.
Để đẩy nhanh việc thực hiện mục tiêu Bogor, các thành viên APEC đã
xây dựng “Sáng kiến người tìm đường”. Theo phương thức này, một số thành
viên có thể đi trước trong việc thực hiện các sáng kiến, nhằm tiến tới mục tiêu tự

Trích đoạn Hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ Hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam và Trung Quốc Hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam và Nhật Bản Một số đề xuất, kiến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status