tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng trong luật hôn nhân gia đình năm 2014 và một số giải pháp đề xuất - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 ( 2011 - 2015)

ĐỀ TÀI:

TÀI SẢN CHUNG VÀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG
TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

Giảng viên hƣớng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Huỳnh Thị Trúc Giang

Trần Thị Kiều
MSSV: 5117396
Lớp: Luật Hành Chính HG –

K37

Cần Thơ, 2014


LỜI CẢM ƠN

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô và các bạn đã đóng góp nhiều ý kiến

.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN


....................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................

.......................................................................................................................................


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ......................................................................... 1
2. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài ................................................................................. 1
3. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................................... 2
4. Cơ cấu luận văn .................................................................................................................. 2
CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN CHUNG VÀ TÀI SẢN RIÊNG
CỦA VỢ CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 ................ 3
1.1 Khái niệm về tài sản ...................................................................................................... 3
1.2 Khái niệm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng ........................................... 5
1.2.1 Khái niệm tài sản chung ........................................................................................... 5
1.2.2 Khái niệm tài sản riêng............................................................................................. 7
1.3 Ý nghĩa việc quy định của pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng của
vợ, chồng .............................................................................................................................. 9
1.4 Lịch sử phát triển quy định pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng............... 10
1.4.1 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 ..................................................................... 10
1.4.2 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ..................................................................... 11
1.4.3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ..................................................................... 12
1.4.4 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ..................................................................... 13
Chƣơng 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG VÀ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH ............................. 15
2.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ, chồng ........................................................... 15
2.1.1 Tài sản chung của vợ chồng có được do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kì hôn nhân ........................................ 15
2.1.2 Tài sản chung của vợ chồng có được do hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản
riêng của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân .................................................................... 17
2.1.3 Tài sản chung của vợ, chồng có được từ những thu nhập khác trong thời kì



LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội trong đó quan hệ vợ chồng là quan hệ nền tảng có
vai trò quan trọng trong đời sống. Vì vậy, Hôn nhân và gia đình là một lĩnh vực quan
trọng cần đƣợc nhà nƣớc cũng nhƣ toàn xã hội quan tâm hàng đầu, bởi gia đình là cái
nôi nuôi dƣỡng con ngƣời cả nhân cách và thể chất. Chính vì thế, nhà nƣớc ta đã có rất
nhiều những quy định để đảm bảo sự bình đẳng trong hôn nhân và gia đình, đặc biệt là
quan hệ giữa vợ và chồng. Xét trong mối quan hệ giữa vợ và chồng, chúng ta không
thể không nói đến vấn đề tài sản. Từ đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời và
đi vào thực tiễn đã tạo sự thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật khi thay thế cho luật
Hôn nhân và gia đình năm 1986. Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật về hôn nhân vẫn còn
nhiều điểm hạn chế về các căn cứ xác định tài sản chung và các căn cứ xác định tài sản
riêng của vợ chồng. Hơn thế nữa, thời kì kinh tế hiện nay đang phát triển mạnh mẽ đã
tác động rất lớn đến gia đình, đặc biệt là trƣớc sự đổ vỡ ngày càng nhiều của các đôi
vợ chồng, ngƣời ta càng quan tâm đến việc xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản
riêng của vợ chồng. Do đó, việc quy định các căn cứ xác định tài sản chung và tài sản
riêng giúp cho việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nƣớc sẽ dễ dàng và thuận
lợi hơn. Với những lý do nêu trên mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có
hƣớng mở mới về các căn cứ xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng. Vì
vậy, mà em chọn đề tài “ Tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng theo quy định
của Luật Hôn nhân và gia đình và một số giải pháp đề xuất” để nghiên cứu. Với mong
muốn em sẽ đóng góp ý kiến của mình về vấn đề trên.
2. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Ngƣời viết nghiên cứu đề tài này là mong muốn tạo cho ngƣời đọc một cách hiểu
cơ bản và khái quát những quy định của pháp luật để ngƣời đọc nhân biết cách xác
định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng, hiểu đƣợc tầm quan trọng về căn cứ
xác định tài sản chung và tài sản riêng là nhƣ thế nào, đồng thời giúp ngƣời đọc hiểu
đƣợc tầm quan trọng của sự nhận biết đó. Tìm ra những vƣớng mắc khi áp dụng pháp

Phần này ngƣời viết muốn tập trung làm rõ các quy định của pháp luật về các căn
cứ xác định tài sản chung và các căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng. Trong
quá trình phân tích các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ, chồng có thể
làm sáng tỏ những nội dung phù hợp với thực tiễn hiện nay và giúp chúng ta thấy đƣợc
những quy định của pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng còn gặp
những khó khăn hay vƣớng mắc gì.
Chƣơng 3: Một số đề xuất hoàn thiện các quy định của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 về căn cứ xác định tài sản chung và căn cứ xác định tài sản
riêng của vợ, chồng


Trong chƣơng sau cùng này ngƣời viết muốn đóng góp ý kiến của bản thân mình
cho quá trình xây dựng luật, đƣa ra một số vƣớng mắc mà bản thân ngƣời viết trong
khi phân tích luật đã thấy đƣợc đang gặp khó khăn hay vấn đề đó vẫn chƣa đƣợc luật
đề cập đến. Từ đó, ngƣời viết đƣa ra một số ý kiến, đề xuất và những hƣớng nhằm
thiện thêm về quy định của pháp luật về vấn đề tài sản chung và tài sản riêng của vợ,
chồng.


CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN CHUNG VÀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA
VỢ, CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
1.1 Khái niệm về tài sản
Tài sản là vấn đề trung tâm cốt lỗi của quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp
luật nói riêng, khái niệm tài sản đã đƣợc đề cập từ rất lâu đời trong thực tiễn cũng nhƣ
khoa học pháp lý nhƣng thực tế hiện nay trong quá trình áp dụng luật vấn đề này chƣa
có sự thống nhất. Để tìm hiểu nhƣ thế nào là tài sản chung và tài sản riêng của vợ
chồng thì chúng ta cần biết tài sản là gì. Có nhiều cách hiểu đƣa ra khái niệm về tài
sản, nhƣng nhìn tổng quan có thể hiểu khái niệm tài sản theo hai cách:
Cách thứ nhất, nếu hiểu theo cách thông dụng thì tài sản là của cải đƣợc con

Tiền: Theo Mác “ Tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt đƣợc tách ra khỏi thế giới
hàng hóa dùng để đo lƣờng và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác”.
Theo cách định nghĩa của các nhà kinh tế thì tiền tệ đƣợc hiểu là bất cứ cái gì đƣợc
chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ trong việc trả nợ. Bộ
luật dân sự 2005 không có những quy định để làm rõ bản chất của tiền tệ. Từ các quan
niệm khác nhau về tiền ta có thể đƣa ra một khái niệm chung nhất về tiền: “ Tiền đƣợc
sử dụng làm thƣớc đo giá trị của các loại tài sản khác và nó phải có giá trị lƣu hành
trên thị trƣờng”. Do vậy, chỉ có các loại tiền đƣợc pháp luật thừa nhận thì mới đƣợc
coi là một loại tài sản.
Giấy tờ có giá : cụm từ “giấy tờ có giá” trong bộ luật dân sự 2005 đã thay thế
cho cụm từ “ giấy tờ có giá bằng tiền” trong bộ luật dân sự năm 1995 phù hợp với thực
tế hơn. Theo nghĩa rộng, giấy tờ đƣợc coi là một tài sản chuẩn hóa về tên gọi cũng nhƣ
tính chất, các loại giấy tờ này chuẩn hóa bằng tiền và đƣợc đƣa và giao dịch dân sự
nhƣ: cổ phiếu, trái phiếu và tấm séc… quy định nhƣ vậy sẽ làm cho khái niệm tài sản
rộng hơn và chính xác hơn về đối tƣợng. Theo nghĩa hẹp, tại khoản 1 Điều 4 Quyết
định số 02/2005/QĐ-NHNN quyết định của thống đốc ngân hàng Nhà nƣớc Việt nam
số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04 tháng 01 năm 2005 về việc ban hành quy chế phát
hành giấy tờ có giá của tổ chức tính dụng để huy động vốn trong nƣớc: “1. Giấy tờ có
giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác định
nghĩa vụ trả nợ một khoảng tiền trong một khoản thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi
và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và ngƣời mua”. Mặt khác, nó
cũng ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng và giai đoạn hội nhập nƣớc ta
hiện nay.
Quyền tài sản: Theo Điều 181 Bộ luật dân sự năm 2005 đƣa ra khái niệm về
quyền tài sản là “quyền giá trị đƣợc bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch
dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Từ khái niệm trên, quyền tài sản là xử sự của chủ
thể đƣợc phép mang quyền. Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sự chủ quan
của chủ thể đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo vệ, các nhà lập pháp đã giải thích rằng các
quyền tài sản là các các quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện các quyền đó chủ
sở hữu sẽ có đƣợc một tài sản nhƣ quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng

Còn theo giáo trình Đại học Luật Hà Nội, việc xác định tài sản chung của vợ,
chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh tài sản. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh
trong thời kì hôn nhân; thu nhập hợp pháp của vợ, chồng trong hôn nhân có thể là: tiền
lƣơng, tiền thƣởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số mà vợ, chồng có đƣợc hoặc tài sản mà
vợ, chồng đƣợc xác lập quyền sở hữu theo quy định Bộ luật dân sự nhƣ xác lập quyề
sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định đƣợc ai là chủ sở hữu (Điều 247), xác
lập quyền sở hữu đối vật chôn giấu chìm đắm tìm thấy(248) xác lập quyền sở hữu đối
với vật do ngƣời khác đánh rơi, bỏ quên (Điều 249), xác lập quyền sở hữu đối với gia
súc bị thất lạc (Điều 250), xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc (Điều 251),
xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dƣới nƣớc (Điều 252); Tài sản mà vợ chồng
đƣợc tặng, cho chung hoặc thừa kế chung; Tài sản mà vợ hoặc chồng có trƣớc khi kết
2

TS. Nguyễn Ngọc Điện: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam , Tập 2, Nxb. Tủ sách Đại học Cần

Thơ, 2005.


hôn hoặc những tài sản mà vợ hoặc chồng thừa kế riêng hay tặng cho riêng trong thời
kì hôn nhân nhƣng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung hoặc theo pháp
luật quy định là tài sản chung.3
Theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật thì luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 quy định tài sản chung của vợ, chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất
có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở
hữu của mỗi chủ sở hữu không đƣợc xác định đối với tài sản chung. So với luật hôn
nhân và gia đình 2014 về khái niệm tài sản chung của vợ chồng đƣợc luật cụ thể hơn,
tiến bộ hơn luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
tài sản riêng trong thời kì hôn nhân là thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Về câu
chữ và điều luật hôn nhân và gia đình 2014 rõ ràng và đã bổ sung, sửa đổi một số vấn

Quy định vợ chồng có tài sản riêng là rất cần thiết nó bảo vệ quyền lợi chính
đáng của hai vợ chồng đối với tài sản riêng của họ phù hợp cuộc sống thực tại và ngày
nay vai trò của kinh tế của ngƣời phụ nữ trong gia đình, trong xã hội rất lớn và bình
đẳng với nam giới. Vì vậy, pháp luật quy định vợ chồng có quyền sở hữu tài sản riêng
không ảnh hƣởng đến lợi ích của vợ chồng và lợi ích của các thành viên khác trong gia
đình thể hiện rõ trong hiến pháp năm 2013 về quyền bình đẳng công dân trƣớc pháp
luật. Tài sản riêng theo giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam của Trƣờng Đại
học Luật Hà Nội thì Luật hôn nhân và gia đình đã khẳng định vợ chồng có quyền tài
sản và xác định rõ nguồn gốc phát sinh tài sản riêng. Chỉ những tài sản mà vợ hoặc
chồng có từ trƣớc khi kết hôn, tài sản mà vợ hoặc chồng đƣợc thừa kế, tặng cho riêng
trong thời kì hôn nhân, tài sản mà vợ hoặc chồng đƣợc chia từ khối tài sản chung của
vợ chồng trong thời kì hôn nhân và những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó, đồ
dùng tƣ trang cá nhân mới đƣợc coi là tài sản riêng của vợ hoặc chồng.4 Việc quy định
vợ chồng có tài riêng nhƣ vậy rõ ràng chúng ta nhận thấy những tài sản mà vợ chồng
có trƣớc khi kết hôn hay đƣợc tặng cho, thừa kế riêng kể cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
tài sản riêng là tài sản riêng của vợ hoặc chồng và họ có quyền định đoạt, sử dụng
phần tài sản riêng của họ.
Theo TS. Nguyễn Ngọc Điện nói rằng: “ Một khi đã có định nghĩa tài sản chung,
chỉ cần nói rằng những tài sản nào không đƣợc luật coi là tài sản chung, thì là tài sản
riêng của vợ hoặc chồng. Thế nhƣng, ngoài việc thừa nhận những tài sản riêng do tính
chất, luật viết lại xây dựng định nghĩa tài sản riêng bên cạnh định nghĩa tài sản chung.
Cuối cùng, có những tài sản không ghi nhận tại bất kì định nghĩa nào và cũng không
hẳn có tính chất riêng nào, do đó, đƣợc biết thuộc về cả vợ và chồng chỉ thuộc về riêng
một ngƣời”.5
Từ những khái niệm về tài sản riêng đƣợc đƣa ra ở trên theo khoản 1 Điều 32
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản riêng của vợ,chồng gồm tài sản mà mỗi
ngƣời có trƣớc khi kết hôn; tài sản đƣợc thừa kế riêng, đƣợc tặng cho riêng trong thời
kì hôn nhân; tài đƣợc chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và
Điều 30 của Luật này; đồ dùng tƣ trang cá nhân. Việc quy định vợ chồng có quyền có
tài sản riêng không làm ảnh hƣởng tới tính chất quan hệ hôn nhân và cũng không làm


1.3 Ý nghĩa việc quy định của pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng của vợ,
chồng
Đối với tài sản chung quy định căn cứ xác định tài sản chung của vợ, chồng tạo
cơ sở pháp lý để vợ chồng thực hiện dân chủ, bình đẳng trong các quan hệ về tài sản.
Đồng thời qua đó có thể tạo đƣợc điều kiện để khuyến khích vợ, chồng có trách nhiệm
đối với gia đình của mình, cùng sát cánh xây dựng gia đình ấm cúng, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc, bền vững. Việc phân định các tiêu chí xác định tài sản chung của vợ,
chồng còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên đối với các tài sản của
vợ, chồng. Vợ, chồng là đồng sở hữu đối với tài sản chung của họ. Vì vậy, một bên vợ
chồng không thể tự ý định đoạt tài sản chung nếu không có sự thỏa thuận của bên kia,
đặc biệt liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng có giá trị lớn nhƣ nhà ở, quyền sử
dụng đất…các cơ sở pháp lý xác định tài sản chung của vợ, chồng là các cơ sở pháp lý
để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ, chồng với nhau hoặc với ngƣời
khác. Trong thực tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về tài sản cho các bên
vợ, chồng hoặc ngƣời thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ,
chồng. Vì vậy, mỗi bên vợ hoặc chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt và


quyết định sáp nhập hay không sáp nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào khối tài
sản chung của vợ chồng.
Đối với tài sản riêng việc quy định rõ ràng các căn cứ xác định nhƣ vậy nhằm
đảm bảo quyền lợi riêng của vợ chồng, những tài sản riêng mà một bên vợ hoặc chồng
không muốn bên còn lại có bất cứ xâm hại nào đến phần tài sản riêng của mình và tâm
lý của mỗi bên trong quan hệ tài sản sẽ thoải mái hơn. Quy định này bảo đảm cho mỗi
ngƣời trƣớc tiên có những quyền tối thiểu nhất. Đồng thời, việc quy định các tiêu chí
xác định tài sản riêng của vợ hoặc chồng sẽ thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau, tình cảm
gia đình sẽ trở nên tốt đẹp hơn, qua đó thể hiện đƣợc nhân cách, đạo đức của mình đối
với chính ngƣời vợ hoặc ngƣời chồng của mình. Khi xác định rõ các tiêu chí phân định
tài sản riêng của vơ, chồng đặc biệt là những tài sản có giá trị nhƣ đất đai nhằm thể

ngày 25 tháng 05 năm 1950 và sắc lệnh 159 - SL ngày 17 tháng 11 năm 1950 thừa
nhận địa vị giữa nam và nữ xóa bỏ hủ tục phong kiến trong hôn nhân và gia đình, giữa
con gái và con trai, giữa vợ đối với chồng, giữa con cái đối với cha mẹ. Chín năm sau,
luật hôn nhân và gia đình đầu tiên ra đời (do quốc hội khóa 1 thông qua ngày 29 tháng
12 năm 1959) là nền tảng xây dựng chế độ hôn nhân gia đình xã hội chủ nghĩa. Luật
hôn nhân và gia đình năm 1959 đã khẳng định pháp luật của nƣớc ta phục vụ lợi ích
của nhân dân lao động, xóa bỏ đƣợc những quan niệm, phong tục tập quán cũ do ảnh
hƣởng của chế độ phong kiến. Tuy nhiên, luật hôn nhân và gia đình chỉ đƣợc thực hiện
tại miền Bắc, còn ở miền Nam do vẫn còn dƣới sự cai trị của chế độ Ngụy Sài Gòn và
sự thống trị của Ngô Đình Diệm. Dƣới thời Ngô Đình Diệm có luật Gia đình ngày 02/
01/ 1959, Sắc luật 15/ 64 ngày 23/ 07/ 1964 và Bộ dân luật ngày 20/ 12/ 1972 của
chính quyền ngụy Sài gòn. Cả ba văn bản pháp luật điều quy định bãi bỏ chế độ đa thê,
song vẫn bảo vệ quyền gia trƣởng, thực hiện nguyên tắc bất bình đẳng, ngƣời vợ hoàn
toàn phụ thuộc vào ngƣời chồng, ngƣời vợ chỉ đƣợc hành xử riêng biệt trừ phi chồng
phản kháng theo nhƣ quy định tại Điều 142 Bộ dân luật 1972 quy con kết hôn phải
đƣợc sự đồng ý của cha mẹ, cho phép ly hôn dựa vào những duyên cớ lỗi của vợ,
chồng. Nhƣ vậy, chế độ hôn nhân và gia đình ở miền Nam nƣớc ta trƣớc ngày giải
phóng là chế độ hôn nhân gia đình phong kiến, tƣ sản nên những quy định của nó chỉ
nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến, tƣ sản.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 gồm 6 chƣơng với 35 điều quy định những
nguyên tắc chung; kết hôn; nghĩa vụ và quyền lợi của vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ
và con cái và về ly hôn. Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên đƣợc Quốc hội nƣớc ta
thông qua ngày 29/ 12/1959, đƣợc Chủ tịch nƣớc ký lệnh công bố ngày 13/ 01/ 1960
theo Sắc lệnh 02–SL. Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 là công cụ pháp lý của Nhà
nƣớc ta đƣợc xây dựng và thực hiện hai nhiệm vụ: Xóa bỏ những tàn tích của chế độ
hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu; xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới
xã hội chủ nghĩa. Luật này xây dựng dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc hôn
nhân tự do và tiến bộ; nguyên tắc hôn nhân một vợ, một nhân; nguyên tắc nam nữ bình
đẳng, bảo vệ quyền của ngƣời phụ nữ trong gia đình và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi
của con cái.

trong Luật đất đai, Luật hợp tác xã, Bộ luật dân sự….Hơn mƣời năm, luật hôn nhân và
gia đình năm 1986, bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc, thực tế áp dụng cho thấy đƣợc
những quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 1986 còn mang tính khái quát
chung, định khung, chƣa cụ thể, việc áp dụng luật giải quyết các tranh chấp từ các
quan hệ hôn nhân và gia đình gặp nhiều vƣớng mắc. Trƣớc tình hình đó đòi hỏi Nhà
nƣớc ta cần phải sửa đổi sung Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 một cách toàn
diện. Năm 1994, Ban dự thảo sửa đổi bổ sung luật năm 1986 thành lập. Sau quá trình
soạn thảo, lấy ý kiến đống góp của toàn dân, dự luật đã đƣợc Quốc hội khóa X kỳ hợp
thứ 7 chính thức thông qua ngày 09 tháng 06 năm 2000 và đƣợc Chủ tịch nƣớc ký lệnh
công bố ngày 22 tháng 06 năm 2000 ( Theo lệnh số 08L/CTN).
Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 06 năm 2000 của Quốc hội.
Luật này có tên gọi là luật hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 01 năm 2000, Luật 2000 đã kế thừa và phát triển hệ thống Luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 gồm 13 chƣơng, 110


điều đƣợc xây dựng và thực hiện trên nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ,
một chồng, vợ chồng bình đẳng; hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc,
các tôn giáo, giữa ngƣời theo tôn giáo với ngƣời không theo tôn giáo, giữa công dân
Việt Nam ngƣời nƣớc ngoài đƣợc tôn trọng và đƣợc pháp luật bảo vệ; vợ chồng có
nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; cha mẹ có nghĩa vụ
nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc
nuôi dƣỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dƣỡng ông bà, các
thành viên trong gia đình phải có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc nhau, giúp đỡ nhau;
Nhà nƣớc và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai
với con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú; nhà nƣớc, xã
hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ và trẻ em.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định vợ chồng có quyền có tài sản
riêng là phù hợp với chế định quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân đƣợc Hiến
pháp thừa nhận (Điều 32 Hiến pháp 2013), phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt về tài

trọng và chấp hành tốt các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình quy định. Tuy
nhiên, qua một thời gian thực hiện trong quá trình giải quyết các vụ việc tranh chấp
trong hôn nhân của các nghành Tòa án cho thấy, một số quy định của luật hôn nhân và
gia đình không phù hợp với thực tiễn, có những quy định chƣa đầy đủ, thiếu rõ ràng và
còn có những cách hiểu khác nhau, có những quy định chƣa đảm bảo đƣợc quyề và lợi
ích hợp pháp của đƣơng sự, có những vấn đề mới phát sinh trong xã hội chƣa đƣợc
pháp luật hôn nhân và gia đình năm 2000 điều chỉnh. Một số quy định của luật con
chƣa tạo ra cơ chế pháp lý hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình
vốn có nhiều đặc thù so với các quan hệ dân sự khác, Luật chƣa thực sự phù hợp với
các nguyên tắc cơ bản của các quan hệ dân sự - quan hệ tƣ. Do đó, trong một số quan
hệ các thành viên trong hôn nhân và gia đình chƣa đƣợc quyền lựa chọn phƣơng án
ứng xử tốt nhất cho gia đình và bản thân.6
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đƣợc Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, khóa 13, kỳ họp thứ lần 7 thông qua vào ngày 19 tháng 06 năm 2014,
gồm 9 chƣơng, 133 điều và thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. So với Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 ít hơn 04 chƣơng, nhƣng tăng lên 23 điều .Với những nội
dung sửa đổi bổ sung mới nhƣ: Tăng độ tuổi kết hôn của nam và nữ; không thừa nhận
hôn nhân giữa những ngƣời cùng giới tính; cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo, quy định chế độ tài sản của vợ chồng…những quy định mới này đã đáp ứng kịp
thời các yêu cầu khách quan của cuộc sống hôn nhân và gia đình trong tình hình mới,
đảm bảo thực hiện tốt hơn quyền con ngƣời, quyền công dân trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình; bình đẳng giới, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức truyền
thống, phong tục tập quán tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam.

6

Theo TTXVN Quỳnh Hoa, Luật hôn nhân và gia đình còn nhiều hạn chế và bất cập, Dự thảo online, 2014,

duthaoonline.quochoi.vn/Du thao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View-Detail. aspx?ItemID=1211, [ ngày truy cập
22-10-2014].

của mình đã trực tiếp tạo ra tài sản đó bằng chính sức lao động của mình nhƣ xây dựng
nhà ở, mua sắm đồ vật dụng trang trí nội thất trong nhà…hay thuê, mƣớn ngƣời khác
tạo ra tài sản theo yêu cầu và mong muốn của vợ, chồng sau đó bằng việc trả công lao
động các hợp đồng cụ thể cho các tổ chức sản xuất, kinh doanh đã làm. Tài sản có thể
do công sức đóng góp của hai vợ, chồng hoặc chỉ do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kì


hôn nhân bằng cách trực tiếp nhƣ lao động sản xuất, tiền lƣơng…hay gián tiếp có đƣợc
qua các giao dịch dân sự nhƣ buôn bán, đầu tƣ kiếm lợi nhuận. Theo khoản 2 Điều 59
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lao động mà tài sản chỉ do một ngƣời tạo ra thì
vẫn coi nhƣ vợ, chồng cùng đóng góp công sức vào việc tạo lập khối tài sản chung. Dù
vợ chồng làm việc ở những nghành nghề khác nhau với mức thu nhập cũng khác nhau
song mọi thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh của vợ chồng đều là tài
sản chung của vợ chồng. Điều này phù hợp với điều kiện kinh tế thị trƣờng theo định
hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta hiện nay và phù hợp hơn với quy định về quyền
nhân thân của vợ chồng là quyền tự do lựa chọn việc làm của chính mình. Cũng chính
công việc và công sức lao động của mỗi ngƣời đều góp phần vào tài sản chung của vợ
chồng. Trong đời sống hiện nay nguồn thu nhập chính yếu là thu nhập từ tiền lƣơng,
tiền công lao động, những nguồn thu nhập và tài sản do vợ chồng làm kinh tế gia đình
nhƣ: chăn nuôi, trồng trọt…hoặc lợi nhuận thu đƣợc khi kinh doanh
Thu nhập do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh là khoản thu nhập từ
các khoản tiền lƣơng cơ bản, các loại phụ cấp nhƣ chức vụ, trách nhiệm, làm việc tại
vùng xa, vùng sâu, chất độc hại và một số khoản thu nhập từ tiền nhuận bút, công tác
chi phí, trợ cấp thƣờng xuyên, định kỳ hoặc bất thƣờng, trợ cấp lễ, tết, trợ cấp sinh
hoạt theo chức vụ cũng là thu nhập do lao động tạo ra . thu nhập do lao động, hoạt
động sản xuất, kinh doanh cũng chỉ là thu nhập bao gồm cả lợi nhuận thu đƣợc từ việc
bán sản phẩm, hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ, cung nhƣ các khoản thu đƣợc từ hoạt
động nghề nghiệp nhƣ săn bắn, đánh bắt…lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh có
thể mang tính chất vụ việc, thời vụ hoặc thƣờng xuyên, có thể mang tính chất hoạt
động chân tay đơn giản hoặc hoạt động của trí tuệ. thu nhập hợp pháp của vợ chồng

xuất, kinh doanh từ đó hàng tháng A thu lợi nhuận là 30 triệu đồng, B có tài sản riêng
là một mảnh đất và B dùng vào mục đích trồng trọt, chăn nuôi hàng tháng B thu đƣợc
10 triệu đồng. Sau đó, hai vợ chồng muốn phát triển việc đầu sản xuất kinh doanh
riêng của mình nên đã thỏa thuận chia phần tài sản chung là 500 triệu đồng và mỗi bên
đƣợc 250 triệu đồng, việc thỏa thuận chia tài sản chung là do hai vợ, chồng muốn
tránh rủi ro cho gia đình khi dùng tiền đó để đầu tƣ sản xuất thêm. Vì vậy, đối với
phần hoa lợi, lợi tức mà A thu đƣợc 30 triệu đồng hàng tháng từ khoản tiền 300 triệu
đồng và B thu đƣợc 10 triệu đồng từ mảnh đất riêng của B đều thuộc khối tài sản
chung của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân. Còn khoản hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
phần tài sản mà hai bên có đƣợc do thỏa thuận chia tài sản chung thì thuộc tài sản
riêng của mỗi bên.
Từ ví dụ trên, kết luận đƣợc là các khoản hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản
riêng của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng phù hợp với
quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, và đối với hoa lợi,
lợi tức phát sinh từ tài sản mà vợ, chồng có đƣợc do chia tài sản chung trong thời kì
hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014 là: “Trong trƣờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì
phần tài sản đƣợc chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi
chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trƣờng hợp vợ, chồng có thỏa
thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ, chồng.”
2.1.3 Tài sản chung của vợ, chồng có được từ những thu nhập khác trong thời kì
hôn nhâ


Thu nhập hợp pháp khác là những khỏan thu nhập không do lao động có đƣợc là
các hoa lợi, lợi tức từ tài sản, do việc khai thác tự nhiên hoặc khai thác pháp lý: cây
con sinh ra từ cây mẹ, gia súc con sinh ra từ gia súc mẹ, cá con, trứng, tiền cho thuê
nhà, tiền lãi tiết kiệm, lợi tức cổ phiếu, trái phiếu, tiền thu đƣợc từ việc cho phép sử
dụng tác phẩm.7 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 do mới ban hành nên chƣa có
nghi định hƣớng dẫn cụ thể về “ thu nhập hợp pháp khác” bao gồm những khỏa thu

TS. Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân gia đình Việt Nam, Tập 2- Các quan hệ tài sản

giữa vợ chồng, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, năm 2004, trang 46.


không nhất thiết phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo ra tài sản đó, tài sản chung
của vợ chồng đƣợc tạo ra cũng không phụ thuộc vào điều kiện của vợ chồng là phải ở
chung hay ở riêng; theo quy định về tài sản chung của vợ chồng thì tài sản mà vợ
chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng .
2.1.5 Tài sản chung của vợ, chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có
được sau khi kết hôn
Tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn ghi nhận: “ Quyền
sử dụng đất mà vợ, chồng có đƣợc sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ, chồng, trừ
trƣờng hợp vợ hoặc chồng thừa kế riêng, đƣợc tặng cho riêng hoặc có đƣợc thông qua
giao dịch bằng tài sản riêng”. Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm quyền sử
dụng đất mà vợ chồng có đƣợc sau khi kết hôn.8 Theo Điều 53 hiến pháp năm 2013 “
Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời tài
nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” và
quy định tại Điều 688 trong bộ luật dân sự năm 2005 “ 1. Đất đai thuộc hình thức sở
hữu nhà nước do Chính phủ thống nhất quản lý, 2. Quyền sử dụng đất của cá nhân,
pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất
hoặc công nhận quyền sử dụng đất, 3. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ
gia đình, chủ thể khác cũng được xác lập do người khác chuyển nhượng quyền sử
dụng đất phù hợp với quy định của bộ luật này và pháp luật về đất đai”, về hình thức
sở hữu thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nƣớc thống nhất và quản lý đất đai theo
quy hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đúng mục đích và đem lai hiệu quả cho mục
đích sử dụng đó. Thực chất, trong quan hệ hôn nhân của vợ chồng thì quyền sử dụng
đất là một phần tài sản chung hoặc tài sản riêng của hai vợ chồng, quyền sử dụng đất
là một loại quyền dân sự đặc thù, là một loại quyền phụ thuộc, chịu sự chi phối bởi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status