nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 3
ThS. Nguyễn Văn Cừ *
1. Quyền sở hữu của vợ chồng thuộc
một trong ba loại quyền tài sản của vợ
chồng (quyền sở hữu, quyền và nghĩa vụ cấp
dỡng, quyền thừa kế tài sản của nhau giữa
vợ và chồng). Sở dĩ nhà lập pháp phải dự
liệu về chế độ tài sản của vợ chồng (trong đó
có quyền sở hữu của vợ chồng) là bởi những
lí do sau:
Trớc hết, do tính cộng đồng hợp nhất
của quan hệ hôn nhân nên để bảo đảm
những nhu cầu thiết yếu của gia đình, thoả
mn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của
vợ chồng và để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc,
giúp đỡ lẫn nhau; chăm sóc, nuôi dỡng
giáo dục các con thì cần phải có tài sản,
tiền bạc, sản nghiệp của vợ chồng. Vì thế,
bên cạnh đời sống tình cảm, sự yêu thơng
gắn bó giữa vợ và chồng không thể không
nói đến vấn đề tài sản của vợ chồng. Mặt
khác, cũng để bảo đảm đời sống chung của
gia đình, đáp ứng các nhu cầu về vật chất,
tinh thần của vợ chồng, nghĩa vụ chăm sóc,
giáo dỡng con cái thì trong suốt thời kì
của vợ chồng) thì vợ, chồng mới biết để thực
hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản của mình
liên quan đến tài sản của vợ chồng trong
suốt thời kì hôn nhân. Ví dụ, các căn cứ,
nguồn gốc, phạm vi các loại tài sản thuộc sở
hữu chung của vợ chồng hoặc tài sản riêng
của vợ (chồng), theo đó vợ, chồng thực hiện
quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt) đối với từng loại tài sản theo luật
định nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia
* Giảng viên chính Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
4 - tạp chí luật học
đình hoặc nhu cầu của bản thân vợ, chồng.
Thứ ba, việc vợ chồng sử dụng, định
đoạt tài sản của mình nhằm bảo đảm đời
sống chung của gia đình luôn có liên quan
đến quyền lợi của ngời khác (ngời thứ ba)
khi họ kí kết các hợp đồng liên quan đến tài
sản của vợ chồng. Theo luật định, ngời thứ
ba tham gia giao dịch cần phải biết rằng
trờng hợp nào hợp đồng đó đợc bảo đảm
thực hiện từ tài sản chung của vợ chồng
hoặc bằng tài sản riêng của vợ, chồng nhằm
bảo đảm quyền lợi chính đáng của mình. Ví
dụ: Anh T và chị H kết hôn năm 1996. Năm
vợ chồng trong pháp luật là cơ sở pháp lí để
các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ
chồng với nhau và với ngời khác. Ví dụ,
giải quyết về những món nợ mà vợ chồng
vay chung vì lợi ích chung của gia đình hoặc
mỗi bên vợ, chồng vay riêng để sử dụng vào
mục đích riêng. Tùy theo từng trờng hợp cụ
thể mà áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng
quy kết theo trách nhiệm (nghĩa vụ) chung
của vợ chồng hay nghĩa vụ riêng của vợ,
chồng phải thanh toán món nợ đó. Theo
từng trờng hợp chia tài sản chung khi có
yêu cầu của vợ, chồng, toà án áp dụng các
nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng,
bảo đảm quyền lợi chính đáng về tài sản của
vợ, chồng cũng nh quyền lợi của những
ngời có lợi ích liên quan đến tài sản chung
của vợ chồng.
2. Kế thừa và phát triển những quy định
về quyền sở hữu của vợ chồng theo Luật
HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm
2000 (có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2001) cũng đ ghi nhận về quyền sở
hữu của vợ chồng đối với tài sản chung và
tài sản riêng của vợ, chồng; quy định về căn
cứ xác lập, nguồn gốc, phạm vi các loại tài
sản đó.
2.1. Đối với tài sản chung của vợ chồng,
Luật HN&GĐ năm 2000 đ quy định chế độ
chung và tài sản riêng của vợ, chồng, khoản
3 Điều 27 Luật HN&GĐ còn quy định trong
trờng hợp không có chứng cứ chứng minh
tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là
tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài
sản chung của vợ chồng.
Theo nguyên tắc vợ chồng bình đẳng,
Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 đ quy
định vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang
nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản chung. Tài sản chung của vợ
chồng đợc chi dùng để bảo đảm nhu cầu
của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung
của vợ chồng. Việc xác lập, thực hiện và
chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài
sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống
duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản
chung để đầu t kinh doanh phải đợc vợ
chồng bàn bạc, thỏa thuận. Những quy định
này nhằm bảo đảm cho vợ chồng thực hiện
quyền sở hữu của mình đối với tài sản
chung, nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống
chung của gia đình. Đồng thời, Luật
HN&GĐ năm 2000 cũng quy định các
trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng
(Điều 29, 30, 31, 95).
2.2. Đối với tài sản riêng của vợ, chồng,
theo Điều 32 Luật HN&GĐ đ quy định về
căn cứ, nguồn gốc, phạm vi tài sản thuộc
quyền sở hữu riêng của vợ, chồng bao gồm
nghiên cứu - trao đổi
6 - tạp chí luật học
mới của Luật HN&GĐ năm 2000, xuất phát
từ truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt
Nam. Ngoài ra, khoản 5 Điều 33 Luật
HN&GĐ năm 2000 còn quy định trong
trờng hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng
đ đợc đa vào sử dụng chung mà hoa lợi,
lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy
nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản
riêng đó phải đợc sự thoả thuận của cả vợ
chồng. Quy định này thực chất là hạn chế
quyền sở hữu của vợ, chồng có tài sản
riêng vì sự ổn định, bảo đảm lợi ích chung
của gia đình.
3. Kể từ ngày Luật HN&GĐ năm 2000
có hiệu lực thi hành đến nay, sau gần hai
năm thực hiện, những quy định của Luật
HN&GĐ năm 2000, trong đó có các quy
định về quyền sở hữu của vợ chồng là cơ sở
pháp lí để vợ, chồng thực hiện quyền sở hữu
của mình đối với tài sản chung, tài sản
riêng; là cơ sở pháp lí để tòa án giải quyết
các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với
nhau và với ngời khác. Tuy nhiên, qua
nghiên cứu những quy định về quyền sở hữu
của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000,
thực tiễn áp dụng luật những năm qua cho
thấy bên cạnh Luật HN&GĐ năm 2000, các
đợc dự liệu cụ thể để thống nhất áp dụng.
Cho đến nay vẫn có hai quan điểm trái
ngợc nhau. Quan điểm xét dới góc độ luật
dân sự cho rằng chỉ chủ sở hữu tài sản mới
có quyền thu lợi (hoa lợi, lợi tức) phát sinh
từ tài sản riêng đó. Vì vậy, phải coi hoa lợi,
lợi tức thu đợc từ tài sản riêng của vợ,
chồng trong thời kì hôn nhân là tài sản riêng
của vợ, chồng.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực HN&GĐ, do
tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân, vợ
chồng cùng chung sức, chung ý chí tạo dựng
tài sản chung nhằm bảo đảm đời sống chung
của gia đình. Một trong những đặc điểm của
căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
(khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000)
là tài sản chung của vợ chồng không nhất
thiết phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp
tạo ra mà chỉ cần một bên vợ, chồng tạo ra
đợc trong thời kì hôn nhân; truyền thống
lập pháp của Nhà nớc ta từ năm 1945 đến
nay đ thể hiện điều này
(3)
; vả lại, tài sản
riêng của vợ, chồng cũng đợc sử dụng vào nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 7
chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài
sản chung có giá trị lớn phải có sự bàn
bạc, thỏa thuận của vợ chồng. Mặc dù Nghị
định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 tại
khoản 3 Điều 4 đ quy định tài sản chung có
giá trị lớn của vợ chồng đợc xác định căn
cứ vào phần giá trị của tài sản đó trong khối
tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, theo
chúng tôi, quy định này cha phù hợp với
thực tiễn của đời sống x hội. Pháp luật cần
dự liệu theo hớng tài sản chung của vợ
chồng có giá trị lớn là những tài sản mà
theo quy định của pháp luật phải đăng kí
quyền sở hữu (nhà ở, quyền sử dụng đất, ô
tô, xe máy, tàu đánh cá ). Đối với những tài
sản mà pháp luật không quy định phải đăng
kí quyền sở hữu thì nên xem xét vào điều
kiện tài chính, kinh tế cụ thể của gia đình vợ
chồng đó.
3.3. Theo quy định tại Điều 25 (một
trong những quy định mới của Luật
HN&GĐ năm 2000) thì vợ hoặc chồng phải
chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch
dân sự hợp pháp do một trong hai ngời thực
hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết
yếu của gia đình. Quy định này nhằm buộc
vợ chồng phải cùng chịu trách nhiệm chung
đối với những giao dịch dân sự hợp pháp do
một bên thực hiện vì nhu cầu sinh hoạt thiết
yếu của gia đình. Trờng hợp này, theo luật
nếu một bên yêu cầu và có lí do chính đáng
thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng
theo quy định ở Điều 42 của Luật HN&GĐ
(tức là các nguyên tắc chia tài sản chung của
vợ chồng khi li hôn cũng đợc áp dụng
trong trờng hợp này). Mặc dù Điều 29, 30,
31 của Luật HN&GĐ năm 2000 không dự
liệu về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ
chồng nhng theo quy định của pháp luật từ
trớc tới nay, trong các trờng hợp cần phải
chia tài sản chung của vợ chồng thì nguyên
tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng luôn
đợc áp dụng trớc tiên. Nguyên tắc này
xuất phát từ đặc điểm tài sản chung của vợ
chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, trong
đó kỉ phần của mỗi bên vợ, chồng đối với
khối tài sản chung luôn đợc xác định là
ngang nhau, bằng nhau. Do vậy, cần bổ
sung vào quy định tại Điều 31 về nguyên tắc
chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên
vợ, chồng chết trớc là nguyên tắc chia đôi
tài sản chung, mỗi bên vợ, chồng đợc một
nửa giá trị tài sản chung. Trong trờng hợp
này là chia bình quân, áp dụng cho tất cả
các cặp vợ chồng trong thực tiễn, không
phải căn cứ vào công sức đóng góp của vợ,
chồng trong việc tạo dựng tài sản chung.
Đối với trờng hợp chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, cần bổ
sung theo quy định tại Điều 29, Điều 30
thuận với nhau, nếu không thoả thuận đợc
thì có quyền yêu cầu toà án giải quyết. Quy
định nh vậy khó bảo đảm đợc quyền lợi
chính đáng của ngời khác, của Nhà nớc
trong việc sai áp tài sản của vợ chồng để
bảo đảm các nghĩa vụ tài sản của vợ chồng.
Ví dụ, vợ chồng tự thoả thuận chia tài sản
chung từ năm 2001, với mục đích nhằm tẩu
tán, giấu giếm, trốn tránh nghĩa vụ tài sản
đối với ngời khác nhng mi đến năm 2005 nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 9
mới phát hiện và kiểm định đợc mục đích,
lí do chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kì hôn nhân hoặc có trờng hợp vợ
chồng tự thoả thuận chia nhằm tẩu tán tài
sản, đến nay không còn tài sản để thực hiện
nghĩa vụ về tài sản nữa; hoặc có trờng hợp
sau khi vợ chồng tự thoả thuận chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân mà nay quan
hệ hôn nhân đ chấm dứt do vợ, chồng chết
hay đ li hôn
3.6. Vấn đề phân biệt các loại nghĩa vụ
chung hoặc nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ,
chồng cũng cần đợc quy định cụ thể. Mặc
dù tại các Điều 25, khoản 2 Điều 28, khoản
3 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 đ có
3.7. Thực tiễn đời sống vợ chồng khi
thực hiện quyền sở hữu nhằm bảo đảm lợi
ích của gia đình, của cá nhân vợ, chồng có
thể dẫn tới những trờng hợp có sự trộn lẫn
hoặc ẩn chứa các loại tài sản chung, tài sản
riêng của vợ, chồng. Khi có tranh chấp, cần
phải xác định đợc phần tài sản chung, tài
sản riêng của vợ, chồng để chia chính xác,
hợp lí, bảo đảm quyền lợi chính đáng về tài
sản của vợ, chồng. Ví dụ, tài sản chung của
vợ chồng đ đợc quản lí, tu sửa bằng phần
tài sản riêng của vợ, chồng. Hoặc tài sản
riêng của vợ, chồng đ đợc bảo quản, tu
sửa bằng tài sản chung của vợ chồng làm
tăng giá trị nhiều lần so với giá trị ban
đầu. Luật HN&GĐ cần dự liệu về các
trờng hợp này nhằm xác định rõ các loại
tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng
khi có tranh chấp./.
(1).Xem: Điều 25 Luật HN&GĐ năm 2000.
(2).Xem: Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày
23/12/2000 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hớng
dẫn tòa án nhân dân các cấp áp dụng một số quy định
của Luật HN&GĐ năm 2000.
- Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ
(3).Xem: Điều 15 Luật HN&GĐ năm 1959, Điều 14
Luật HN&GĐ năm 1986.
(4).Xem: Điều 1401 Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp,