Cơ sở lý luận và thực tiễn điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH MAI
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU
1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ TÀI
SẢN CỦA VỢ CHỒNG
6
1.1.
Khái niệm quan hệ tài sản của vợ chồng
6
1.2.
Đặc điểm quan hệ tài sản của vợ chồng
9
1.3.
Ý nghĩa của việc xác định quan hệ tài sản của vợ chồng
13
1.4.
Sơ lược lịch sử quan hệ tài sản của vợ chồng theo quy định của
pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qua các thời kỳ
17
1.5.

2.1.5.
Quan hệ tài sản của vợ chồng phát sinh do tính chất của quan
hệ hôn nhân
54
2.1.6.
Quan hệ tài sản của vợ chồng phát sinh dựa trên mục đích của
quan hệ hôn nhân
57 2.2.
Cơ sở thực tiễn điều chỉnh quan tài sản của vợ chồng
58
2.2.1.
Do sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội
58
2.2.2.
Do tác động của phong tục, tập quán, đạo đức đến các quy
định của pháp luật về quan hệ tài sản của vợ chồng
61
2.2.3.
Do ảnh hưởng của yếu tố lịch sử đến quan hệ tài sản của vợ chồng
64
2.2.4.
Do ảnh hưởng của yếu tố chính trị
66
2.2.5.
Do nhận thức của nhà làm luật tác động đến quan hệ pháp
luật về tài sản của vợ chồng
67

3.2.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về
quan hệ tài sản của vợ chồng
89
3.2.3.
Các biện pháp tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật
107

KẾT LUẬN
115

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
117

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT BLDS

Bộ luật Dân sự
CNXH

Chủ nghĩa xã hội
ĐCS

Đảng Cộng sản
HĐTP 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Khi hai người nam nữ quyết định kết hôn với nhau, tức là họ đã lựa chọn
cho mình một con đường mới với rất nhiều bổn phận, nghĩa vụ và quyền lợi,
trong đó có quyền lợi và nghĩa vụ về tài sản. Quan hệ hôn nhân là một quan
hệ đặc thù, theo đó, quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng cũng là một loại quan
hệ đặc biệt. Chính vì vậy, pháp luật về quan hệ tài sản của vợ chồng đã giành
được nhiều sự quan tâm và không ngừng được hoàn thiện qua các thời kỳ.
Luật HN&GĐ năm 2000 đã thực hiện vai trò điều chỉnh quan hệ
HN&GĐ, trong đó có quan hệ tài sản của vợ chồng được gần 10 năm. Ngày
nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, diện mạo của gia đình
đã thay đổi đáng kể, chức năng kinh tế của gia đình đã chuyển từ sản xuất
sang tiêu dùng. Kinh tế xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, mối quan hệ
trong gia đình vì thế cũng gặp những thuận lợi và thách thức. Cùng với sự
phát triển của xã hội, Luật HN&GĐ năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi
hành cũng bộc lộ những điểm hạn chế cần giải quyết.
Việc hiểu rõ hơn những cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự ra đời những
quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một
vấn đề mang tính khách quan, cấp thiết nhằm tìm ra những căn nguyên để
hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về quan hệ tài sản của vợ
chồng. Qua đó, góp phần tích cực hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình ấm
no, hạnh phúc và bền vững.
Do đó, tác giả đã chọn đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn điều chỉnh
quan hệ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000" làm
đề tài cho luận văn Thạc sỹ của mình.
3
gia đình hạnh phúc, xã hội ổn định.
Trên cơ sở mục đích đó, Luận văn được thực hiện với nhiệm vụ:
- Nghiên cứu khái niệm quan hệ tài sản của vợ chồng, đặc điểm quan hệ
tài sản của vợ chồng, ý nghĩa của việc xác định quan hệ tài sản của vợ chồng;
- Sơ lược lịch sử quan hệ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp
luật HN&GĐ Việt Nam qua các thời kỳ, cũng như nội dung quan hệ tài sản
của vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000;
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ
chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản vợ
chồng và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng trong giai đoạn hiện nay trên các cơ
sở lý luận và thực tiễn điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng.
Quan hệ tài sản của vợ chồng có thể hiểu với ý nghĩa là quan hệ sở hữu
tài sản của vợ chồng (nghĩa hẹp) hoặc với ý nghĩa là quan hệ sở hữu tài sản,
quan hệ cấp dưỡng và quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng (nghĩa
rộng).
Vì quan hệ tài sản của vợ chồng theo nghĩa rộng sẽ không chỉ bao hàm
quan hệ sở hữu giữa vợ chồng mà còn những quan hệ khác liên quan đến tài
sản vợ chồng như quan hệ thừa kế, cấp dưỡng, nên quan hệ tài sản hiểu theo
nghĩa này sẽ bao trùm lên các vấn đề liên quan đến tài sản của vợ chồng, và vì
vậy, nó sẽ mang tính khái quát, hệ thống nhất.
Do đó, Luận văn sẽ phân tích trong phạm vi cơ sở lý luận và thực tiễn
điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là quan hệ sở hữu tài sản,
quan hệ cấp dưỡng và quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng.
Chương 3. Thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản vợ
chồng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh
quan hệ tài sản của vợ chồng trong giai đoạn hiện nay
Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng
dẫn, gia đình, bạn bè và nỗ lực của bản thân. Tuy nhiên, với khả năng còn hạn
chế, Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và người đọc. 6
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái niệm quan hệ tài sản của vợ chồng
1.1.1. Khái niệm hôn nhân
Việc xác định một cách đúng đắn, đầy đủ khái niệm về hôn nhân có ý
nghĩa rất quan trọng. Nó không chỉ tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản
chất pháp lý của hôn nhân, mà nó còn tạo cơ sở để xác định sự tồn tại hay
chấm dứt quan hệ vợ chồng. Thời điểm xác lập hay chấm dứt quan hệ hôn
nhân giữa vợ chồng quyết định đến thời điểm xác lập, thay đổi hay chấm dứt
quan hệ tài sản của vợ chồng.
Thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hôn nhân. Theo
quan niệm truyền thống về hôn nhân của Cơ đốc giáo thì “Hôn nhân là sự liên
kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà
không vì mục đích nào khác”. Còn theo quan điểm của một số luật gia ở Châu
Âu và Mỹ thì cho rằng “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam
và một người nữ với tư cách là vợ chồng”, hoặc “Hôn nhân là hành vi hoặc
tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ
chồng” [12, tr.1].
Ở Việt Nam, khái niệm hôn nhân đã được pháp điển hóa trong Luật
HN&GĐ năm 2000. Khoản 6 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:

phát sinh. Vì vậy, nói đến tài sản của vợ chồng mà chỉ đề cập đến vật và
những lợi ích vật chất khác thuộc quyền mà không đề cập đến các tài sản nợ
mà vợ, chồng có nghĩa vụ thanh toán cho người thứ ba là không đầy đủ. Theo
đó, hiểu theo nghĩa đầy đủ tài sản của vợ chồng bao gồm vật, tiền, giấy tờ có
giá, các quyền và nghĩa vụ về tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng. 8
1.1.3. Khái niệm quan hệ tài sản của vợ chồng
Trong gia đình, bên cạnh đời sống tình cảm, yêu thương giữa vợ chồng,
cần phải có đời sống vật chất, tài sản của vợ chồng vì đó là cơ sở kinh tế bảo
đảm cho gia đình tồn tại và phát triển. Do đó, pháp luật đã dành sự quan tâm
lớn để điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng.
Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2000 chưa có quy định nào về khái niệm
“quan hệ tài sản của vợ chồng”. Nhưng, từ những khái niệm về hôn nhân,
cũng như khái niệm về tài sản của vợ chồng và những quy định trong Luật
HN&GĐ năm 2000, nhận thấy, khái niệm quan hệ tài sản của vợ chồng có thể
hiểu theo hai nghĩa với hai phạm vi tác động khác nhau: Khái niệm quan hệ
tài sản của vợ chồng có thể hiểu với ý nghĩa là quan hệ sở hữu tài sản của vợ
chồng và với ý nghĩa là quan hệ sở hữu tài sản, quan hệ cấp dưỡng và quyền
thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng.
Điều 164 BLDS quy định quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của
pháp luật. Theo đó, có thể hiểu quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ chồng là quan
hệ về quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của vợ chồng đối
với tài sản chung và tài sản riêng của mỗi bên.
Mặt khác, với ý nghĩa là quan hệ sở hữu tài sản, quan hệ cấp dưỡng và
quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ chồng, quan hệ tài sản của vợ chồng
hay quan hệ pháp luật về tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản của vợ

không thể kết hôn với nhau, kéo theo đó là không thể tồn tài quan hệ tài sản
vợ chồng giữa họ được.
- Năng lực hành vi là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình tạo ra 10
cho bản thân những quyền và nghĩa vụ về quan hệ tài sản của vợ chồng. Vì
năng lực pháp luật về quan hệ tài sản của vợ chồng của cá nhân chỉ phát sinh
khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định (độ tuổi kết hôn) nên năng lực hành
vi của cá nhân cũng phát sinh từ khi phát sinh năng lực pháp luật, tất nhiên,
trừ những người mắc bệnh tâm thần.
Đồng thời, một cá nhân, công dân, muốn trở thành chủ thể của quan hệ
pháp luật về tài sản của vợ chồng thì không những họ phải đảm bảo đủ điều
kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi mà quan hệ hôn nhân (quan hệ
vợ chồng) của họ phải được công nhận theo trình tự, thủ tục luật định. Nghĩa
là, chủ thể đó phải đảm bảo đã thực thi năng lực hành vi của mình trên thực
tế, nghĩa là họ phải đăng ký kết hôn và được trao Giấy chứng nhận kết hôn.
Do đó, Giấy chứng nhận kết hôn có một ý nghĩa quan trọng để xác định chủ
thể của quan hệ tài sản của vợ chồng.
1.2.2. Yếu tố tình cảm là nét đặc trưng
Trong quan hệ vợ chồng, tình cảm là yếu tố đặc trưng, gắn bó giữa vợ
chồng, nó quyết định việc xác lập, tồn tại hay chấm dứt quan hệ tài sản của vợ
chồng.
Khi hai người nam và nữ có tình cảm thương yêu nhau, họ mới tiến tới
quan hệ hôn nhân và trở thành vợ chồng, các quyền và nghĩa vụ về tài sản của
vợ chồng mới phát sinh. Đồng thời, các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ
chồng cũng chỉ được thực hiện trên cơ sở tình cảm gắn kết giữa vợ và chồng.
Ví dụ: vợ, chồng thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung nhằm đáp ứng
nhu cầu đời sống chung của vợ chồng, thể hiện tình yêu thương, chăm sóc lẫn
nhau giữa vợ chồng.

chung) đã thể hiện rõ rằng việc quy định quan hệ tài sản của vợ chồng trước
tiên và chủ yếu là nhằm bảo vệ quyền lợi của gia đình. 12
Pháp luật về tài sản của vợ chồng cũng bảo vệ các lợi ích cá nhân của vợ
hoặc chồng. Nó là cơ sở, là điều kiện để vợ, chồng chủ động thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản của vợ chồng. Đó là những lợi ích
về vật chất được thực hiện trong các quyền về quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ
chồng, quyền về cấp dưỡng giữa vợ và chồng, và quyền về thừa kế tài sản của
nhau giữa vợ và chồng.
1.2.4. Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ có những điểm đặc thù hay
giới hạn nhất định
Việc thực hiện quyền hay nghĩa vụ của vợ hoặc chồng với quan hệ tài
sản của vợ chồng có những điểm đặc thù hoặc giới hạn nhất định mà trong
quan hệ pháp luật dân sự không có.
Đối với tài sản chung của vợ chồng, khi tham gia các giao dịch dân sự,
kinh tế, vợ chồng phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình. Thông thường,
khi vợ, chồng sử dụng tài sản chung để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của
gia đình thì pháp luật luôn coi là có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ
chồng, trừ những tài sản chung có giá trị lớn.
Trong một số trường hợp, quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng của
mình bị giới hạn. Thông thường, đối với tài sản riêng, người sở hữu tài sản đó
có quyền tự mình định đoạt tài sản, không phụ thuộc vào ý chí của người
khác. Nhưng, xuất phát từ lợi ích chung của gia đình mà quyền năng này của
người chồng hay người vợ đối với tài sản riêng bị pháp luật hạn chế.
Ví dụ: nếu tài sản riêng của vợ, chồng đang là nguồn sống duy nhất của
cả gia đình thì khi định đoạt tài sản này phải có sự thỏa thuận của hai vợ
chồng; hoặc hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng (không
phải là tài sản riêng có được do chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ

và văn minh. 14
1.3.2. Là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ chồng
về tài sản
Quyền sở hữu của vợ chồng; quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ,
chồng; quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ, chồng phải được xác lập trên
cơ sở những căn cứ do pháp luật quy định, nhằm mục đích xác định tính hợp
pháp, hình thức sở hữu, điều kiện, thủ tục nhất định. Qua đó, Nhà nước xây
dựng cơ chế pháp lý đảm bảo việc thực hiện các quyền của vợ, chồng; là điều
kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của vợ, chồng, tránh những tranh chấp xảy ra
làm tổn thương đến tình cảm và sự đoàn kết trong gia đình.
Việc quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng trong quan hệ tài sản
của vợ chồng là một minh chứng rõ nét, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của vợ, chồng về tài sản. Ví dụ như
trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể chia tài sản chung để một bên vợ,
chồng thực hiện đầu tư kinh doanh riêng. Điều này không chỉ đảm bảo quyền
lợi cho người vợ hoặc chồng khi có nhu cầu đầu tư kinh doanh khi bên còn lại
không muốn kinh doanh (do lĩnh vực này tiềm ẩn nhiều rủi ro), mà nó còn
đảm bảo quyền lợi cho bên còn lại khi việc đầu tư kinh doanh đó không hiệu
quả.
Quy định về quan hệ tài sản của vợ chồng cũng tạo cơ sở pháp lý để vợ
chồng thực hiện sự dân chủ và bình đẳng trong các quan hệ về tài sản. Nó quy
định và tạo điều kiện, khuyến khích vợ chồng có trách nhiệm đối với gia đình
của mình, cùng sát cánh bên nhau, đồng tâm hiệp lực xây dựng cơ sở vật chất
cho cuộc sống gia đình. Vợ chồng cùng nhau thỏa thuận bình đẳng, lựa chọn
những hình thức quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản phù hợp nhất để xây
dựng và củng cố gia đình. Đồng thời, đảm bảo các tiền đề vật chất cho tính
độc lập của vợ, chồng, giúp họ không chỉ thực hiện tốt vai trò của người vợ,
16
1.3.4. Là cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và với người khác
Khi gia đình hạnh phúc, vấn đề tài sản chung, tài sản riêng, quyền và
nghĩa vụ cấp dưỡng thường không đặt ra. Vợ chồng cùng chăm sóc lẫn nhau
và cùng góp công, góp sức, góp của để quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản
trong gia đình, bao gồm cả tài sản riêng của mỗi bên. Nhưng khi quan hệ vợ
chồng phát sinh mâu thuẫn gay gắt, thì vấn đề gây tranh cãi nhất đó là tài sản.
Trong những trường hợp này, khi cần thiết phải phân chia tài sản, hay xác
định nghĩa vụ cấp dưỡng, quan hệ pháp luật về tài sản của vợ chồng là căn cứ
pháp lý quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp giữa vợ chồng liên quan đến quan hệ tài sản của họ theo từng trường hợp
cụ thể. Lúc này, việc làm đầu tiên mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền là xác
định họ có phải là vợ chồng hay không (hôn nhân có hợp pháp hay không).
Và tiếp theo đó là dựa trên các quy định của pháp luật về quan hệ tài sản của
vợ chồng để xác định xem đâu là tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của
vợ, tài sản riêng của chồng. Có như vậy, tranh chấp về tài sản giữa vợ và
chồng mới được giải quyết triệt để.
Việc xác định quan hệ tài sản của vợ chồng còn có ý nghĩa trong việc
giải quyết các tranh chấp đối với thời hạn chia di sản thừa kế mà người để lại
thừa kế là một bên vợ, chồng. Căn cứ trên các quy định của pháp luật về hạn
chế phân chia di sản thừa kế trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà
việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng
còn sống và gia đình, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành giải quyết
các tranh chấp này khi nó phát sinh.
Đồng thời, việc xác định quan hệ tài sản của vợ chồng cũng là cơ sở
pháp lý quan trọng để TA giải quyết các tranh về tài sản giữa vợ chồng với
người thứ ba. Ví dụ việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay nợ của người


18
vào chồng, còn người chồng được coi là trụ cột của gia đình, đại diện cho
quyền lợi của gia đình, do đó, cũng là chủ sở hữu các tài sản trong gia đình,
có quyền định đoạt toàn bộ tài sản ấy. Chính vì vậy mà việc quy định vấn đề
quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong một giới hạn nhất định là điều không cần
thiết, không còn ý nghĩa.
Tài sản chung của vợ chồng gồm các tài sản là động sản (Quốc triều hình
luật gọi là phù vật) và bất động sản (điền sản). Trong đó, điền sản được coi là
tài sản chủ yếu, chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong khối tài sản chung của
vợ chồng. Thành phần khối tài sản chung của vợ chồng gồm ba loại: Phu tông
điền sản (tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình chồng); thê điền sản (tài
sản của vợ được thừa kế từ gia đình); tần tảo điền sản (tài sản mà vợ chồng
làm ra trong thời kỳ hôn nhân). Nhưng, tất cả những loại tài sản này vẫn đều
được đặt dưới sự quản lý của người chồng. Tài sản chung của vợ chồng chỉ
được chia khi một bên vợ, chồng chết trước mà giữa họ không có con.
Pháp luật thời Lê đã dành cho người vợ được tham gia vào việc quản lý
tài sản chung của vợ chồng; người vợ được tự do hành động trong các nhu
cầu gia đình nhằm đảm bảo cuộc sống chung của gia đình. Sự đồng ý của
người chồng trong các trường hợp này là mặc nhiên. Các giao dịch liên quan
đến điền sản đều phải có sự thỏa thuận đồng ý của hai vợ chồng. Trường hợp
người chồng sử dụng tài sản chung không đảm bảo lợi ích của gia đình thì
người vợ cũng có quyền phản đối. Quy định này đã thể hiện một sự tiến bộ
vượt bậc của pháp luật PK trong việc xác định quyền hạn của người vợ đối
với tài sản của vợ chồng.
Tuy nhiên, sau đó, Hoàng Việt luật lệ lại không thừa nhận quyền này của
người vợ mà coi vợ là “người vô năng lực”, phụ thuộc vào người chồng một
cách tuyệt đối, tất cả tài sản trong gia đình, bao gồm cả tài sản riêng của vợ
đều hợp thành một khối duy nhất thuộc quyền sở hữu của người chồng, đây là


20
bộ tài sản trong gia đình đều thuộc quyền sở hữu và quyền quản lý của người
chồng, người chồng có quyền sở hữu duy nhất đối với tài sản của vợ chồng
hoặc của vợ, chồng (tập Dân luật giản yếu Nam Kỳ).
- Có một số nội dung tiến bộ, nhưng vẫn không thoát ra ngoài nguyên tắc
“quyền chủ tể đối với tất cả mọi người đồng cư trong nhà là quyền của người
gia trưởng”, người chồng (Điều 204 Bộ dân luật Bắc Kỳ).
Một trong những nội dung tiến bộ là việc quy định về chế độ cấp dưỡng
giữa vợ và chồng. Điều 114 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Điều 142 Bộ dân luật
Trung Kỳ có quy định khi TA tuyên bố ly hôn thì không phân biệt lỗi của vợ
hay chồng, TA có quyền ấn định một số tiền cấp dưỡng mà chồng phải trả cho
vợ. Trước đó, tập Dân luật giản yếu Nam kỳ cũng đã quy định về vấn đề cấp
dưỡng giữa vợ và chồng.
Vận dụng một phần luật phương Tây, Bộ dân luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ cho
phép vợ, chồng khi kết hôn được thỏa thuận về nội dung của các quan hệ tài
sản giữa họ trong thời kỳ hôn nhân, nhưng trong mọi trường hợp, các thỏa
thuận đó không được đi ngược lại nguyên tắc chồng là người đứng đầu gia
đình, là chủ khối tài sản của gia đình (Điều 104 Bộ dân luật Bắc Kỳ, Điều 102
Bộ dân luật Trung Kỳ).
Tập Dân luật giản yếu Nam Kỳ quy định trong một số trường hợp đặc
biệt người vợ cũng có quyền sở hữu đối với những tài sản nhất định như các
đồ tư trang của người vợ; tài sản người vợ có được do được gia đình vợ tặng
cho hoặc được hưởng di sản của gia đình vợ; bất động sản đã ghi rõ tên vợ là
chủ sở hữu trong sổ địa bộ. Tuy nhiên, người chồng vẫn có quyền một mình
đứng ra sử dụng, định đoạt tài sản đó.
Trong trường hợp người chồng chết, người vợ thay thế người chồng để
điều hành công việc của gia đình, song việc điều hành ấy đặt dưới sự giám sát

Trích đoạn Quan hệ tài sản của vợ chồng được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mac Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Quan hệ tài sản vợ chồng được xây dựng tuân thủ theo những quy định của Hiến pháp, phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam và quốc Quan hệ tài sản của vợ chồng phát sinh, thay đổi hay chấm dứt dựa trên sự kiện pháp lý phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ hôn Quan hệ tài sản của vợ chồng phát sinh do tính chất của quan hệ hôn nhân Quan hệ tài sản của vợ chồng phát sinh dựa trên mục đích của quan hệ hôn nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status