chế độ tài sản của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình việt nam - Pdf 10

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm các qui định về vấn đề sở hữu tài
sản của vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các trờng hợp và
nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng Những qui định về chế độ tài
sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) và hệ thống
pháp luật Việt Nam đã có từ lâu; đợc nhà làm luật lựa chọn, "rút tỉa" theo thời
gian, phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, tập
quán mà ngày càng thêm hoàn thiện.
Theo hệ thống pháp luật về HN&GĐ của Nhà nớc ta từ năm 1945 đến
nay đã có nhiều qui định về chế độ tài sản của vợ chồng: Từ chế độ cộng đồng
toàn sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 1959, đến chế độ cộng đồng
tạo sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 1986 và 2000. Pháp luật điều
chỉnh về chế độ tài sản của vợ chồng vừa mang tính khách quan, vừa thể hiện
ý chí chủ quan của Nhà nớc. Kế thừa và phát triển các qui định về chế độ tài
sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam, Luật HN&GĐ năm 2000 của Nhà
nớc ta (các điều 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 95) đã qui định chế độ cộng đồng
tạo sản của vợ chồng tơng đối cụ thể và có nhiều điểm mới. Thực hiện và áp
dụng chế độ tài sản của vợ chồng những năm qua góp phần vào sự ổn định các
quan hệ HN&GĐ, tạo cơ sở pháp lý thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tài sản
của vợ chồng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt đợc của pháp luật
điều chỉnh vấn đề tài sản của vợ chồng, quá trình thực hiện và áp dụng Luật
HN&GĐ năm 2000 về chế độ tài sản của vợ chồng cho thấy còn khá nhiều bất
cập và vớng mắc. Mặc dù, đã có khá nhiều văn bản của các cơ quan nhà nớc
có thẩm quyền qui định, hớng dẫn áp dụng về chế độ tài sản của vợ chồng, nh-
ng do tính chất phức tạp và rất "nhạy cảm" từ các quan hệ HN&GĐ nói chung,
1
trong đó có các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng. Thực tiễn áp dụng đã
có nhiều quan điểm, nhận thức, đánh giá khác nhau, cha có sự thống nhất từ
phía các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền và cá nhân thực thi pháp luật, liên

số sách tham khảo liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng (Hỏi đáp về Luật
HN&GĐ của một số tác giả nh Nguyễn Thế Giai, Nguyễn Ngọc Điệp hoặc
Trần Văn Sơn ) cũng mới chỉ đề cập một lợng kiến thức cơ bản, phổ thông
hoặc trích đăng phụ lục các văn bản liên quan đến vấn đề HN&GĐ.
Hàng năm, tại các cơ sở đào tạo luật học ở nớc ta, đã có một số khóa
luận tốt nghiệp cử nhân luật hoặc luận án cao học luật nghiên cứu về chế độ
tài sản của vợ chồng (Nguyễn Văn Huyên: "Chế độ tài sản của vợ chồng theo
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986"; Nguyễn Hồng Hải: "Xác định tài sản
của vợ chồng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn"). Song, các khóa luận và
luận án này mới chỉ chủ yếu đề cập nghiên cứu một số vấn đề về chế độ tài
sản của vợ chồng dựa theo các văn bản hớng dẫn áp dụng Luật HN&GĐ của
các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền: Nội dung cơ bản của các qui định của
Luật HN&GĐ về chế độ tài sản của vợ chồng, nguyên tắc và căn cứ xác định
tài sản của vợ chồng Đã có một số cuốn sách tham khảo: " Một số vấn đề về
pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời kỳ Pháp thuộc" của Viện
Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ T pháp; "Chế độ hôn sản và thừa kế trong
Luật dân sự Việt Nam" của Nguyễn Mạnh Bách có liên quan đến chế độ tài
sản của vợ chồng ở góc độ lịch sử phát triển và hệ thống hóa nội dung chế độ
tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam, cho đến trớc ngày Luật
HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực thi hành (01/01/2001).
Vừa qua, tác giả cùng với thạc sĩ Ngô Thị Hờng viết cuốn sách tham
khảo "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000";
"Bình luận Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" công trình khoa học đề tài cấp
Viện (Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ T pháp) đã đợc nghiệm thu.
3
Tuy vậy, những công trình này cũng mới chỉ dừng lại ở việc giải thích nội dung
các điều của Luật HN&GĐ năm 2000 qui định về vấn đề tài sản của vợ chồng.
Luận án là một công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu riêng và chuyên
sâu về chế độ tài sản của vợ chồng một cách toàn diện, có tính hệ thống trong
kho tàng khoa học pháp lý Việt Nam.

HN&GĐ liên quan trực tiếp về vấn đề tài sản giữa vợ và chồng. Qua đó, đánh
giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng pháp luật về chế độ tài
sản của vợ chồng;
- Trên cơ sở phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của
vợ chồng theo luật thực định, luận án nêu một số kiến nghị đề xuất hớng sửa
đổi, bổ sung các qui định trong Luật HN&GĐ năm 2000 nhằm hoàn thiện chế
độ tài sản của vợ chồng.
Từ những nhiệm vụ trên đây, luận án đợc nghiên cứu chủ yếu trong
phạm vi luật thực định qui định về chế độ tài sản của vợ chồng.
4. Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
Xuất phát từ các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối liên hệ biện chứng. Pháp luật
là một bộ phận của kiến trúc thợng tầng xã hội, đợc hình thành từ một cơ sở
hạ tầng phù hợp. Pháp luật đợc coi là tấm gơng phản chiếu xã hội, còn về phần
mình, xã hội đợc coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật. Về lý thuyết và thực tiễn
cho thấy, các qui định của pháp luật phù hợp với sự phát triển của các điều
kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện
và áp dụng pháp luật; từ đó tạo cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng
một số phơng pháp nghiên cứu:
5
+ Phơng pháp lịch sử đợc sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu chế độ tài
sản của vợ chồng qua các thời kỳ ở Việt Nam;
+ Phơng pháp phân tích, tổng hợp đợc sử dụng khi phân tích các vấn
đề liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng và khái quát những nội dung cơ
bản của từng vấn đề đợc nghiên cứu trong luận án;
+ Phơng pháp so sánh đợc thực hiện nhằm tìm hiểu qui định của pháp
luật hiện hành với hệ thống pháp luật trớc đây ở Việt Nam cũng nh pháp luật
của một số nớc khác qui định về chế độ tài sản của vợ chồng. Qua đó, phân

- Khi phân tích nội dung chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật thực
định, luận án chỉ rõ các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng; đặc biệt,
phải xác định "thời kỳ hôn nhân" là căn cứ chung để xác lập tài sản chung của
vợ chồng trong các trờng hợp cụ thể:
+ Khi một bên vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích;
+ Khi một bên vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về;
+ Khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: chế
độ tài sản của vợ chồng đợc hiểu và áp dụng nh thế nào, sau khi đã chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và khôi phục chế độ tài sản chung
của vợ chồng;
+ Xác lập tài sản chung của vợ chồng đối với quan hệ "hôn nhân thực
tế" theo pháp luật hiện hành.
- Các loại nghĩa vụ chung và nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng đ-
ợc hiểu và áp dụng nh thế nào? Bao gồm cụ thể các loại nghĩa vụ nào?
- Những đặc điểm khác biệt về tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất
của vợ chồng đối với sở hữu chung theo phần.
7
- Luận giải tại sao Luật HN&GĐ của Nhà nớc ta (từ năm 1945 đến
nay) không qui định về loại chế độ tài sản ớc định (dựa theo sự thỏa thuận của
vợ chồng) và không qui định vấn đề ly thân giữa vợ và chồng.
- Qua việc phân tích thực tiễn áp dụng luật về chế độ tài sản của vợ
chồng, luận án chỉ rõ những vấn đề bất cập, không hợp lý, cha bảo đảm đợc
tính khoa học về những qui định của luật thực định khi điều chỉnh chế độ tài
sản của vợ chồng; từ đó, nêu các kiến nghị hoàn thiện các qui định về chế độ
tài sản của vợ chồng theo pháp luật hiện hành.
6. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Hoàn thành luận án này, chúng tôi hy vọng rằng, những kiến thức khoa
học trong luận án đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật ở nớc ta; đặc biệt, đối với
chuyên ngành luật HN&GĐ.

phát triển, cần phải có các điều kiện vật chất - cơ sở kinh tế của gia đình, nuôi
sống gia đình. Do vậy, chế độ tài sản của vợ chồng luôn đợc nhà làm luật quan
tâm xây dựng nh là một trong các chế định cơ bản, quan trọng nhất của pháp
luật về HN&GĐ.
Vợ, chồng trớc hết với t cách là công dân, có quyền chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Tài sản của vợ,
chồng thuộc phạm trù tài sản riêng của công dân đã đợc Hiến pháp (Điều 58
Hiến pháp năm 1992) và Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995 ghi nhận. Tài sản
theo nghĩa từ điển học là "của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất và
tiêu dùng", còn theo Điều 172 BLDS qui định, tài sản "bao gồm vật có thực,
tiền, giấy tờ trị giá đợc bằng tiền và các quyền tài sản". Xét về lý thuyết, có
thể áp dụng các qui định chi phối tài sản của vợ chồng nh những ngời khác
9
không phải là vợ chồng của nhau. Ví dụ: Tài sản của bên nào, bên đó có quyền
sử dụng, quản lý, định đoạt. Những thu nhập hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng là
tài sản riêng của vợ, chồng Tuy nhiên, lý thuyết này không thể áp dụng cho
hai vợ chồng trong thực tiễn. Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân đợc
xác lập - tính cộng đồng, sau khi kết hôn, hai vợ chồng ở vào tình trạng "ăn
chung, đổ lộn", cùng chung sức, chung ý chí trong việc tạo dựng tài sản, xây
dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc vì sự ổn định và phồn vinh của xã hội.
Tính chất và mục đích của quan hệ hôn nhân đợc xác lập đòi hỏi cần phải có
một qui chế pháp lý đặc biệt nhằm điều chỉnh vấn đề tài sản của vợ chồng. Do
vậy, Nhà nớc bằng pháp luật phải qui định về chế độ tài sản của vợ chồng.
Sở dĩ nhà lập pháp phải dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng là bởi
những lý do sau:
- Trớc hết, do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân đợc xác lập -
tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân. Kể từ khi nam, nữ kết hôn trở thành vợ
chồng, họ cùng chung sống, gánh vác chung công việc gia đình, cùng nhau tạo
dựng nên tài sản chung , muốn bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của gia đình,
thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của vợ chồng; để thực hiện nghĩa

cầu chung của gia đình khi ký kết các hợp đồng với ngời khác (mà các hợp
đồng do vợ chồng ký kết với những ngời khác đó lại quá nhiều; có thể nói là
không một cặp vợ chồng nào trong quá trình chung sống ở thời kỳ hôn nhân,
nhiều khi là suốt đời, lại biết rõ mình đã ký kết bao nhiêu hợp đồng với ngời
khác vì lợi ích của cá nhân và gia đình); nhờ có chế độ tài sản của vợ chồng đ-
ợc qui định, tạo điều kiện cho vợ, chồng và ngời thứ ba tự do tham gia các
giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng trong khuôn khổ luật định, bảo
vệ quyền lợi chính đáng của mình.
- Thứ hai, pháp luật có dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng mới là
cơ sở để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản của mình liên quan
11
đến tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân; nh việc luật qui định
các căn cứ, nguồn gốc, phạm vi các loại tài sản thuộc sở hữu chung của vợ
chồng hoặc tài sản riêng của vợ, chồng. Theo đó, vợ, chồng thực hiện quyền
sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) đối với từng loại
tài sản theo luật định nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình hoặc nhu cầu
của bản thân vợ, chồng. Đồng thời, xác định rõ các quyền lợi, nghĩa vụ của vợ
chồng liên quan đến tài sản của mình.
Ví dụ: anh T và chị H kết hôn với nhau năm 2000. Trong thời kỳ hôn
nhân, anh T đã vay của anh X 20.000.000 đồng. Món nợ 20.000.000 đồng này
sẽ do cả hai vợ chồng anh T và chị H cùng chịu trách nhiệm liên đới và đợc
thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng khi anh X có yêu cầu, nếu việc
vay của anh T nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Ngợc
lại, nếu khoản nợ 20.000.000 đồng đợc vay vì mục đích riêng của anh T, thì
anh T có nghĩa vụ trả khoản nợ trên bằng tài sản riêng của mình, chị H không
phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ trong trờng hợp này.
- Thứ ba, khi vợ, chồng sử dụng, định đoạt tài sản của mình nhằm bảo
đảm đời sống chung của gia đình luôn có liên quan đến quyền lợi của những
ngời khác - ngời thứ ba ký kết các hợp đồng liên quan đến tài sản của vợ
chồng. Theo luật định, ngời thứ ba tham gia giao dịch cần phải biết rằng trờng

những ngời có quyền lợi liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Nh vậy, chế độ tài sản của vợ chồng đợc nhà làm luật dự liệu do tính
chất, mục đích của quan hệ hôn nhân đợc xác lập, thể hiện nh là yếu tố khách
quan; phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, truyền
thống văn hóa để Nhà nớc qui định trong pháp luật về chế độ tài sản của vợ
chồng.
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các qui phạm pháp luật điều
chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các qui định về căn cứ xác lập tài
13
sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng;
nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng.
Trong pháp luật của Nhà nớc ta, cho đến nay vẫn cha có một khái
niệm về chế độ tài sản của vợ chồng đợc qui định trong một văn bản cụ thể
của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền. Chế độ tài sản của vợ chồng đợc qui định
trong pháp luật nh là một tất yếu khách quan, nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản
của vợ chồng, góp phần ổn định các quan hệ xã hội.
Pháp luật ở mỗi quốc gia đều có qui định về chế độ tài sản của vợ
chồng, có thể là khác nhau. Ngay trong một quốc gia, theo từng giai đoạn phát
triển của đất nớc, chế độ tài sản của vợ chồng đợc pháp luật qui định cũng có
thể là khác nhau (Pháp, Việt Nam ), phụ thuộc vào quan điểm, chính sách
pháp lý của nhà nớc và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, tập quán, truyền
thống của mỗi nớc.
1.1.2. Đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu tài sản của vợ
chồng. Xuất phát từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệ hôn nhân đợc
xác lập - tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân. Vợ, chồng với t cách là công
dân, vừa là chủ thể của quan hệ HN&GĐ, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự
khi thực hiện quyền sở hữu của mình, tham gia các giao dịch dân sự. Vì vậy,
chế độ tài sản của vợ chồng có những đặc điểm riêng biệt sau đây:
Thứ nhất, xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này,

trị lớn. Đối với tài sản riêng (nếu có), thông thờng ngời có tài sản có quyền tự
mình định đoạt không phụ thuộc ý chí của ngời khác. Tuy nhiên, với chế độ tài
sản của vợ chồng trong một số trờng hợp quyền năng này của họ bị hạn chế (ví
dụ, nếu tài sản riêng đang là nguồn sống duy nhất của cả gia đình, khi định
đoạt liên quan đến tài sản này thì phải có thỏa thuận của hai vợ chồng ).
15
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng
1.1.3.1. Vai trò của chế độ tài sản của vợ chồng
Xuất phát từ vị trí quan trọng của gia đình đối với xã hội, gia đình là nền
tảng cơ bản, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội. Hôn nhân lại là cơ sở để
tạo lập gia đình - tế bào của xã hội. Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp thống
trị đều thông qua Nhà nớc, bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ,
trong đó có quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng. Trong mỗi chế độ xã hội cụ
thể đều xây dựng một mô hình (kiểu) gia đình phù hợp với tính chất, kết cấu
của chế độ xã hội đó. Lịch sử xã hội đã ghi nhận nhiều hình thái gia đình tơng
ứng với chế độ chủ nô, phong kiến, t sản và gia đình XHCN với những đặc
điểm và nội dung khác nhau, do các điều kiện kinh tế - xã hội chi phối.
Trong quan hệ gia đình (dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi d-
ỡng), quan hệ vợ chồng có vai trò đặc biệt quan trọng. Quan hệ hôn nhân th-
ờng có tính chất bền vững "trăm năm", vợ chồng chung sống với nhau suốt
đời, sinh đẻ, giáo dục, chăm sóc và nuôi dỡng các con vì quyền lợi của gia
đình và lợi ích của xã hội. Bên cạnh đời sống tình cảm, yêu thơng gắn bó giữa
vợ chồng, không thể không quan tâm tới đời sống vật chất, tiền bạc, tài sản
của vợ chồng. Cuộc sống chung của vợ chồng, tính chất của quan hệ vợ chồng
đợc xác lập đòi hỏi phải có khối tài sản chung của vợ chồng; bởi tài sản là cơ
sở kinh tế của gia đình, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình, bảo đảm
cho gia đình thực hiện đợc các chức năng xã hội của nó.
Trớc hết, chế độ tài sản của vợ chồng đợc pháp luật của Nhà nớc ghi
nhận (dù là chế độ tài sản theo thỏa thuận - chế độ tài sản ớc định, hay theo
các căn cứ pháp luật - chế độ tài sản pháp định) đều thực hiện vai trò nhằm điều

nhằm đáp ứng lợi ích cá nhân vợ, chồng, quyền lợi của gia đình; vợ chồng phải ký
kết rất nhiều hợp đồng dân sự với những ngời khác. Nhờ có chế độ tài sản của vợ
chồng, các giao dịch đó đợc bảo đảm thực hiện, quyền lợi của vợ chồng, của ng-
ời tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng đợc bảo vệ. Chế độ tài
17
sản của vợ chồng định rõ về thành phần tài sản của vợ chồng và quyền hạn, nghĩa
vụ của vợ, chồng đối với những tài sản mà vợ, chồng có đợc trớc hoặc trong thời
kỳ hôn nhân; quyền sở hữu của vợ chồng đối với từng loại tài sản chung hay tài
sản riêng của vợ, chồng. Từ đó, khi vợ chồng thực hiện quyền sở hữu của mình,
vì lợi ích chung của gia đình, của cá nhân vợ, chồng hay vì lợi ích của ngời khác
đợc ổn định trong một trật tự pháp lý. Các kết ớc liên quan đến tài sản do vợ,
chồng thực hiện theo những mục đích cụ thể đối với từng loại tài sản đều phát
sinh các hậu quả pháp lý nhất định. Trong đó, quyền lợi của ngời thứ ba tham gia
giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng cũng đợc pháp luật bảo vệ. Pháp
luật về HN&GĐ của nhiều nớc đều qui định vấn đề này. Theo Điều 220 BLDS
Cộng hòa Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965): "Mỗi bên vợ, chồng có thể một
mình ký kết hợp đồng nhằm mục đích duy trì đời sống gia đình hoặc giáo dục
con cái; bên kia có trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ do việc ký kết này ".
BLDS Nhật Bản tại Điều 761 cũng qui định: "Đối với các vấn đề chi tiêu hàng
ngày, nếu chồng hoặc vợ thực hiện giao kết pháp lý với ngời thứ ba, thì cả vợ lẫn
chồng đều phải chịu trách nhiệm liên đới và theo phần đối với các nghĩa vụ phát
sinh từ đó ".
Bởi tính chất cộng đồng của hôn nhân, tài sản chung của vợ chồng đợc sử
dụng nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình. Nếu tài sản chung của vợ
chồng không đủ chi dùng, thì vợ, chồng nếu có tài sản riêng phải có nghĩa vụ
đóng góp tài sản riêng, bảo đảm cho các nhu cầu thiết yếu của gia đình. Các hợp
đồng do một bên vợ, chồng ký kết với ngời khác vì nhu cầu thiết yếu của gia
đình đợc coi là có hiệu lực, bên kia (chồng hoặc vợ) phải chịu trách nhiệm liên
đới. Nói cách khác, pháp luật suy đoán rằng, luôn có sự thỏa thuận "mặc nhiên"
của cả hai vợ chồng, dù hợp đồng đó chỉ do một bên vợ, chồng thực hiện. Những

ợc chồng cho phép. Ngời vợ chỉ đợc hành xử nghề nghiệp riêng biệt trừ phi
chồng không phản kháng. BLDS Pháp năm 1804 ở những năm đầu thực hiện đã
đặt ngời vợ ở vào tình trạng "vô năng cách" (không có năng lực pháp lý). Hệ
thống pháp luật dới chế độ phong kiến, thực dân ở nớc ta trớc đây đều thực hiện
19
theo quan niệm "ngời vợ là nô lệ trong gia đình", "thuyền theo lái, gái theo
chồng", "phu xớng, phụ tùy", "của chồng, công vợ" Điều 96 Bộ luật dân sự Bắc
Kỳ năm 1931 (DLBK) tuyên bố: "Chồng là ngời chủ trơng đoàn thể vợ chồng";
vợ chính, cùng vợ thứ phải đợc chồng cho phép mới đợc tha kiện cùng giao ớc .
(Điều 98). Ngời chồng có quyền "mặc nhiên" đại diện cho quyền lợi của gia
đình, có quyền ký kết bất kỳ hợp đồng nào liên quan đến tài sản của vợ chồng,
dù có giá trị hay không, đều đơng nhiên đợc coi là có hiệu lực. Vả lại, ngời vợ
chỉ đợc "thay mặt" chồng, chỉ đợc đại diện trong những nhu cầu gia vụ hoặc chỉ
đợc kết ớc nếu đợc chồng cho phép (ủy quyền). Nh vậy, bản chất của chế độ tài
sản của vợ chồng trong pháp luật phong kiến, t sản đã phản ánh tính chất, kết cấu
của xã hội phong kiến, t sản. Quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng,
trớc hết đợc tập trung vào tay ngời chồng - là chủ gia đình. Không thể có quan hệ
bình đẳng thực sự giữa vợ chồng trong các quan hệ nhân thân và tài sản của vợ
chồng. Theo C.Mác, Ph.Ăngghen, "giai cấp t sản đã xé toang tấm màn tình cảm
bao phủ những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là những
quan hệ tiền nong đơn thuần thôi" [39, tr. 42]. Theo các ông, chế độ tài sản của
vợ chồng trong gia đình t sản cũng phản ánh quan hệ bất bình đẳng giữa vợ
chồng: trong gia đình t sản, ngời chồng ở vào vị trí của ngời t sản, còn ngời vợ ở
vào vị trí của ngời vô sản. Vậy nên, không thể có và không thể đạt đợc quyền "tự
do", quyền "bình đẳng" thực sự giữa vợ chồng trong hôn nhân t sản. Theo V.I.
Lênin, bất cứ ngời nào dẫu chỉ hiểu sơ lợc luật pháp của các nớc t sản về hôn
nhân, về ly dị và về con hoang, cũng nh hiểu biết sơ lợc về tình hình thực tế trong
lĩnh vực ấy, mà quan tâm đến vấn đề thì đều thấy rằng về phơng diện đó, chế độ
dân chủ t sản ngày nay, ngay trong những nớc cộng hòa dân chủ nhất, cũng đều tỏ
ra có một thái độ thật sự mang tính chất nông nô đối với phụ nữ và con hoang.

hai bên nam, nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng, chế độ tài sản của vợ
chồng đợc dự liệu với những thành phần tài sản của vợ chồng. Dù vợ chồng
lựa chọn chế độ tài sản ớc định hay chế độ tài sản theo luật định, dù là chế độ
21
tài sản cộng đồng hay theo tiêu chuẩn phân sản thì các loại tài sản của vợ
chồng luôn đợc pháp luật qui định rõ.
Ví dụ: Theo chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản,
hay chế độ cộng đồng bao gồm các tài sản là động sản và tạo sản hoặc chế độ
cộng đồng tạo sản, thì tiền lơng, tiền thởng hoặc những thu nhập hợp pháp
khác của vợ, chồng ở trớc thời kỳ hôn nhân (trớc khi kết hôn) theo nguyên tắc là
tài sản riêng của vợ, chồng, nhng sau khi kết hôn, nó luôn đợc coi là tài sản
chung của vợ chồng, đợc sử dụng để bảo đảm đời sống chung của gia đình.
BLDS Pháp tại Điều 1401 qui định: Tài sản của vợ chồng bao gồm những
thu nhập chung của hai vợ chồng hoặc thu nhập riêng của từng ngời trong thời kỳ
hôn nhân và có nguồn gốc từ công việc làm ăn của họ, cũng nh từ những
khoản tiết kiệm có đợc do hoa lợi, lợi tức của tài sản riêng của họ Luật hôn
nhân của nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1980) cũng dự liệu: "Tài sản
của vợ chồng làm ra trong suốt thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng,
ngoài ra mỗi bên có thể có tài sản riêng ngoài qui định trên" (Điều 13)
- Việc phân định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng của chế
độ tài sản còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng
đối với các loại tài sản của vợ chồng. Với t cách là chủ sở hữu đối với tài sản
chung hay tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có), vợ, chồng thực hiện quyền sở
hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) đối với các loại tài
sản này vì quyền lợi của gia đình hay lợi ích cá nhân vợ, chồng theo qui chế
pháp lý dành cho từng loại tài sản.
Ví dụ: Đối với tài sản chung của vợ chồng, vợ, chồng có quyền chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt vì quyền lợi của gia đình. Vợ, chồng là đồng chủ sở
hữu đối với tài sản chung của họ. Vì vậy, một bên vợ, chồng không thể tự ý
định đoạt tài sản chung, nếu không có sự thỏa thuận đồng ý của bên chồng, vợ

giai cấp thống trị xã hội. Bên cạnh việc qui định về căn cứ, nguồn gốc thành
23
phần các loại tài sản của vợ chồng, luật qui định về quyền hạn, nghĩa vụ của
vợ, chồng đối với các loại tài sản đó; cũng nh các nguyên tắc phân chia và
quyền lợi đợc hởng từ tài sản đó của vợ, chồng.
Trong xã hội còn duy trì đối kháng giai cấp, duy trì quan hệ ngời bóc
lột ngời, khó có thể có đợc quyền bình đẳng thực sự giữa vợ và chồng về vấn
đề tài sản trong quan hệ gia đình. Bởi lẽ, khi các quyền nhân thân của ngời vợ
bị phụ thuộc, do ngời chồng định liệu, ngời chồng là gia trởng, là chủ gia đình
theo luật định; bắt buộc ngời vợ phải phụ thuộc chồng về vấn đề tài sản trong
gia đình. Ngợc lại, khi chế độ t hữu, ngời bóc lột ngời bị thủ tiêu, mối quan hệ
bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng đợc xác lập, quyền lợi và nghĩa vụ về tài
sản của vợ chồng đợc bảo đảm, không những về mặt pháp luật mà còn đợc
thực hiện trọn vẹn trong đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật của kiểu Nhà nớc
XHCN đã chứng minh điều đó.
1.2.1. Chế độ tài sản dựa trên sự thỏa thuận của vợ chồng (chế độ
tài sản ớc định)
Theo quan điểm thuần túy pháp lý của các nhà làm luật t sản, hôn
nhân thực chất là một hợp đồng, một khế ớc do hai bên nam, nữ thỏa thuận,
xác lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện. Các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng
đợc phát sinh và thực hiện trong thời kỳ hôn nhân cũng giống nh các quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đó. Cần phải tôn trọng
các quyền tự do cá nhân của công dân, của vợ chồng khi thiết lập quan hệ hôn
nhân, trong đó có quan hệ tài sản giữa vợ chồng. Vì vậy, pháp luật cho phép
trớc khi kết hôn, hai bên đợc quyền tự do ký kết hôn ớc (hay còn gọi là khế -
ớc). Thực chất là một hợp đồng do hai bên thỏa thuận; miễn sao không trái với
các qui định của pháp luật và đạo đức xã hội (trật tự công cộng), Điều 1465
BLDS và Thơng mại Thái Lan qui định:
Khi vợ chồng không có sự thỏa thuận đặc biệt về tài sản của
họ trớc khi kết hôn, thì quan hệ giữa họ về tài sản sẽ đợc điều chỉnh

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status