Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 - Pdf 38

Họ và tên: Trần Quốc Việt.

Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Tài sản chung của
vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản
xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp
khác trong thời kỳ hôn nhân, (ngoại trừ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
của mỗi bên sau khi chia tài sản chung); tài sản mà vợ chồng được thừa kế
chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài
sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản
chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được
tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Trong
trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh
chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều điểm mới so với Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000, trong đó có có điểm mới về chế độ tài sản chung
của vợ chồng. Cụ thể, Luật đã bổ sung quy định về các nguyên tắc chung trong
áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó vợ chồng có quyền lựa chọn áp
dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận. Cùng với
đó, Luật cũng có nhiều quy định mới về việc chia tài sản chung của vợ chồng.
Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu cụ thể về các trường hợp và nguyên tắc chia
tài sản chung của vợ chồng:
I. CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc
toàn bộ tài sản chung; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án
giải quyết. Nếu chia theo thỏa thuận thì thỏa thuận về việc chia tài sản chung
phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ
chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Nếu do Tòa án giải quyết thì kết
quả chia tài sản chung được thể hiện tại Quyết định của Tòa án.
Ví dụ: Anh A và chị B kết hôn năm 2015. Anh chị có 1 ngôi nhà 3 tầng
và 500 triệu tiền mặt gửi tại ngân hàng. Do chị B có nhu cầu đầu tư kinh
Lớp: Cao học luật Dân sự và Tố tụng Dân sự Khóa 20

dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài
Lớp: Cao học luật Dân sự và Tố tụng Dân sự Khóa 20

2


Họ và tên: Trần Quốc Việt

sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình
thức mà pháp luật quy định.
Ví dụ: anh A và chị B thỏa thuận phân chia một diện tích đất 100m 2 là tài
sản chung của anh chị, khi đó thỏa thuận này có hiệu lực nếu được chứng thực
hoặc công chứng theo quy định của pháp luật, do những giao dịch liên quan đến
chuyển quyền sử dụng đất phải công chứng hoặc chứng thực. Nhưng khi quy
định về vấn văn bản thỏa thuận phân chia tài sản, Luật bắt buộc phải công chứng
văn bản thỏa thuận. Vậy, quy định về điều kiện có hiệu lực như ví dụ này được
hiểu như thế nào? Nếu quy định văn bản thỏa thuận phân chia diện tích đất này
được chứng thực thì là không cần thiết vì bắt buộc phải công chứng. Vậy quy
định này có nghĩa là các bên phải lập một hợp đồng khác liên quan đến việc chia
quyền sử dụng đất để công chứng, chứng thực? Ở đây có sự trùng lặp hay
không? Pháp luật nên có hướng dẫn cụ thể về cách hiểu quy định này.
Ngoài ra, hình thức của giao dịch liên quan đến tài sản đó ở đây là hình
thức gì? Liệu pháp luật còn quy định hình thức gì ngoài hình thức văn bản và lời
nói. Tuyệt nhiên, trong trường hợp này không thể bằng lời nói. Nếu hình thức là
hợp đồng thì văn bản thỏa thuận này có là hợp đồng hay không? Hay vẫn mang
tên gọi là “văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung”.
- Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài
sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước
thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường

nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.
Quy định này là thừa bởi vì tại Điều về hiệu lực của văn bản thỏa thuận
phân chia tài sản chung đã có một quy định tương tự đó là: “Quyền, nghĩa vụ về
tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài
sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận khác”. Về bản chất hai quy định này không khác nhau. Như vậy, có sự
nhầm lần giữa hậu quả và hiệu lực của văn bản thỏa thuận này.
4. Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung
- Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền
thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung.
Lớp: Cao học luật Dân sự và Tố tụng Dân sự Khóa 20

4


Họ và tên: Trần Quốc Việt

Về quy định này, có một nội dung cần phải bàn, đó là: Sau khi chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực
của việc chia tài sản chung. Sau khi chấm dứt hiệu lực, thì các tài sản đã chia là
tài sản riêng hay chung. Nếu là tài sản riêng thì mâu thuẫn với chính quy định
này. Nếu là tài sản chung thì quy định này có phần chưa hợp lý. Bởi khi đó,
phần tài sản đã chia cho mỗi người là tài sản riêng của từng người. Phần tài sản
này không thể biến thành tài sản chung khi các bên chấm dứt hiệu lực văn bản
chia tài sản. Mà nó chỉ trở thành tài sản chung khi các bên thỏa thuận chuyển
các tài sản đó bằng tài sản chung.
Ngoài ra, “việc chấm dứt hiệu lực của văn bản phân chia tài sản chung”
không phải là căn cứ để xác lập tài sản chung theo Luật. Quy định này tạo ra sự
“vòng vo” về mặt luật pháp.
- Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng về chấm dứt hiệu lực của việc chia tài

sản chưa hết hiệu lực và văn bản thỏa thuận sáp nhập thành tài sản chung đang
có hiệu lực. Đã xuất hiện mâu thuẫn.
II. CHIA TÀI SẢN CHUNG KHI LY HÔN
1. Các nguyên tắc chung
a. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố
sau đây: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ,
chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của
vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích
chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên
có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm
quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
- Bình luận: Nguyên tắc này không quá khó hiểu về thuật ngữ “chia đôi”.
Điều khó hiểu ở đây là làm thế nào để xác định được các yếu tố được liệt kê
kèm theo và xác định khối lượng tài sản như thế nào từ các yếu tố đó. Có định
lượng được các yếu tố đó hay không?
b. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia
được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật
có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần
chênh lệch.
Lớp: Cao học luật Dân sự và Tố tụng Dân sự Khóa 20

6


Họ và tên: Trần Quốc Việt

- Bình luận: Trường hợp này xác định giá trị tài sản như thế nào. Cơ quan
nào có thẩm quyền định giá, việc định giá có cần thành lập Hội đồng hay
không? Giá thị trường hay giá cố định của tài sản được dùng làm cơ sở để định
giá? Và nếu là giá trị trường thì xác định như thế nào? Các Nghị định nên có


chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối
tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được
thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ
chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì
khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để
chia theo quy định.
b. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn: Quyền sử dụng đất là
tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó. Việc chia quyền sử
dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:
- Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả
hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo
thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
theo các nguyên tắc chung. Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều
kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh
toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;
- Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây
hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền
sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia như đối với đất nông nghiệp trồng
cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản trong trường hợp không chung với hộ gia
đình. Vậy, tại sao cùng một loại đất, cùng một cách chia mà lại đặt vào hai
khoản khác nhau của cùng một Điều?
- Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng,
đất ở thì được chia theo các nguyên tắc chung.
- Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai:
Nếu quy định như này có nghĩa là các loại đất đã liệt kê bên trên, khi phân chia
không cần tuân theo quy định của pháp luật về đất đai à? Thiết nghĩ, quy định
này nên được thiết kế lại sao cho đảm bảo tính khái quát và logic.
Lớp: Cao học luật Dân sự và Tố tụng Dân sự Khóa 20

1. Nguyên tắc chung
- Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn
sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ
Lớp: Cao học luật Dân sự và Tố tụng Dân sự Khóa 20

9


Họ và tên: Trần Quốc Việt

định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người
khác quản lý di sản.
Ví dụ: A và B là vợ chồng, A bị tai nạn giao thông và đã chết. Lúc này, B
sẽ quản lý phần tài sản chung.
- Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia
đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của
vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của
pháp luật về thừa kế.
Trong ví dụ trên: Nếu các con của A và B có yêu cầu chia di sản của A thì
A và B mỗi người một nửa tài sản chung, nếu A và B không có thỏa thuận khác
khi A còn sống. Phần di sản của A được chia theo pháp luật về thừa kế.
- Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống
của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu
Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
Cũng trong ví dụ trên, nếu A và B chỉ có duy nhất một ngôi nhà là tài sản
chung, B không có nơi sinh sống nào khác thì lúc đó B có quyền yêu cầu Tòa
san hạn chế phân chia di sản.
2. Nguyên tắc trong trường hợp cụ thể
- Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo các nguyên tắc
chung, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status