tài sản riêng của vợ, chồng theo luật hôn nhân và gia đình - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2012-2015

Đề tài:

TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG THEO LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

NGUYỄN THỊ MỸ LINH
Bộ môn: Luật Tư pháp

NGUYỄN THỊ KIM NGỌC
MSSV: S120052
Lớp: Luật bằng 2- Đồng Tháp

Cần Thơ, 11/ 2014


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

MỤC LỤC

Trang

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình
2.1.1.3. Tài sản riêng có được do chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân .......................................................................................................... 16
2.1.1.4. Hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản chung đã được chia ...................... 18
2.1.1.5. Tài sản riêng là tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và các
tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng
............................................................................................................................. 19
2.2. Căn cứ ghi nhận tài sản riêng của vợ, chồng theo thỏa thuận .................. 21
2.3. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng do mình quản lý
............................................................................................................................. 24
2.3.1. Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng ............................................. 24
2.3.2. Nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng ......................................... 28
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ TÀI SẢN RIÊNG THEO LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2000 - NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT 2014
3.1. Thực trạng về chế độ tài sản riêng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2000
............................................................................................................................. 31
3.2. Những điểm mới về chế độ tài sản riêng theo Luật Hôn nhân và gia đình
2014 ....................................................................................................................... 33
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện về chế độ tài sản riêng cho Luật Hôn
nhân và gia đình 2014 ........................................................................................... 35

PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................... 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong đời sống hôn nhân, trong thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc thì
thường không quan tâm đến vấn đề tài sản đó là của chung hay của riêng. Khi tình
cảm vợ chồng bất hòa, mâu thuẫn thì vấn đề tài sản mà đặc biệt là về tài sản riêng
của vợ chồng thường là vấn đề bị tranh cãi nhiều nhất.
Vấn đề tài sản của vợ chồng là vấn đề rất khó giải quyết hiện nay trong quan
hệ vợ chồng nhất là khi xảy ra việc ly hôn và có tranh chấp về tài sản. Bởi lẽ, Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam cho phép vợ chồng có quyền có tài sản chung và tài
sản riêng nhưng không phải lúc nào tài sản chung và tài sản riêng cũng được phân
chia rõ ràng.
Hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945
đến nay đã có nhiều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng nói chung cũng như về

quy định về tài sản riêng của vợ, chồng tương đối cụ thể và có nhiều điểm mới. Luật
Hôn nhân và gia đình 2014 ra đời phần nào cũng đã hoàn thiện hơn những bất cập
và vướng mắc mà Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã gặp phải. Trong đó phải kể
đến là sự điều chỉnh của luật về tài sản riêng của vợ, chồng.
Mặt khác mỗi cá nhân trong xã hội không chỉ gắn bó với gia đình bởi tính
chất cộng đồng dựa trên quan hệ hôn nhân mà còn bằng tính độc lập của mỗi người
với tư cách là thành viên của xã hội. Do đó trong đời sống gia đình ngoài các quan
hệ tình cảm giữa vợ và chồng, còn có những quan hệ xã hội gắn bó với người thân,
bạn bè, đồng nghiệp của mình. Những quan hệ này về mặt nào đó phải dựa trên
những điều kiện vật chất nhất định.
Để tìm hiểu rõ hơn quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về vấn đề
tài sản riêng của vợ, chồng; sự cần thiết phải ghi nhận quyền có tài sản riêng, cũng
như những điểm mới, những thay đổi so với Luật Hôn nhân và gia đình 2000, tôi
quyết định chọn đề tài “Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia
đình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các
quy định của luật thực định về tài sản riêng của vợ, chồng, tìm hiểu thực tiễn áp
dụng các quy định của pháp luật. Từ đó tìm hiểu những quy định bất cập, hạn chế
của luật cũ cũng như những thay đổi tiến bộ của luật mới. Trên cơ sở đó có những
nhận xét, kiến nghị về hướng hoàn thiện cho tốt hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu đã nêu trên, đề tài chủ yếu được nghiên cứu trong phạm vi luật
thực định về tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng
như Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam qua các thời kỳ để so sánh, đối chiếu.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài người viết đã sử dụng một số phương pháp
sau:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu về tài sản riêng
của vợ, chồng qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam;

pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó nêu lên những điểm mới, tiến bộ mà Luật Hôn
nhân và gia đình 2014 đã đạt được trong quá trình sửa đổi với điều kiện kinh tế - xã
hội hiện nay.

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

3

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG
Trước khi đi sâu tìm hiểu các quy định cụ thể của pháp luật về tài sản riêng
của vợ, chồng thì chúng ta cần phải nắm rõ một vài khái niệm liên quan đến vấn đề
tài sản riêng, quá trình hình thành và phát triển cũng như những ý nghĩa quan trọng
khi nói về tài sản riêng của vợ, chồng. Tạo cơ sở, nền tảng cho việc đi sâu phân tích
về vấn đề này được tốt hơn.
1.1 Một số khái niệm về tài sản, chế độ tài sản, tài sản riêng của vợ chồng
1.1.1 Khái niệm về tài sản
Trong chế định quyền sở hữu thì tài sản giữ một vai trò quan trọng vừa là đối
tượng của quyền sở hữu vừa là khách thể trong quan hệ pháp luật dân sự.
Khi nhắc đến tài sản thì chúng ta có thể đưa ra nhiều khái niệm khác nhau,
nhưng nhìn chung có thể hiểu theo hai cách sau:
- Theo cách hiểu thông dụng thì tài sản là của cải được con người sử dụng,
một vật cụ thể mà con người có thể nhận biết bằng giác quan hay tiếp xúc.
- Theo từ điển pháp luật thì tài sản là tất cả những gì có thể sở hữu được, bao
gồm cả tài sản hữu hình và vô hình.

mắc nhưng quy định về tài sản theo Bộ luật Dân sự 2005 đã được hoàn thiện thêm
một bước, góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật.
1.1.2. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng
Khi quan hệ hôn nhân ra đời thì không những hình thành nên quan hệ nhân
thân mà còn hình thành nên quan hệ tài sản. Như một tất yếu của cuộc sống chung,
vợ và chồng thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn
tại và phát triển của gia đình. Đây là những quan hệ xảy ra phổ biến trong xã hội và
chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về hôn nhân và gia đình trong một quy
chế được gọi là chế độ tài sản của vợ chồng.
Chế độ tài sản của vợ, chồng là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh
quan hệ tài sản của vợ chồng, bao gồm các qui định về căn cứ xác lập tài sản, quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia
tài sản giữa vợ chồng.
Tài sản được phân loại gồm: tài sản chung và tài sản riêng. Với quan hệ tài
sản chung, vợ chồng cùng tham gia vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài
sản mà họ có quyền sở hữu chung. Trong khi quan hệ tài sản riêng bảo tồn sự độc
lập của mỗi người trong việc xác lập và thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản. 2
Tùy thuộc vào chế độ kinh tế, xã hội cũng như tập quán mà mỗi nước có
cách quy định chế độ tài sản khác nhau. Riêng đối với việc xác lập tài sản của vợ
chồng thì pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung quy định hai cách thức tương
ứng với hai chế độ tài sản của vợ chồng là: chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật
(chế độ hôn sản pháp định) và chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận (chế độ hôn
sản ước định).
- Chế độ tài sản theo pháp luật: là việc pháp luật đề ra các hình thức xác lập
và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản của họ.
- Chế độ tài sản theo thỏa thuận: là việc vợ chồng tự thỏa thuận và thỏa thuận
với nhau về việc xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của họ.
Thỏa thuận này thường được thể hiện dưới dạng văn bản dưới nhiều tên gọi như hôn
ước, hợp đồng tiền hôn nhân hay thỏa thuận trước hôn nhân…
Vợ, chồng có thể lựa chọn một trong các chế độ tài sản do pháp luật quy

và nghĩa vụ của vợ, chồng khi thực hiện quyền sở hữu tài sản riêng của mình.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển quy định của pháp luật về tài sản riêng
của vợ, chồng
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, mỗi chế độ xã hội đều quy định
một chế độ tài sản giữa vợ chồng cho phù hợp với phong tục, tập quán và hoàn cảnh
kinh tế xã hội.
1.2.1. Tài sản riêng trước Cách mạng tháng tám 1945
Trong thời kỳ phong kiến, do ảnh hưởng nặng nề tư tưởng Nho giáo, gia đình
có vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội, với tư tưởng chủ đạo là “trọng nam
khinh nữ”. Theo triết lý Nho giáo thì địa vị của người phụ nữ rất thấp kém, họ
không có quyền gì trong gia đình mà bị ràng buộc bởi thuyết tam tòng. Nên khi
người vợ lấy chồng là thuộc hẳn về nhà chồng, người chồng là trụ cột của gia đình
đồng thời là chủ sở hữu các tài sản trong gia đình, là người có mọi quyền quyết định
vì lợi ích, quyền lợi của gia đình nên trong thời kỳ này pháp luật chưa quy định về
chế độ tài sản chung hay chế độ tài sản riêng của vợ chồng.
Với sự tiếp nhận các phong tục, tập quán có lợi Bộ luật nhà Lê đã phản ánh
một cách hợp lý mối quan hệ giữa vợ chồng phù hợp với thực tế xã hội Việt Nam
lúc bấy giờ. Do đó địa vị của người phụ nữ được cải thiện hơn so với trước. Bộ luật
này công nhận vợ chồng đều có quyền sở hữu đối với tài sản riêng, tiến bộ hẳn hơn
so với tư tưởng Nho giáo trưóc đây. Và tài sản riêng của vợ chồng được quy định
theo Bộ luật này là “tài sản mà mỗi bên vợ chồng có được trước khi kết hôn, thừa kế
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

6

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình


chính thức. Vì vậy khi mà hôn nhân chấm dứt thì các tài sản riêng của vợ chồng đã
được hợp nhất tạm thời vào khối tài sản chung của vợ chồng được tách ra chia theo
nguyên tắc tài sản riêng của bên nào thì sẽ thuộc về bên đó.
Như vậy, Bộ luật Bắc kỳ và Bộ luật Trung kỳ quy định về chế độ tài sản của
vợ chồng có tiến bộ hơn so với pháp luật Nam kỳ. Tuy nhiên nhìn chung là trong

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

7

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

chế độ cũ, chế độ tài sản của vợ chồng thể hiện sự bất bình đẳng giữa nam và nữ,
giữa vợ và chồng trong gia đình.
1.2.2. Tài sản riêng sau Cách mạng tháng tám 1945
Sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay Nhà nước ta ban hành các văn
bản pháp luật về Hôn nhân và gia đình phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất
nước, trong đó cũng đã đặc biệt chú ý đến chế độ tài sản giữa vợ chồng.
1.2.2.1. Luật Hôn nhân và gia đình 1959
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (có hiệu lực ngày 13 tháng 01 năm
1960), là Luật Hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta được xây dựng và thực
hiện với hai nhiệm vụ cơ bản:
+ Xóa bỏ những tàn tích của chế độ Hôn nhân và gia đình phong kiến lạc
hậu;
+ Xây dựng chế độ Hôn nhân và gia đình mới của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã có quy định “Vợ
chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có

ngày 29 tháng 12 năm 1986 và được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 03 tháng 01
năm 1987. Luật gồm 10 chương, 57 điều, được xây dựng và thực hiện theo các
nguyên tắc:
+ Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ;
+ Hôn nhân một vợ một chồng;
+ Vợ chồng bình đẳng;
+ Bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ và con;
+ Bảo vệ bà mẹ và trẻ em.
Do được ban hành vào thời kỳ đầu của sự nghiệp đổi mới cho nên khi dự liệu
về tài sản riêng của vợ, chồng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy định
một cách hợp lý, tránh được sự mất ổn định về tài sản trong gia đình. Về chế độ tài
sản của vợ chồng, Luật không ghi nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận mà chỉ quy
định chế độ cộng đồng tạo sản. Đặc biệt Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy
định về chế độ tài sản của vợ, chồng khác về căn bản so với Luật Hôn nhân và gia
đình năm 1959. Với chế độ tài sản là chế độ cộng đồng tạo sản theo Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1986 thì phạm vi khối tài sản chung của vợ, chồng hẹp hơn nhiều
so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. Đó cũng là yêu cầu của công tác lập
pháp và thực hiện pháp luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.
Lần đầu tiên quyền có tài sản riêng của vợ, chồng chính thức được ghi nhận
trong Luật Hôn nhân và gia đình, điều này phù hợp với yêu cầu khách quan của xã
hội. Cụ thể, tại Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy định về quyền
có tài sản riêng của vợ, chồng:“Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết
hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì
người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào tài sản chung của vợ,
chồng”.
Quy định này có tính mở, vợ chồng có thể lựa chọn trong việc nhập hay
không nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ, chồng.
Như vậy, chế độ tài sản giữa vợ chồng mà Luật Hôn nhân và gia đình 1986
quy định đã tạo ra môi trường pháp lý đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
tài sản giữa vợ và chồng; đảm bảo sự tự do của vợ, chồng khi tham gia các giao dịch

“ Vợ chồng có quyền có tài sản riêng.
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà vợ, chồng có trước khi kết hôn;
tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản
được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 (khi hôn nhân tồn
tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự
riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ, chồng có thể thỏa thuận chia tài sản
chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được
thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết) và Điều 30 (trong trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở
hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vân thuộc sở hữu chung
của vợ, chồng); đồ dùng, tư trang cá nhân”.
Như vậy, so với quy định tại Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
thì Khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể và
mới hơn về căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng là dựa vào thời điểm trước
khi kết hôn, dựa vào sự định đoạt của chủ sở hữu tài sản đã chuyển dịch tài sản của
mình cho mỗi bên vợ, chồng và dựa trên sự kiện chia tài sản chung của vợ, chồng
trong thời kỳ hôn nhân.
1.2.2.4. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Về chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và
gia đình các năm 1959, 1986, 2000 chỉ quy định một chế độ tài sản của vợ, chồng là
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

10

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

chế độ tài sản pháp định. Chế độ cộng đồng tạo sản là chế độ hôn sản pháp định

thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định các điều 38,
39 và 40 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì luật bỏ quy định tài sản riêng là tư
trang, đồ dùng cá nhân mà thêm vào đó là tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ,

3

Khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

11

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

chồng và các tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của
vợ, chồng.
1.3. Ý nghĩa của việc quy định về tài sản riêng của vợ, chồng
Việc pháp luật ghi nhận cho vợ, chồng có quyền có tài sản riêng có những ý
nghĩa quan trọng sau:
Thứ nhất, nước ta đang bước vào nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã
hội chủ nghĩa với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, gia đình đã trở thành
một đơn vị kinh tế trong xã hội. Khối lượng tài sản của công dân tăng lên do đó nhu
cầu riêng cũng nhiều hơn. Từ đó tạo ý thức tâm lý là phải có tài sản riêng để phục
vụ nhu cầu cuộc sống, nghề nghiệp, kinh doanh được chủ động hơn không phải phụ
thuộc vào ai. Tạo cơ sở pháp lý để vợ, chồng có thể chủ động tham gia vào các giao
dịch dân sự và kinh tế, bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của các
thành viên trong gia đình cũng như cá nhân vợ, chồng.

Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

sẽ dẫn đến tình trạng phải che giấu khi thực hiện các nhu cầu này vì phải mang tiếng
là chạm vào tài sản chung của vợ, chồng, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình.
Thứ sáu, nhằm bảo vệ lợi ích của người có tài sản riêng trong thời kỳ hôn
nhân và cũng để dễ dàng cho việc giải quyết quan hệ về tài sản khi ly hôn.
Với những gì đã nêu trên, đó chính là những cơ sở, là nền tảng để tôi thực
hiện đề tài luận văn của mình.

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

13

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

CHƢƠNG 2
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN RIÊNG CỦA
VỢ, CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014
Ngày 19 tháng 6 năm 2014 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được Quốc
hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 7 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng
01 năm 2015, trên cơ sở tiếp thu quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2000,
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định về chế
định tài sản riêng của vợ, chồng. Sự thay đổi này có ý nghĩa to lớn trong việc điều
chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình trong điều kiện mới, hạn chế những bất cập,
vướng mắc tồn tại thời gian qua trong quá trình áp dụng pháp luật.
2.1. Căn cứ ghi nhận tài sản riêng của vợ, chồng
Nếu như Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000 chỉ quy định

2.1.1.1. Tài sản có được trước khi kết hôn
Trước khi kết hôn, hai bên nam nữ là những cá nhân độc lập, chưa phát sinh
một sự ràng buộc pháp lý nào ngoài quan hệ giữa công dân với công dân với nhau
mà thôi. Những thu nhập mà họ tạo ra do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh
và các thu nhập hợp pháp khác đều thuộc sở hữu riêng của mỗi người, được pháp
luật bảo vệ và thừa nhận.
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của xã hội, với những đường lối của
Đảng, chính sách của Nhà nước nhằm đổi mới và phát triển nền kinh tế, khuyến
khích và bằng các biện pháp tạo điều kiện cho công dân tạo ra thu nhập làm giàu
cho cá nhân, gia đình và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần
đang ngày càng cao và phong phú hơn của con người. Xét về nguồn gốc thì tài sản
này không phải được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, không chịu sự tác động của
quan hệ hôn nhân và lợi ích chung của gia đình.
Những tài sản mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn do chính công sức mà
họ làm ra theo tính chất nghề nghiệp, công việc của mình hoặc do người khác
chuyển dịch thông qua các giao dịch dân sự như được tặng cho riêng, thừa kế riêng.
Theo các căn cứ được quy định từ điều 241 đến điều 255 của Bộ luật dân sự 2005
về xác lập quyền sở hữu tài sản thì trước khi kết hôn với tư cách là một công dân,
vợ chồng có quyền có tài sản riêng và có thể xác lập quyền sở hữu của mình đối với
những tài sản này.
Việc quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng trước khi kết hôn là một
trong những quy định được pháp luật hôn nhân và gia đình nhiều nước trên thế giới
ghi nhận. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định như vậy là phù hợp với sự
phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhằm bảo vệ quyền sở hữu của vợ chồng, là
căn cứ pháp lý bảo vệ khối tài sản riêng của vợ, chồng khi có tranh chấp về tài sản
của vợ chồng xảy ra trên thực tế.
2.1.1.2. Tài sản có được do tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn
nhân
Tài sản mà vợ, chồng có được từ thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ
hôn nhân là do ý chí của chủ sở hữu tài sản chỉ tặng cho riêng, hoặc người có di sản

chồng. Chỉ có thể là tài sản chung nếu cả hai vợ, chồng tự nguyện nhập vào khối tài
sản chung hoặc có thỏa thuận tài sản đó là tài sản chung của vợ, chồng.
2.1.1.3. Tài sản riêng có được do chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 tiếp tục kế thừa và phát triển quy định về
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Cụ thể tại Điều 38 quy định “Trong thời
kỳ hôn nhân, vợ, chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản
chung trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu
không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.
Trong khi đó Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 lại quy định “Khi hôn
nhân tồn tại, trong trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa
vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia
tài sản chung”.
Ở đây có thể thấy được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2104 có phần
mở rộng hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình 2000. Luật 2014 quy định là có
quyền thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nếu không rơi vào một trong
các trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật hôn nhân và gia đình 2014. Theo đó,
điều luật này quy định về các trường hợp mà chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân bị vô hiệu như: ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi
ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân
sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; nhằm trốn
tránh thực hiện các nghĩa vụ: nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

16

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình


chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà
pháp luật quy định.
- Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ, chồng thì việc chia tài
sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp
luật.

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

17

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung cũng đã được quy định chi tiết
tại Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
“1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ, chồng thì phần tài sản được
chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản
xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản
chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
2. Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay
đổi quyền, nghĩa vụ tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ
ba”.
Tại Điều 30 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000, hướng dẫn chi tiết tại Điều
8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP cũng đã quy định về hậu quả pháp lý của việc chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Nhìn chung, quy định của Luật Hôn nhân và gia
đình 2014 về hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân so
với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2000 cũng không có gì khác. Tuy

với khối tài sản này mà không phải phụ thuộc vào ý chí của người còn lại (trừ quy
định tại Khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ phần tài sản riêng này cũng đã được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 40 của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ
chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp
khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ
trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”.
Như vậy, những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng sau
khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi bên nếu
như vợ, chồng không có thỏa thuận khác. Một vấn đề được đặt ra là nếu không có
sự kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng có được xem là thuộc tài sản riêng của mỗi
bên hay không? Về vấn đề này thì trước đây tồn tại hai quan điểm:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: hoa lợi, lợi tức không phải là thu nhập mà chỉ
là lợi ích vật chất gắn liền với tài sản gốc đã phát sinh ra. Vì vậy hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản riêng dù trước hay sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân vẫn thuộc sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng.
- Quan điểm thứ hai lại cho rằng: hoa lợi, lợi tức chính là một trong những
nguồn thu nhập của vợ, chồng nên cần phải xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài
sản riêng khi chưa chia tài sản chung thì sẽ thuộc vào khối tài sản chung của vợ,
chồng.
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực vào ngày 01/01/2015 đã quy
định cụ thể hơn về vấn đề này. Theo đó tại Khoản 2 Điều 43 đã quy định “Tài sản
được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ
hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân”. Với quy định này
thì chỉ có hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản được chia trong thời kỳ hôn nhân mới
là tài sản riêng của vợ, chồng (trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận khác), còn
hoa lợi, lợi tức này nếu được tạo ra từ tài sản riêng của mỗi bên mà trong thời kỳ
hôn nhân nhưng không thông qua sự kiện chia tài sản chung thì cũng là tài sản

pháp luật là tài sản riêng của vợ, chồng”. Khi đọc quy định này thì chúng ta nghĩ
rằng đây dường như chỉ là căn cứ để dự liệu cho các trường hợp pháp luật chưa dự
liệu hết nhưng thực tế nó có ý nghĩa rất lớn trong quá trình nhận thức và là cơ sở
pháp lý vững chắc trong áp dụng pháp luật - điều mà Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 chưa thể hiện. Cụ thể, với quy định như vậy giúp dẫn chiếu áp dụng các quy
định của pháp luật khác, xác định cụ thể các loại tài sản đặc biệt thuộc sở hữu riêng
của vợ, chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
Ví dụ: Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004, xác định tài sản mà
người có công cách mạng được nhận trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của
người đó.
Với những căn cứ đã nêu trên thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bỏ
căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng là “tư trang, đồ dùng cá nhân”. Điều
này xuất phát từ nhu cầu giải quyết những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp
dụng pháp luật đối với căn cứ không phù hợp. Bởi vì, theo quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 thì cứ hãy là đồ dùng, tư trang cá nhân là thuộc tài sản
riêng của vợ, chồng mà không có quy định nào hạn chế giá trị tài sản, không quy
định loại tài sản nào được xem là đồ dùng, tư trang cá nhân thuộc sở hữu riêng;
đồng thời pháp luật cũng không xem xét nguồn gốc hình thành đồ dùng tư trang là
từ tài sản chung hay riêng. Do đó, có thể hiểu người nào quản lý, sử dụng tài sản đó
sẽ được xác định là tài sản riêng của người đó. Với quy định như vậy rõ ràng là

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

20

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc


Tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình


những xung đột về tài sản sau khi ly hôn. Từ đó, góp phần làm giảm chi phí khi ly
hôn và giúp Tòa án xác định tài sản riêng, chung dễ dàng và nhanh chóng hơn. Xét
về góc độ kinh tế thì vợ, chồng được tự do thỏa thuận chế độ tài sản sẽ giúp họ giảm
thiểu các rủi ro trong kinh doanh, do đó tránh được tình trạng gia đình bấp bênh khi
cả hai vợ, chồng cùng tham gia các hoạt động kinh doanh có rủi ro cao.

GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh

21

SVTH: Nguyễn Thị Kim Ngọc



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status