VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH VÀ ĐĂNG KÝ TÀI SẢN
CỦA VỢ, CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN
GIA ĐÌNH NĂM 2000
TRẦN THỊ MAI PHƯỚC
Trường ĐHDL Văn Hiến TP.HCM
Nghiên cứu về quá trình giải quyết một vụ án hôn
nhân và gia đình (HNGĐ), người ta nhận thấy rằng
vấn đề phân chia tài sản của vợ chồng là một trong
những vấn đề khó khăn, phức tạp và không kém phần
quan trọng. Tuy nhiên, để phân chia được, trước hết
người ta phải xác định được đâu là tài sản (TS) phải
chia, không chia và không được chia. Nghĩa là Tòa
án phải xác định được đâu là TS chung của vợ chồng,
đâu là TS riêng của mỗi người và đâu là TS của
người thứ ba mà vợ chồng đang quản lý. Trong phạm
vi bài viết này, tác giả muốn đề xuất và phân tích giải
pháp góp phần đơn giản hóa việc xác định TS của vợ
chồng – đó chính là điều kiện để giải quyết những
khó khăn, phức tạp tồn đọng trong giai đoạn khác
(giai đoạn phân chia TS).
“TS của vợ chồng” ở đây bao gồm cả TS riêng và TS
chung của họ trong khối TS hiện còn của gia đình.
Thực chất việc xác định TS chỉ được tiến hành khi
trên thực tế vấn đề phân chia TS giữa vợ chồng được
đặt ra. Thông thường, yêu cầu đó được đặt ra ngay
khi hôn nhân chấm dứt (ly hôn, một bên chết hoặc bị
Tòa án tuyên bố chết) nhưng cũng có lúc nó được đặt
ra ngay cả trong thời kỳ hôn nhân (chia TS chung của
vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại). Tuy nhiên,
đương sự cần phải được trang bị một số kiến thức
là trường hợp vướng mắc nhiều nhất (vì vấn đề này
có liên quan đến nhiều cơ quan, ban, ngành khác).
Bên cạnh đó, những tốn kém đáng kể về thời gian,
tiền của của Nhà nước và nhân dân là điều không
tránh khỏi…
- Trong các trường hợp còn lại, quy định mới về việc
đăng ký TSC thực sự không có ý nghĩa. Bởi lẽ đối
với loại TSC mà không thực hiện (1b) hoặc thực hiện
không được việc đăng ký chung (2b) thì rõ ràng
những quy định mới chưa được thực thi.
- Vì đăng ký TSC là một thủ tục hành chính nên yêu
cầu của vấn đề này thường đặt ra rất cao (với các yếu
tố có liên quan như hộ khẩu thường trú, giấy tờ tùy
thân của đương sự…). Do vậy, sẽ có trường hợp chỉ
có một người (vợ hoặc chồng) đủ điều kiện đứng tên
đăng ký (2b). Khi đó, những TSC thay vì phải đăng
ký chung thì trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu,
quyền sử dụng TSC lại mang tên một người. Trên cơ
sở này, khi xác định TS của vợ chồng, chúng ta sẽ
xác định loại TS này là chung hay riêng?
+ Nếu coi đây là TSC thì lại trái với quy định mới về
việc đăng ký TSC tại khoản 2 Điều 27. Bởi vì Luật
quy định TSC thì phải đăng ký chung, nghĩa là Giấy
chứng nhận phải có tên 2 người thì TS đó mới là
TSC. Nhưng khi không đăng ký được, TSC do một
người đứng tên cũng được coi là TSC (?).
+ Nếu coi đây là tài sản riêng (TSR) thì lại trái với
quy định tại khoản 1 Điều 27: “TSC của vợ chồng
gồm TS do vợ chồng tạo ra… trong thời kỳ hôn
nhân”, nhưng khi không đăng ký chung được thì đó
hôn:
+ Phần khai về tài sản riêng: đương sự liệt kê những
tài sản hiện có mà mình không muốn nhập vào khối
TSC.
+ Phần ghi tài sản chung: bao gồm các TS mà hai
người cùng tạo lập trước hôn nhân và những tài sản
riêng mỗi bên tự nguyện nhập vào (không quan tâm
đến việc TS do mấy người đứng tên).
+ Nếu không kê khai những TS có giá trị nhỏ, không
đáng kể vào phần tài sản chung hay riêng thì về sau,
những TS này là của chung (TS có giá trị nhỏ ở đây
chỉ mang tính tương đối như các vật dụng trong gia
đình…, đó không phải là những món đồ trang sức,
vật kỷ niệm, đồ dùng cá nhân…)
+ Việc kê khai phải do chính đương sự thực hiện, tự
mình ký tên hoặc điểm chỉ trước sự thừa nhận của
bên kia và cán bộ có thẩm quyền. Việc kê khai chỉ có
ý nghĩa giữa vợ và chồng mà có thể không có ý nghĩa
đối với người thứ ba.
Để thực thi giải pháp này, công tác tuyên truyền pháp
luật phải trực tiếp và có hiệu quả hơn. Chúng tôi kiến
nghị cấp thêm cho mỗi cặp vợ chồng một văn bản
Luật HNGĐ hiện hành (cùng lúc với Giấy chứng
nhận kết hôn).
Đối với những cặp vợ chồng đã đăng ký kết hôn (đã
ổn định cuộc sống, có con chung và TSC), thì nên
tiến hành kê khai TS vào ngay thời điểm này – thời
điểm bắt đầu áp dụng Luật HNGĐ mới. Quá trình
này sẽ được tiến hành song song với việc kê khai TS
của cán bộ, công chức; nghiêm túc và triệt để như
(vẫn 1 người đứng tên)
a. Đăng ký chung được xác định là TSC:
(đứng tên 2 người) phù hợp với quy định mới
2. TSC chưa đăng ký
QSH, QS b. Không đăng ký chung Nếu xác định là
TSC: trái với quy định mới
được (đứng tên 1 người) về đăng ký TSC (K2, Đ27)
Nếu xác định là TSR: trái với khái niệm về
TSC (K1, Đ27)
BẢng kê khai tài sản cỦa vỢ chỒng
(Mẫu kiến nghị)
(Phần này có thể được bổ sung vào mặt sau của Giấy
chứng nhận kết hôn (mặt B) hoặc vào một Bảng kê
khai riêng đính kèm).