Báo cáo nghiên cứu khoa học: " VẤN ĐỀ DI DÂN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỪ LÝ LUẬN ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(38).2010
157
VẤN ĐỀ DI DÂN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA -
TỪ LÝ LUẬN ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH
IMMIGRATION IN THE PROCESS OF URBANIZATION-
FROM THEORY TO POLICY ORIENTATION

Trương Bá Thanh, Đào Hữu Hòa
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Đô thị hóa là xu thế phát triển tất yếu của các quốc gia trên thế giới. Đó là việc gia tăng
không gian, hoặc mật độ dân cư, hoặc thương mại, hoặc các hoạt động khác trong một khu vực
nhất định theo thời gian. Đô thị hóa luôn đồng hành cùng quá trình di cư từ nông thôn vào
thành thị. Chính dòng di cư này đã tạo ra sự thịnh vượng cho các đô thị, song bản thân nó cũng
đẻ ra vô số hệ lụy cho đô thị như là nạn thất nghiệp gia tăng, ách tắc giao thông ngày càng
thêm trầm trọng, thiếu nhà ở, vệ sinh môi trường kém, thiếu trường học, thiếu dịch vụ y tế,
chăm sóc sức khỏe, tệ nạn xã hội gia tăng… Báo cáo này đi vào nghiên cứu nguồn gốc của
việc di cư để từ đó đề xuất các biện pháp nhằm chủ động kiểm soát dòng di cư trong quá trình
đô thị hóa.
ABTRACT
Urbanization is an inevitable trend for development in many countries all over the world.
This is concerned with the increase in space, density residential sections, commercial or other
activities in a certain area over the time. Urbanization is always associated with the course of
migration from rural to urban areas. The main line of this migration has generated prosperity for
urban areas, but it has created numerous problems for metropolitan areas such as
unemployment rise, serious traffic congestion, housing problems, poor sanitation, shortage of
education, health services and health care and increase in social evils. This article deals with
the origin of migration so as to propose measures in the control of migration flow in urbanization
processes.


2. Đô thị hóa và quá trình di dân dưới góc nhìn lý thuyết
Để lý giải cho nguồn gốc sự di dân từ khu vực nông thôn vào thành thị diễn ra
trong quá trình đô thị hóa, Kinh tế học Phát triển đã đưa ra nhiều mô hình lý thuyết khác
nhau, trong đó được thừa nhận rộng rãi nhất phải kể đến các mô hình sau đây:
2.1. Mô hình khu vực kép (Dual Sector Model) của Arthur Lewis
Mô hình này giải thích hiện tượng lao động dư thừa từ khu vực sản xuất nông
nghiệp truyền thống (đặc trưng cho nông thôn) được chuyển dịch sang các ngành sản
xuất chế biến hiện đại (đặc trưng cho đô thị) trong quá trình công nghiệp hóa.
Mô hình giả định rằng, trong nền kinh tế chỉ tồn tại 02 khu vực: khu vực sản
xuất nông nghiệp truyền thống và khu vực sản xuất chế biến hiện đại. Ngành nông
nghiệp truyền thống phổ biến là lao động thủ công, năng suất thấp nên có mức lương
thấp. Ngược lại, các ngành sản xuất chế biến hiện đại thường có năng suất cận biên cao,
mức lương cao hơn khu vực kinh tế nông nghiệp, và có nhu cầu tăng thêm lao động. Mô
hình cũng giả định việc cải thiện năng suất cận biên của lao động trong ngành nông
nghiệp ít được ưu tiên hơn tại các quốc gia đang phát triển. Điều này dẫn đến xu hướng
chuyển dịch các khoản “lợi nhuận ròng” thu được từ khu vực sản xuất nông nghiệp sang
các ngành sản xuất công nghiệp.
Do sản xuất nông nghiệp bị hạn chế về mặt diện tích đất sản xuất, do đó sản
phẩm cận biên tăng thêm của một nông dân được giả định sẽ tiến đến zero theo quy luật
“lợi nhuận biên giảm dần”. Kết quả là, trong ngành nông nghiệp tồn tại một số lượng
lao động không đóng góp làm tăng sản lượng nông nghiệp kể từ khi sản phẩm cận biên
của họ bằng không. Nhóm nông dân này chính là nguồn “lao động dư thừa” từ khu vực
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(38).2010
159
nông nghiệp. Do có sự khác biệt về tiền lương giữa ngành sản xuất nông nghiệp và các
ngành sản xuất chế biến hiện đại nên đội quân lao động dư thừa này sẽ được dịch
chuyển tới các ngành sản xuất khác mà không làm ảnh hưởng đến sản lượng đầu ra của
ngành nông nghiệp.
Nếu số lượng người lao động di chuyển từ nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất
khác bằng với số lượng “lao động dư thừa” trong lĩnh vực nông nghiệp, phúc lợi và

[2]
:
Gọi:
• W
r
là mức lương (năng suất lao động biên) trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn;
• L
e
là tổng số công ăn việc làm có sẵn trong khu vực đô thị, cần được cân bằng
với số lượng công nhân làm việc ở đô thị;
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(38).2010
160
• L
us
là tổng số người đang làm việc, cần tìm việc và thất nghiệp trong khu vực
đô thị;
• W
u
là mức lương trong khu vực đô thị (có thể được thiết lập bởi quy định mức
lương tối thiểu của pháp luật).
Ở trạng thái cân bằng,
u
us
e
r
w
l
l
W 


• Năng suất lao động nông nghiệp giảm, làm giảm năng suất cận biên và tiền
lương trong lĩnh vực nông nghiệp (W
r
), giảm thu nhập kỳ vọng ở khu vực nông thôn.
Mô hình Harris – Todaro cho phép giải thích được lý do tồn tại tình trạng thất
nghiệp ở các đô thị tại các nước đang phát triển, và tại sao người dân lại chuyển tới các
thành phố mặc dù đang tồn tại nan giải vấn đề thất nghiệp. Để giải quyết vấn đề này, mô
hình Harris – Todaro thừa nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế phi chính thức (Informal
Sector)
[3]
. Đó là khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động, không hoàn toàn là bất hợp
pháp, nhưng thường cũng không được sự thừa nhận chính thức của xã hội và hầu hết
các hoạt động này đều không đăng ký với nhà nước. Chẳng hạn như lao động phục vụ
gia đình, hành nghề tự do, xe ôm, bán hàng rong, mài dao kéo, dịch vụ ăn uống vỉa hè,
thu lượm ve chai đồng nát, đánh giày, sơn đông mãi võ, mại dâm v.v
Việc di cư ồ ạt của lao động nông thôn vượt quá khả năng tạo việc làm ở khu
vực đô thị, kết quả là nhiều người lao động không tìm được việc làm trong khu vực
kinh tế chính thức, phải chấp nhận bổ sung vào khu vực kinh tế phi chính thức.
Sự hiện diện của khu vực kinh tế phi chính thức đã giúp giải thích cho việc tại
sao tỷ lệ thất nghiệp tại các đô thị cao nhưng vẫn có hàng dòng người từ nông thôn đổ
vào thành thị tìm việc làm. Bởi vì họ sẵn sàng bổ sung vào khu vực kinh tế phi chính
thức, nơi đồng tiền kiếm được vẫn cao hơn ở lại nông thôn. Ngay cả khi sự di chuyển
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(38).2010
161
này tạo ra thất nghiệp tại các đô thị và dẫn đến sự phát triển không mong đợi ở khu vực
kinh tế phi chính thức, thì hành vi này vẫn được xem là hợp lý xét về khía cạnh kinh tế
vì nó tối đa hóa lợi ích trong các điều kiện mà mô hình Harris – Todaro giả định.
Vì vậy, xét trên tổng thể để kiểm soát di cư từ nông thôn vào thành thị trong quá
trình đô thị hóa cần giải quyết đồng bộ tất cả các vấn đề trên cả 03 khu vực kinh tế bao
gồm: khu vực kinh tế đô thị chính thức; khu vực kinh tế đô thị phi chính thức và khu

đổ dồn vào thành phố, một mặt do ở nông thôn thiếu việc làm hấp dẫn, mặt khác do tỷ
lệ sinh đẻ ở khu vực này thường cao đã làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp tại
các đô thị, làm gia tăng nhanh chóng số lao động trong khu vực phi chính thức.
Vì vậy, muốn kiểm soát dòng di cư từ nông thôn vào thành thị, chính phủ các
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(38).2010
162
nước cần cân nhắc chính sách đầu tư, tránh thiên lệch cho khu vực đô thị, dẫn đến “bỏ
rơi” nông thôn như hiện nay.
3.2. Các nhà hoạch định chính sách phải nhận thức được rằng việc tạo ra công ăn
việc làm ở thành thị nhiều hơn có thể không phải là giải pháp để giải quyết vấn đề
thất nghiệp ở đô thị
Trong chính sách giải quyết việc làm hiện nay, các cấp chính quyền thành phố
thường nghĩ rằng việc tạo ra nhiều công ăn việc làm trong thành phố sẽ giúp giải quyết
áp lực thất nghiệp cho khu vực đô thị. Tuy nhiên thực tế không đơn giản như vậy, trong
điều kiện thị trường lao động tự do, khi cơ hội việc làm ở đô thị tăng lên sẽ kéo theo sự
kỳ vọng về có việc làm tăng lên trong khi thu nhập từ khu vực nông thôn không được
cải thiện. Theo lý thuyết của Harris – Todaro, điều này tất yếu sẽ kéo theo dòng dịch
chuyển lao động nhập cư từ khu vực nông thôn vào thành phố, làm cho tình trạng thất
nghiệp càng trở nên trầm trọng tại các đô thị ở các nước đang phát triển.
Vì vậy, muốn giải quyết thất nghiệp ở đô thị, các nhà quản lý vĩ mô cần hướng vào
phát triển các ngành nghề đòi hỏi chất lượng lao động cao, hàm lượng tri thức cao nhưng
không đòi hỏi sử dụng nhiều lao động tại đô thị. Chính sách này một mặt vẫn đảm bảo cho
sự thịnh vượng của các đô thị, mặt khác không dẫn đến tình trạng thu hút quá đông lao
động từ nông thôn vào thành thị, vì không có nhiều cơ hội có việc làm tại đô thị cho bộ
phận lao động có chuyên môn thấp, vốn rất đông đúc ở khu vực nông thôn.
Việc làm giảm các cơ hội việc làm đối với lao động có chuyên môn thấp ở khu
vực đô thị cũng góp phần đảm bảo cho mật độ dân cư tại các đô thị không quá cao, làm
giảm cơ hội tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức.
Cùng với giải pháp đó, các thành phố cần tăng cường trách nhiệm trong việc hợp
tác với các địa phương khác trong khu vực để đẩy mạnh phát triển kinh tế tại khu vực

công việc về đúng trình độ của người lao động.
3.4. Sử dụng linh hoạt công cụ trợ cấp đối với khu vực nông thôn để cải thiện thu
nhập thực tế cho người lao động, giảm áp lực di cư
Động lực thúc đẩy lao động nông thôn tràn vào thành thị tìm việc làm xuất phát
từ sự kỳ vọng về có việc làm ở đô thị và mức lương được nhận. Vì vậy, để hạn chế dòng
dịch chuyển này trong điều kiện vẫn đảm bảo cho phúc lợi xã hội cân bằng ở mức cao,
ngoài việc tạo ra các cơ hội việc làm tốt hơn ở khu vực nông thôn, hạn chế phát triển
các ngành nghề sử dụng nhiều lao động trình độ thấp ở đô thị như đã được giới thiệu
trong các định hướng trên. Một hướng khác cũng cần được quan tâm, đó là làm tăng thu
nhập kỳ vọng ở nông thôn để hạn chế dòng người di cư từ nông thôn lên thành thị.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, mức lương ở khu vực nông thôn (W
r
) phụ thuộc vào
năng suất lao động biên trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, thường thấp hơn ở khu
vực đô thị. Vì vậy, để không khuyến khích lao động nông thôn vào thành thị cần sử
dụng 01 khoản trợ cấp của chính phủ (S) bổ sung cho mức tiền lương (W
r
), tức là:
SWW
rr

'

Lúc này,
u
us
e
r
w
l

sách tập trung vào cả nguồn thu từ khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp đều
phải được chú trọng
Tăng cường các chính sách khuyến khích đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông
thôn để thu hút các nguồn vốn đầu tư từ các khu vực kinh tế khác, hạn chế dòng chảy
“lợi nhuận ròng” từ khu vực nông thôn đổ dồn về thành phố.
Khi nghiên cứu về tác động của các trang trại nhỏ đối với quá trình đô thị hoá ở
Thung lũng San Jaoquin, California, Hoa Kỳ năm 1940, Walter Goldschmidt đã nhận
thấy “Tình trạng các khoản thu nhập kiếm được từ hoạt động nông nghiệp đã bị rút ra
khỏi khu vực nông thôn để đầu tư vào các xí nghiệp công nghiệp tại các thành phố,
chính điều này đã “giết chết” khu vực nông thôn”
[1]
.
Điều này cũng đang diễn ra tại Việt Nam, việc các trang trại nuôi tôm, trồng cà
phê, tiêu, cao su ở các vùng nông nghiệp tập trung ở nước ta đã thu được những khoản
lợi nhuận rất lớn trong các giai đoạn nhất định. Tuy nhiên, khoản lợi nhuận rất lớn này
hầu như không được giữ lại trong khu vực sản xuất nông nghiệp để tái sản xuất, hầu hết
chúng đã được rút ra để đầu tư vào bất động sản ở các đô thị lớn hoặc chuyển hướng
đầu tư sang công nghiệp, dịch vụ. Vì vậy, chương trình phát triển vùng nông thôn cần
phải được khuyến khích để thu hút các nguồn vốn đầu tư của xã hội kể cả nguồn vốn
tích lũy trong bản thân khu vực nông nghiệp nông thôn đầu tư cho nông thôn sẽ là chính
sách quan trọng, lâu dài để giải quyết vấn đề di dân, thất nghiệp và xã hội tại các đô thị
tại các nước đang phát triển.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Goldschmidt, Walter (1978), “The Communities of the San Joaquin Valley: The
Relationship between Scale of Farming, Water Use, and the Quality of Life”,
Testimony before the House Subcommittee on Family Farms, Rural Development,
and Social Studies, Sacramento, CA, October 28, 1977.
[2] Amano, M. (1983): “On the Harris-Todaro Model with Intersectoral Migration of


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status