ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÃ THỊ TUYỀN
CHÕ §é TµI S¶N CñA Vî CHåNG THEO
LUËT H¤N NH¢N Vµ GIA §×NH VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HẢI AN
HÀ NỘI - 2014
VỢ CHỒNG 9
1.1.1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng 9
1.1.2. Đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng 12
1.1.3. Ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng 13
1.2. NỘI DUNG CÁC LOẠI CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 15
1.2.1. Chế độ tài sản dựa trên sự thoả thuận của vợ chồng (chế độ tài
sản ước định) 16
1.2.2. Chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp
luật (chế độ tài sản pháp định) 18
1.3. KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG PHÁP
LUẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ 24
1.3.1. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến 24
1.3.2. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc 26
1.3.3. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ của nước
ta từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay 32
1.4. CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG PHÁP LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 38
Chương 2: CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH 44
2.1. TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 44
2.1.1. Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng 44
2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung 49
2.1.3. Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ 53
2.2. TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG 61
2.2.1. Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng 61
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng 64
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 70
3.1. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 70
HVLL
: Hoàng Việt luật lệ
HVTKHL
: Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật
LGĐ
: Luật Gia đình
QTHL
: Quốc triều hình luật
TAND
: Toà án nhân dân
UBND
: Uỷ ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Chế độ tài sản của vợ chồng là một chế định quan trọng của pháp luật
hôn nhân và gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình đã đưa ra các quy định về
vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản chung và tài sản
riêng của vợ, chồng; vấn đề chia tài sản chung và hậu quả chia tài sản chung
của vợ chồng; quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng…. Chế độ tài sản của vợ
chồng được quy định phụ thuộc chặt chẽ vào sự phát triển của các điều kiện
kinh tế, văn hoá, xã hội, tập quán… của đất nước. Những quy định về chế độ
tài sản của vợ chồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã có từ lâu, được
các nhà làm luật lựa chọn theo thời gian và ngày càng thêm hoàn thiện.
Chế độ tài sản của vợ chồng ở mỗi quốc gia và trong cùng một đất
vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” sẽ góp phần làm rõ
hơn những quy định của pháp luật điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng;
trên cơ sở nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật hôn nhân và gia
đình, cùng với việc tìm hiểu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về chế
độ tài sản của vợ chồng để đưa ra những điểm hợp lý hay không hợp lý. Từ
đó, luận văn đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ
chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu liên
quan đến chế độ tài sản của vợ chồng. Có thể phân loại các công trình nghiên
cứu này thành ba nhóm lớn như sau:
Nhóm các luận văn, luận án: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu
trong nhóm này có: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ, 2005); Xác định chế độ tài
3
sản của vợ chồng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Nguyễn Hồng Hải,
Luận văn Thạc sĩ, 2002); Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 - Thành tựu,
vướng mắc và hướng hoàn thiện (Trần Thị Thuỳ Liên, Luận văn Thạc sĩ,
2012); Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam - Thực tiễn
áp dụng và hướng hoàn thiện (Nguyễn Thị Hạnh, Luận văn Thạc sĩ, 2012); …
Các công trình này có công trình có phạm vi nghiên cứu rộng, đề cập đến
nhiều khía cạnh khác nhau, có công trình chỉ giải quyết một khía cạnh nhỏ
trong vấn đề tài sản vợ chồng, có công trình nghiên cứu riêng và chuyên sâu
về chế độ tài sản của vợ chồng. Song, các công trình nghiên cứu trên cho dù
có những nội dung ưu việt, tiên tiến nhưng cũng còn nhiều vấn đề không bắt
kịp nhịp sống xã hội vốn luôn chuyển biến ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống
vợ chồng, đặc biệt là vấn đề tài sản.
Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo: Trong nhóm này phải kể đến
một số công trình tiêu biểu như: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt
cả các khía cạnh của việc áp dụng quy định về chế độ tài sản của vợ chồng
vào thực tiễn.
Trong các nhóm trên, có công trình đã nghiên cứu về chế độ tài sản của
vợ chồng, nhưng đứng trước sự phát triển kinh tế - xã hội với nhiều chuyển
biến, chịu sự ảnh hưởng của tập quán của đất nước tất yếu có sự tác động lớn
trong tâm lý của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cặp vợ chồng. Vấn đề tài sản
là một trong những vấn đề quan trọng đảm bảo cho cuộc sống gia đình ổn
định, phát triển phù hợp với tình hình mới, điều kiện mới, vì vậy luận văn đi
vào nghiên cứu chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình
Việt Nam với hy vọng thể hiện một số ý kiến nhỏ của bản thân trước nhu cầu
sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình trong thời gian tới.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ tài
sản của vợ chồng, luận văn phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật, nhận
dạng những thuận lợi cũng như những bất cập, hạn chế trong quá trình áp
dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, trên cơ sở đó chỉ ra những
điểm còn thiếu sót, chưa phù hợp của luật thực định và của quá trình áp dụng
luật vào thực tiễn. Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp có tính
chất khả thi nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tài sản của
vợ chồng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống đang ngày càng phát triển đa
dạng, phong phú.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định những nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của
vợ chồng.
Thứ hai: Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về chế độ
tài sản của vợ chồng.
Thứ ba: Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ
Nam, qua đó tiếp thu những điểm tiến bộ và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả Luận văn sử dụng phối hợp nhiều
phương pháp khác nhau như:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu chế độ tài
sản của vợ chồng qua các thời kỳ ở Việt Nam.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn
đề liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng và khái quát những nội dung cơ
bản được nghiên cứu trong luận văn.
7
- Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của
pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây của Việt Nam cũng như
pháp luật của một số nước khác quy định về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát
thực tiễn.
6. Những điểm mới của luận văn
- Luận văn hệ thống hoá và phân tích khái niệm chế độ tài sản của
vợ chồng.
- Luận văn khái quát và phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy
định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Từ những ví dụ cụ thể về thực tiễn áp dụng pháp luật, luận văn nhận
dạng những quy định chưa phù hợp, những điểm còn khiếm khuyết của pháp
luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng cả dưới góc độ pháp luật và
thực tiễn áp dụng pháp luật. Đồng thời, luận văn đưa ra và phân tích một số
yếu tố khác tác động vào và làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ
tài sản của vợ chồng. Trên cơ sở đó, luận văn kiến nghị một số giải pháp có
tính chất khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và tiến tới hoàn
thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Luận văn nêu và phân tích điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014,
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện chế độ tài
sản của vợ chồng.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA
VỢ CHỒNG
1.1.1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng
Gia đình là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội.
Gia đình có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Để xây dựng gia đình tốt thì nền
tảng hôn nhân phải bền vững, ngoài việc được hình thành trên cơ sở tự
nguyện, bình đẳng, tiến bộ thì việc tạo lập tài sản là một trong những điều
kiện tất yếu để nuôi sống gia đình, là điều kiện vật chất, cơ sở kinh tế cho hôn
nhân tồn tại bền vững. Vì vậy, các nhà làm luật đã quan tâm xây dựng các quy
định về chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng,
cơ bản nhất của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Trước khi kết hôn và sau khi hôn nhân chấm dứt, vợ, chồng là những
người độc thân có tài sản riêng, còn gọi là tài sản cá nhân. Tài sản theo nghĩa
từ điển Luật học là “của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu
dùng” [75], còn theo Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 “tài sản bao gồm vật,
tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” [57, Điều 163]. Trước khi kết hôn,
quan đến tài sản của vợ chồng trong khuôn khổ luật định, bảo vệ quyền lợi
chính đáng của mình.
Mặt khác, dựa vào các quy định của pháp luật mà quyền và nghĩa vụ về
tài sản của vợ chồng mới được bảo đảm, “vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang
nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” [54, Điều 28]. Vợ
11
chồng có quyền ngang nhau trong việc sở hữu tài sản chung nhằm đảm bảo
nhu cầu đời sống chung của gia đình, có quyền khai thác công dụng, hưởng
hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung nhưng phải có nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng
mục đích luật định, vì lợi ích của vợ chồng và các thành viên trong gia đình.
Mọi giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc dùng tài sản
chung để đầu tư kinh doanh, hoặc tài sản chung là nguồn sống duy nhất của
gia đình thì về nguyên tắc phải có sự thoả thuận của hai vợ chồng.
Hơn nữa, để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba khi tham gia vào các
giao dịch có liên quan đến tài sản của vợ chồng, pháp luật cần phải quy định
người thứ ba có quyền biết rằng giao dịch đó được bảo đảm thực hiện từ tài
sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ, chồng nhằm bảo vệ quyền
lợi chính đáng của mình.
Lý do cuối cùng khiến nhà làm luật dự liệu về chế độ tài sản của vợ
chồng thể hiện ở chỗ: việc quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp
luật là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và với người khác.
Ví dụ: Việc giải quyết những món nợ mà vợ chồng vay chung vì lợi ích
chung của gia đình hoặc mỗi bên vợ, chồng vay riêng, sử dụng vào mục đích
riêng. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà áp dụng chế độ tài sản của vợ
chồng quy kết theo nghĩa vụ chung của vợ chồng hay nghĩa vụ riêng của vợ,
chồng phải thanh toán trả món nợ đó.
Như vậy, điều kiện hình thành và duy trì chế độ tài sản của vợ chồng là
có tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa vợ chồng. Chế độ tài sản của vợ
việc có đầy đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự còn đòi hỏi
phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật hôn nhân
và gia đình.
13
Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự
tồn tại và phát triển của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật quy định chế độ tài
sản của vợ chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo
đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ và chồng.
Những quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở tạo
điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
đối với tài sản của vợ chồng.
Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự
kiện phát sinh và chấm dứt của quan hệ hôn nhân. Hay nói cách khác, chế độ
tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.
Thứ tư, chế độ tài sản của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng
trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Đối với tài sản chung
của vợ chồng, bắt buộc vợ chồng khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế
phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình. Thông thường, khi vợ chồng sử
dụng tài sản chung để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của gia đình thì pháp
luật luôn coi là có sự thoả thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng, trừ những
tài sản chung có giá trị lớn. Đối với tài sản riêng, thông thường người có tài
sản có quyền tự mình định đoạt không phụ thuộc ý chí của người khác. Tuy
nhiên, với chế độ tài sản của vợ chồng trong một số trường hợp quyền năng
này của họ bị hạn chế (ví dụ, nếu tài sản riêng đang là nguồn sống duy nhất
của cả gia đình, khi định đoạt liên quan đến tài sản này thì phải có thoả thuận
của hai vợ chồng).
1.1.3. Ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng
Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, quản lý nền kinh tế.
Vì vậy, bên cạnh việc ban hành pháp luật buộc tất cả mọi công dân phải
pháp luật HN&GĐ của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay đều thực hiện
nguyên tắc vợ chồng bình đẳng khi quy định về chế độ tài sản của vợ chồng,
không bên nào được áp đặt, phụ thuộc bên nào.
15
- Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật có ý nghĩa
nhằm xác định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình. Khi
hai bên nam nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng, chế độ tài sản của vợ
chồng được dự liệu với những thành phần tài sản của vợ chồng. Dù vợ chồng
lựa chọn chế độ tài sản ước định hay chế độ tài sản pháp định, dù chế độ tài
sản cộng đồng hay theo tiêu chuẩn phân sản thì các loại tài sản của vợ chồng
luôn được pháp luật quy định rõ.
- Việc phân định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng của chế
độ tài sản còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng
đối với các loại tài sản của vợ chồng.
- Chế độ tài sản của vợ chồng được sử dụng với ý nghĩa là cơ sở pháp
lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng với nhau hoặc
với những người khác trong thực tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính
đáng về tài sản cho các bên vợ, chồng hoặc người thứ ba tham gia giao dịch
liên quan đến tài sản của vợ chồng. Khi vợ, chồng tham gia các giao dịch
nhằm đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình như ăn, mặc, ở, học hành
của con,…. Những giao dịch đó được xác lập vì lợi ích chung của gia đình
nên cả vợ và chồng đều phải liên đới trách nhiệm trong việc thực hiện giao
dịch với người khác. Trong suốt thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng sẽ tham gia rất
nhiều các giao dịch vì cuộc sống chung của gia đình hay vì mục đích riêng
của mỗi bên vợ, chồng. Căn cứ vào những quy định của pháp luật về chế độ
tài sản của vợ chồng mà các cơ quan có thẩm quyền có cơ sở để giải quyết
các tranh chấp liên quan, bảo vệ quyền lợi của các bên, góp phần tạo sự ổn
định trật tự xã hội.
1.2. NỘI DUNG CÁC LOẠI CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
giữa hai vợ chồng về tài sản đó sẽ phải được điều chỉnh bởi luật
pháp nước ngoài, thì vô hiệu [63, Điều 1465].
17
Trước khi kết hôn vợ chồng hoàn toàn có quyền tự do lập hôn ước để
quy định chế độ tài sản của họ. Họ muốn lựa chọn chế độ tài sản nào cũng
được, pháp luật chỉ can thiệp và quy định chế độ tài sản của vợ chồng khi họ
không lập hôn ước. Hôn ước là một văn kiện ký kết giữa một cặp nam nữ
trước khi kết hôn, do vậy:
Hôn ước là văn bản ghi nhận sự thoả thuận của hai người nam nữ
trước khi kết hôn về vấn đề điều chỉnh quan hệ tài sản của họ trong thời kỳ
hôn nhân. Văn bản này được lập trước khi các bên nam nữ kết hôn và chỉ
phát sinh hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân.
Nội dung của hôn ước phải là sự thoả thuận về vấn đề sở hữu tài sản
của vợ chồng. Hôn ước trước hết phải quy định rõ cách thức xác định đâu là
tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng. Trong hôn ước có thể xác định về
quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với nhau hay đối với bên thứ
ba trong trường hợp có giao dịch với bên thứ ba. Hôn ước có tính ổn định cao,
việc xác lập, thay đổi chế độ tài sản theo thoả thuận hôn ước phải tuân theo
những thể thức nhất định, Điều 1397 BLDS Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570
ngày 13/7/1965 và Luật số 89-18 ngày 13/1/1989) quy định:
Sau hai năm áp dụng chế độ tài sản trong hôn nhân theo thoả
thuận hoặc theo luật định, hai vợ chồng có thể vì lợi ích của gia
đình, xin sửa đổi hoặc thay đổi hoàn toàn chế độ tài sản trong hôn
nhân bằng một chứng thư có chứng thực của Công chứng viên và
được Toà án nơi cư trú phê chuẩn [45].
BLDS và Thương mại Thái Lan quy định:
Sau khi kết hôn, bản thoả thuận trước khi thành hôn không
thể bị sửa đổi, trừ trường hợp Toà án cho phép. Khi có một quyết
định cuối cùng của Toà án cho phép tiến hành sửa đổi hoặc huỷ bỏ
19
chất thay thế trong trường hợp vợ chồng không có thoả thuận bằng hôn ước,
hoặc với mục đích để vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản áp dụng cho họ, điển
hình là pháp luật của Pháp, Nhật Bản, Thái Lan, … Ví dụ, Điều 1400 BLDS
Cộng hoà Pháp quy định: “Chế độ cộng đồng tài sản được thiết lập khi không
có hôn ước hoặc khi vợ chồng tuyên bố kết hôn theo chế độ cộng đồng tài
sản” [45]. Ở Việt Nam, dưới chế độ nguỵ quyền Sài Gòn cũng có quy định
tương tự, Điều 150 BLDS Sài Gòn năm 1972 quy định:
Chế độ cộng đồng tài sản là chế độ phu phụ tài sản thường
luật trong trường hợp vợ chồng không lập hôn ước hoặc khai kết
hôn dưới chế độ cộng đồng tài sản. Chế độ này khởi đầu từ ngày
lập hôn thú, không ai có thể định một ngày nào khác cho khởi
điểm này [62].
Có nước quy định chế độ tài sản pháp định như là căn cứ duy nhất để
xác định tài sản của vợ chồng, phổ biến trong pháp luật HN&GĐ các nước
XHCN như Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba, … Điều 29 LGĐ Cộng hoà Cu-ba
quy định:
Chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản chung theo quy
định của Bộ luật này. Chế độ tài sản này áp dụng kể từ ngày việc
kết hôn được chính quyền công nhận hoặc từ ngày có cuộc sống
chung …; chế độ tài sản này chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm
dứt không kể vì lý do gì [31].
Chế độ tài sản pháp định được quy định ở nhiều hình thức khác nhau,
nhưng tựu chung lại thường dưới hai hình thức: Chế độ tài sản theo tiêu chuẩn
cộng đồng (chế độ tài sản cộng đồng) và chế độ tài sản theo tiêu chuẩn phân
sản (chế độ phân sản).
* Chế độ tài sản của vợ chồng theo tiêu chuẩn cộng đồng:
- Chế độ cộng đồng toàn sản: Theo chế độ tài sản này, thì tất cả các tài