Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và những vấn đề cần sửa đổi bổ sung - Pdf 34

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………...…………………………………..………......2
NỘI DUNG……………………………………………………………...…………....….3
I.Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000……………......……………………………………………...………………….…..3
1.Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng……….……………..…3
1.1.Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng…..…………………
..3
1.2.Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung……….…….…5
1.3.Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000……..7
2.Tài sản riêng của vợ, chồng………………………………………….…….…8
2.1.Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng………….………………..…..8
2.2.Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng………………….9
II.Một số kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ
chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000…………..…………………….…10
1.Đối với tài sản chung của vợ chồng…………….……...………………..……10
1.1.Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng……………………..…..….10
1.2.Xác định tài sản chung của vợ chồng trong quan hệ “hôn nhân thực
tế” sau ngày 01/01/2003………………………………………………………….
…...11
1.3.Về nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng…….…………….…11
1.4.Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng….……………………………….11
2.Đối với tài sản riêng của vợ chồng………….……………………….….
…….12
2.1.Về căn cứ, nguồn gốc xác lập tài sản riêng của vợ chồng………………12
2.2.Về nghĩa vụ của vợ, chồng được thực hiện từ tài sản
riêng……………….12
KẾT LUẬN..………………….……………………………………………..……….…13

1




NỘI DUNG
Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
1. Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
1.1. Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
1.1.1.
Tài sản chung của vợ chồng được xác lập trong “thời kì hôn nhân”
Tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, mục đích nhằm đảm
bảo đời sống chung của gia đình đòi hỏi pháp luật quy định căn cứ quan trọng, đầu tiên để
xác định tài sản chung của vợ chồng là “thời kì hôn nhân”. Nó dẫn tới các hệ lụy sau:
Một là, tài sản chung của vợ chồng không cần phải cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo
ra tài sản đó.
Hai là, tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng không phụ thuộc vào điều kiện vợ
chồng ở chung hay ở riêng vì điều quan trọng theo luật định là tài sản mà “vợ, chồng tạo ra
trong thời kì hôn nhân” là tài sản chung của vợ chồng.
Ba là, quyền bình đẳng giữa vợ chồng đối với tài sản chung khi thực hiện quyền sở
hữu không bị phụ thuộc bởi công sức đóng góp của vợ chồng. Trong điều kiện thực tế của
từng cặp vợ chồng, kể từ khi kết hôn và trong suốt thời kì hôn nhân, do điều kiện về sức
khỏe, nghề nghiệp, chuyên môn… đã dẫn tới thu nhập thực tế của mỗi bên vợ, chồng nhiều
ít, cao thấp khác nhau nhưng không phải như vậy mà có sự chênh lệch giữa vợ chồng khi
thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung. Mặt khác, theo luật định, tài sản chung của vợ
chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất (khoản 1 Điều 27 luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
khoản 1 Điều 219 bộ luật Dân sự năm 2005), mà “sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung
mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản
chung” (khoản 1 Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2005); và sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng là loại sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia khi quan hệ hôn nhân chấm dứt hoặc
khi vợ hoặc chồng có yêu cầu lý do chính đáng. Đối với tài sản chung của vợ chồng, vợ
chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt ngang nhau và luôn có tỷ lệ giá trị phần tài
sản bang nhau trong khối tài sản chung đó. Đây là những đặc điểm dường như chỉ có và

chồng.
1.1.3. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm các thu nhập hợp pháp của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân
Đây được coi là loại tài sản chủ yếu thuộc tài sản chung của vợ chồng. Thu nhập của vợ
chồng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng là những lợi ích vật chất mà vợ, chồng có
được do tham gia lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo tính chất nghề nghiệp,
chuyên môn, công việc mà vợ chồng thực hiện, vợ chồng được hưởng thành quả lao động
hoặc các lợi nhuận do kinh doanh mang lại, cũng như các hoa lợi, lợi tức thu được từ các
loại tài sản của vợ chồng trong quá trình lao động sản xuất, kinh doanh. Trong đời sống xã
hội hiện nay, thu nhập chủ yếu của các cặp vợ chồng thường là tiền lương, tiền công lao
động, những thu nhập và tài sản do vợ chồng làm kinh tế gia đình, hoặc lợi nhuận thông qua
việc sản xuất, kinh doanh.
Hiện nay, về căn cứ xác lập tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, liên
quan đến các loại hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kì hôn
nhân, có những quan điểm không thống nhất khi xác định các loại hoa lợi, lợi tức đó thuộc
khối tài sản chung của vợ chồng hay vẫn là tài sản riêng của vợ, chồng. Xét dưới góc độ
thuần túy của pháp luật dân sự thì cho rằng chỉ chủ sở hữu tài sản mới có quyền thu lợi phát
sinh từ tài sản riêng đó. Vì vậy, phải coi hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ,
chồng trong thời kì hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình, do tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân, vợ chồng cùng chung sức,
chung ý chí tạo dựng tài sản chung nhằm bảo đảm nhu cầu đời sống chung cho gia đình, cho
nên, một trong những đặc điểm của căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng là tài sản của
vợ chồng không nhất thiết phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo ra mà chỉ cần một bên
vợ, chồng tạo ra được trong thời kì hôn nhân.
1.1.4.Tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản mà vợ chồng được thừa kế
chung, được tặng choc hung (khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000)
Đây là trường hợp xác lập tài sản chung của vợ chồng dựa trên quyền định đoạt của chủ
sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trong thời kì hôn nhân, vợ chồng được
người khác tặng cho chung tài sản hoặc được hưởng thừa kế chung một khối di sản. Những
tài sản này thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Nếu trong hợp đồng tặng cho chung hoặc

vướng mắc. Nhằm bảo đảm nguyên tắc công bằng và hợp lí, khoản 3 Điều 27 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 đã dự liệu: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản
mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản
chung”. Đây là nguyên tắc suy đoán về nguồn gốc tài sản của vợ chồng, lần đầu tiên được
quy định trong luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta.
1.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
1.2.1. Vợ chồng bình đẳng trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung
Với tư cách là đồng chủ sở hữu tài sản chung, vợ, chồng bình đẳng khi thực hiện quyền
sở hữu đối với tài sản chung. Vợ, chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận sử dụng tài sản chung
nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình, sao cho việc sử dụng, định đoạt tài sản chung
đem lại lợi ích nhiều nhất cho cuộc sống chung của vợ chồng; bảo đảm nghĩa vụ nuôi
dưỡng, giáo dục các con, cũng như quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình. Do
tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và cuộc sống chung của vợ chồng đòi hỏi (tất yếu) vợ
chồng phải có quan hệ giao dịch với những người khác liên quan đến tài sản chung, nhằm
đảm bảo nhu cầu của gia đình, của vợ chồng. Chính vì thế, nhà làm luật phải dự liệu:
Đối với những giao dịch thông thường, liên quan đến những tài sản “không có giá trị
lớn” nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hằng ngày của gia đình, thì hành vi xử sự của vợ,
5


chồng khi định đoạt tài sản chung đó luôn được pháp luật coi là có sự thỏa thuận đương
nhiên của cả hai vợ chồng (mặc dù chỉ có một bên vợ hoặc chồng định đoạt tài sản).
Đối với những tài sản chung có giá trị lớn thì khi định đoạt, phải có sự thỏa thuận đồng
ý của hai vợ chồng (tivi, tủ lạnh, ôtô, tàu, thuyền đánh cá, quyền sử dụng đất, nhà ở…). Nếu
pháp luật quy định hợp đồng liên quan đến tài sản chung của vợ chồng có giá trị lớn phải
được kí kết bằng văn bản (hợp đồng mua bán nhà, chuyển quyền sử dụng đất…) thì hình
thức của hợp đồng phải tuân theo qui định của pháp luật; nếu chỉ có một bên trực tiếp kì thì
phải có giấy ủy quyền cho vợ, chồng, kí thay, hợp đồng mới có hiệu lực. Theo Khoản 3
Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Việc xác lập, thực hiện và chấm

được chia phần tài sản bằng hiện vật đã đăng kí quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng mà có
ghi tên cả vợ và chồng có quyền yêu cầu cơ quan đăng kí tài sản cấp lại giấy tờ đăng kí
quyền sở hữu hoặc sử dụng tài sản. Lẽ đương nhiên, khi vợ chồng ly hôn hoặc đã chia tài

6


sản chung trong thời kì hôn nhân thì phần tài sản mà mỗi bên vợ, chồng được chia thuộc sở
hữu riêng của vợ, chồng.
I.2.3.
Nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng
Khoản 2 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 qui định: “Tài sản chung của vợ chồng được
chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng”.
Tài sản chung của vợ chồng là cơ sở kinh tế nhằm đáp ứng những lợi ích của vợ, chồng và
các thành viên gia đình. Tính tất yếu phải có tiền bạc, tài sản của vợ chồng để bảo đảm cho
gia đình tồn tại và phát triển; bảo đảm nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng; nghĩa vụ
nuôi dưỡng giáo dục con cái… Theo yêu cầu của pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội,
vợ chồng cùng chung sức, chung ý chí tạo dựng tài sản nhằm thỏa mãn tốt nhất cho đơì
sống chung của gia đình. Khi thiết lập các giao dịch xuất phát từ tài sản chung của vợ chồng
nhằm bảo đảm nhu cầu chung của gia đình, vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập,
thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo qui định của pháp luật phải có sự đồng ý của
cả vợ chồng; việc ủy quyền phải được lập thành văn bản. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi
một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc
khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được tòa án chỉ định làm người
đại diện theo pháp luật cho người đó. Những giao dịch mà vợ, chồng thiết lập với người
khác nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hằng ngày của cuộc sống gia đình thì pháp luật luôn
coi là đã có sự thỏa thuận mặc nhiên của cả hai vợ chồng; nếu liên quan đến tài sản có giá
trị lớn mới cần phải có sự thỏa thuận của hai vợ chồng.
Trong cuộc sống chung của vợ chồng nhiều khi tài sản chung của vợ chồng không đáp
ứng đủ với quyền lợi của gia đình, vợ, chồng đã phải “vay, mượn” tiền bạc, tài sản của

Ly hôn – một hiện tượng xã hội. Theo nguyên tắc chung, khi phán quyết ly hôn của
Tòa án có hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng được chấm dứt. Với trường hợp thuận tình
ly hôn, vợ chồng thỏa thuận được với nhau về việc phân chia tài sản chung và vấn đề giao
con chưa thành niên cho bên nào nuôi dưỡng, giáo dục trực tiếp và mức phí tổn cấp dưỡng
nuôi con là một điều kiện thuận lợi để tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Trường hợp vợ
chồng không thỏa thuận được với nhau, có yêu cầu toàn án giải quyết, để đảm bảo quyền lợi
chính đáng của vợ chồng và những người khác có lợi ích liên quan đến tài sản của vợ
chồng, trước khi quyết định tòa án cần phải xác định về vấn đề tài sản chung của vợ chồng:
đâu là tài sản riêng của vợ, chồng; những tài sản nào thuộc khối tài sản chung; những ai có
quyền và lợi ích liên quan đến tài sản của vợ chồng; đối với tài sản chung của vợ chồng thì
xem xét thu nhập thực tế của vợ, chồng, công sức đóng góp trong việc tạo dựng, quản lí tài
sản chung; những tài sản nào được chia bằng hiện vật hoặc phải thanh toán bằng tiền; điều
kiện, hoàn cảnh, nghề nghiệp của vợ, chồng khi ly hôn; hai vợ chồng sống riêng hoặc cùng
sống chung với gia đình bên nhà chồng (vợ)… khi chia tòa phải áp dụng các quy định về
chế độ tài sản của vợ chồng và các nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng (từ Đ95 đến Đ99
Luật HN&GĐ 2000). Trong đó, quy định theo Đ95 Luật HN&GĐ 2000 bao gồm các
nguyên tắc chung về việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn; đặc biệt chia tài sản chung
của vợ chồng.
I.3.3. Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố
đã chết
Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, phần tài sản của người vợ,
chồng chết sẽ được chia theo di chúc của người chết. Nếu vợ, chồng chết trước có để lại di
chúc định đoạt tài sản của mình trong khối tài sản chung cho người chồng, vợ còn sống
được hưởng thì di sản đó thuộc quyền sở hữu của người chồng, vợ. Khi có yêu cầu, tài sản
chung của vợ chồng sẽ được chia đôi, phần tài sản của vợ, chồng đã chết trong khối tài sản
chung sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người chết. Người chồng,
vợ còn sống được hưởng một suất thừa kế cùng với cha, mẹ và các con của người chết, vì
những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau (khoản 2 Điều 676
BLDS năm 2005).
2. Tài sản riêng của vợ, chồng

tính chất nghề nghiệp của mình đều cần đến đồ dùng phụ vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá
nhân hoặc cho công việc. Rõ ràng, Luật qui định các đồ dùng và tư trang cá nhân là tài sản
riêng của vợ, chồng nhằm bảo đảm quyền tự do cá nhân và cuộc sống riêng tư của vợ,
chồng.
2.1.4. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm những tài sản mà vợ, chồng được chia khi tài sản
chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân
Khác với Luật HN&GĐ 1986 chưa dự liệu về hậu quả pháp lí và quyền, nghĩa vụ
của vợ, chồng đối với những tài sản, sau khi đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân,
Điều 30 Luật HN&GĐ 2000 đã qui định về vấn đề này. Trên cơ sở đó, Điều 8 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP ngày 03/01/2001 đã ghi nhận: “sau khi chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân, những tài sản mà vợ, chồng đã được chia; hoa lợi, lợi tức thu được
từ tài sản đó; thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp
khác của vợ, chồng sau khi đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đều thuộc tài sản
riêng của vợ, chồng”.
2.2.
Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng
2.2.1. Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng
Với tư cách là chủ sở hữu tài sản của mình, vợ, chồng có toàn quyền sở hữu đối với
tài sản riêng, không phụ thuộc bới ý chí của bên người chồng, vợ kia. Đối với tài sản riêng
của vợ, chồng, mỗi bên sẽ tự quản lí tài sản riêng của mình. Trong trường hợp, vợ hoặc
chồng không thể tự mình quản lí tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản
lí thì bên người chồng, vợ kia có quyền quản lí tài sản riêng đó. Trong việc quản lí tài sản
riêng của vợ, chồng mình, người chồng, vợ có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn các tài sản đó như
tài sản của mình, nếu làm hư hại thất thoát mà không có lý do chính đáng thì có nghĩa vụ
phải bồi thường (khi có yêu cầu). Đối với tài sản riêng, vợ, chồng có quyền nhập hoặc

9


không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng (khoản 2 Điều 33 Luật

Về nguyên tắc, đối với các khoản nợ và nghĩa vụ phát sinh trên đây, vợ, chồng có
nghĩa vụ thanh toán, bồi thường bằng tài sản riêng của mình. Cũng có thể nghĩa vụ tài sản
của vợ, chồng được thực hiện bằng tài sản chung cuả vợ chồng khi vợ chồng thỏa thuận.
II.
Một số kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng
theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
1. Đối với tài sản chung của vợ chồng
1.1. Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
Xác định tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân
Theo Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng,
trước hết dựa vào thời kì hôn nhân. Tuy nhiên, theo qui định của pháp luật dân sự và
HN&GĐ, trong một số trường hợp cụ thể, việc xác định thời kì hôn nhân chưa được luật dự
liệu; các văn bản hướng dẫn áp dụng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng chưa đề

10


-

-

11

cập tới các vấn đề liên quan đến nguyên tắc xác lập tài sản chung của vợ chồng trong thời kì
hôn nhân đối với các trường hợp này.
Xác định tài sản chung của vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố chết, mà sau đó lại trở về (Đ26
Luật HN&GĐ 2000, Đ83 BLDS 2005)
Trường hợp này pháp luật mới chỉ dự liệu quan hệ hôn nhân được khôi phục (nếu
người chồng, vợ kia chưa kết hôn với người khác), còn về vấn đề tài sản chung của vợ
chồng thì xác định ntn? Đây là vấn đề còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về mặt lí

Thứ tư, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân không làm chấm dứt
quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Luật cần dự liệu về nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau,
đối với con chung và nghĩa vụ đóng góp tài sản chung nhằm bảo đảm đời sống chung của
gia đình. Mặt khác, luật cần dự liệu trường hợp sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân, một thời gian sau vợ chồng mới có yêu cầu ly hôn hoặc một bên vợ,
chồng chết trước, những tài sản nào thuộc khối tài sản chung của vợ chồng thì mới chia.


1.2.

12

Thứ năm, vấn đề khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng, theo Điều 9, Điều 10
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, cần dự liệu rõ thêm các vấn đề sau: khôi phục các tài sản
chung của vợ chồng sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, không
chỉ là việc thỏa thuận của vợ chồng xem xét những tài sản nào là tài sản chung của vợ
chồng, mà ở đây cần phải hiểu rằng việc khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng là
“khôi phục căn cứ pháp lí xác lập tài sản chung của vợ chồng”. Bởi lẽ theo nguyên tắc
chung, toàn bộ tài sản mà vợ, chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân đều thuộc khối tài sản
chung của vợ chồng. Căn cứ này đã tạm chấm dứt khi vợ chồng thỏa thuận chia tài sản
chung của mình trong thời kì hôn nhân.
Đối với trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân thực chất
là đã chấp nhận “chế độ biệt sản” giữa vợ chồng, sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân. Mặc dù vậy, nó vẫn phải được điều chỉnh bởi pháp luật, chứ không
phụ thuộc vào sự thỏa thuận của vợ chồng. Trường hợp đã chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân, sau đó vợ chồng muốn khôi phục lại chế độ tài sản chung, vẫn phải
tuân theo những qui định của pháp luật.
Xác định tài sản chung của vợ chồng trong quan hệ “hôn nhân thực tế” sau ngày
01/01/2003
Trong trường hợp này, sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng kí kết hôn, quan hệ vợ


-

-

-

-

-

-

13

Đối với căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng còn bao gồm những tài sản mà vợ chồng
thỏa thuận là tài sản riêng của một bên, trừ trường hợp, sự thỏa thuận đó có căn cứ rõ ràng
là nhằm tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng đối với người khác.
Đối với những tài sản mà vợ, chồng được hưởng do cùng hàng thừa kế theo pháp luật, về
nguyên tắc thuộc tài sản riêng của vợ, chồng; chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa
thuận.
Luật cần qui định cụ thể nguồn gốc tài sản là đồ dùng, tư trang cá nhân bao gồm những gì
thuộc tài sản riêng của vợ, chồng. Mặt khác, khi có tranh chấp về loại tài sản này, theo từng
trường hợp cụ thể mà xem xét đồ dùng, tư trang cá nhân có nguồn gốc và giá trị như thế nào
so với khối tài sản chung của vợ chồng và mức thu nhập thực tế của vợ, chồng để xác định
chính xác và hợp lí tài sản riêng của vợ, chồng.
Khoản 1, Điều 27 Luật HN&GĐ 2000 của Nhà nước ta cần cụ thể hóa hơn về vấn đề hoa
lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân khi xác định là tài
sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng.
2.2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status