BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
THÂN QUỐC LONG
CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG, ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN CHUNG CỦA
VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 –
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
THÂN QUỐC LONG
CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG, ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN CHUNG CỦA
VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 –
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Hôn nhân và Gia đình
HN&GĐ
Hội đồng thẩm phán
HĐTP
Năng lực hành vi dân sự
NLHVDS
Nghị định 126/2014/NĐ–CP của
NĐ 126/2014/NĐ-CP
Chính phủ Quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014
Sở hữu trí tuệ
SHTT
Tòa án nhân dân
TAND
Ủy ban nhân dân
Ý nghĩa của việc quy định về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài
sản chung của vợ chồng ............................................................................... 27
Chương 2. NỘI DUNG QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ
CHỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NĂM 2014 ................................................................................................... 29
2.1.
Các nguyên tắc chi phối việc thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân .............................. 29
2.1.1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập,
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung ................................................ 29
2.1.2. Vợ, chồng có nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình .......... 31
2.1.3. Khi thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản, vợ chồng phải đảm bảo
quyền, lợi ích hợp pháp của nhau, của gia đình và của người thứ ba ............ 33
2.2.
Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng trong
chế độ tài sản theo thỏa thuận ....................................................................... 34
2.2.1. Quyền chiếm hữu tài sản chung vợ chồng trong chế độ tài sản theo thỏa
thuận. ........................................................................................................... 35
2.2.2. Quyền sử dụng tài sản chung vợ chồng trong chế độ tài sản theo thỏa
thuận . .......................................................................................................... 37
2.2.3. Quyền định đoạt tài sản chung vợ chồng trong chế độ tài sản theo thỏa
thuận ........................................................................................................... 38
1
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Khi chưa bước vào hôn nhân, hai người nam nữ là những người có tài
sản riêng, hoàn toàn tự do trong việc định đoạt tài sản của mình. Khi bước vào
hôn nhân, điều đó đã khác. Tất cả các vấn đề về tài sản của họ được điều
chỉnh bởi một quy chế pháp lý là “chế độ tài sản vợ chồng”.
Một thời gian rất dài pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận chế độ tài sản
chung của vợ chồng theo luật định. Theo đó, pháp luật quy định những tài sản
nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng của vợ chồng kèm theo đó là
quyền và nghĩa vụ trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung đó.
Với sự phát triển và thay đổi không ngừng của xã hội, chế độ tài sản vợ chồng
của Việt Nam đã có những sự thay đổi đáng kể, nổi bật nhất trong những thay
đổi đó chính là việc pháp luật thừa nhận chế độ tài sản chung vợ chồng theo
thỏa thuận. Có thể thấy rằng để đi đến một quyết định như hiện nay, pháp luật
nước ta đã phải trải qua nhiều thời kỳ sửa đổi, bổ sung: từ chỗ không chấp
nhận bất cứ thỏa thuận nào của vợ chồng về việc xác lập tài sản (như qui định
trong Luật HN&GĐ năm 1959) đến chỗ đồng ý cho phép một sự thỏa thuận
rất mờ nhạt (Luật HN&GĐ năm 1959 quy định vợ chồng có quyền nhập hay
không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung) rồi cho phép vợ chồng được
thỏa thuận về việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân (Luật HN&GĐ
năm 2000 và Nghị định 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật
HN&GĐ năm 2000) đã khiến cho nhiều người đặt câu hỏi, phải chăng quy
định thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân cũng đồng nghĩa với việc
-
Bài viết của ThS. Nguyễn Văn Cừ: “Quyền sở hữu của vợ chồng theo
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000” đăng trên Tạp chí Luật học số
06 năm 2002. Bài viết phân tích về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
theo Luật HN&GĐ năm 2000, đưa ra cơ sở lý luận của các quy định và
chỉ ra những khó khăn, vướng mắc sau hai năm thực hiện Luật
HN&GĐ năm 2000.
-
Bài viết của TS. Nguyễn Văn Cừ: “Một số vấn đề về hôn ước và quan
điểm áp dụng ở Việt Nam hiện nay” đăng trên Tạp chí Luật học số 10
năm 2012. Bài viết xoay quanh vấn đề có nên hay không việc quy định
về “hôn ước” – một dạng thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn giữa
vợ và chồng.
-
Bài viết của PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ: “Chế độ tài sản vợ chồng theo
thỏa thuận trong pháp luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam” đăng
trên Tạp chí Luật học số 4 năm 2015. Bài viết nghiên cứu các quy định
3
của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận và sự cần
thiết của việc thừa nhận quyền tự do của vợ chồng trong việc lựa chọn
chế độ tài sản áp dụng.
-
Luận văn Thạc sĩ
-
Luận văn của tác giả Nguyễn Hồng Hải về “Xác định tài sản giữa vợ
chồng, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2002). Luận văn chủ yếu đi
sâu phân tích cách xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
trên cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra một số phương hướng nhằm
hoàn thiện các quy định của pháp luật.
-
Luận văn của tác giả Lã Thị Tuyền về “Chế độ tài sản vợ chồng theo
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành” (2015) là một trong số
ít công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện sau khi Luật
4
HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực. Luận văn đã chỉ ra được những điểm
mới đáng chú ý của Luật HN&GĐ so với những quy định trước đây.
Luận án Tiến sĩ
-
chung của vợ chồng, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định trong một số
văn bản pháp luật như: Luật HN&GĐ năm 1986; Luật HN&GĐ năm 2000;
Luật HN&GĐ năm 2014, BLDS năm 2005, Luật SHTT và các văn bản pháp
luật khác có liên quan. Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu một số trường
hợp cụ thể trong hồ sơ, tài liệu của văn phòng công chứng, án lệ của tòa án có
liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng.
5
4.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ tài
sản của vợ chồng qua việc thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài
sản chung, luận văn phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật, nhận dạng
những thuận lợi cũng như những bất cập, hạn chế trong quá trình áp dụng
pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm còn
thiếu sót, chưa phù hợp của luật thực định và những bất cập trong quá trình áp
dụng luật vào thực tiễn. Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp có
tính chất khả thi nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tài
sản của vợ chồng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống đang ngày càng phát
triển đa dạng, phong phú.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định những nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của
vợ chồng, về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ
chồng.
Thứ hai: Nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành
hiện qua các chế độ tài sản chung khác nhau như thế nào?
-
Cách áp dụng quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung vào
thực tế đời sống và thực trạng áp dụng theo Luật HN&GĐ năm 2014?
-
Với những bất cập, khó khăn còn tồn tại, phương án giải quyết là như
thế nào?
6.
Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử trên cơ sở nền tảng là các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, pháp
luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành từ một
cơ sở hạ tầng phù hợp. Pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu xã hội,
còn xã hội được coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật. Như vậy, các quy định
của pháp luật phải phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn
hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng, từ đó
tạo cơ sở ổn định cho xã hội phát triển.
Bên cạnh phương pháp chủ đạo dựa trên cơ sở nguyên lý của chủ nghĩa
Mác – Lênin, đề tài cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như
phương pháp nghiên cứu lịch sử để nghiên cứu, tìm hiểu về quyền sở hữu tài
sản theo từng thời kỳ ở Việt Nam; phương pháp thống kê sử dụng trong quá
trình nghiên cứu, khảo sát thực tế; phương pháp so sánh nhằm tìm ra những
điểm tương đồng giữa pháp luật Việt Nam qua từng thời kỳ với pháp luật thế
người dân.
8.
Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về tài sản chung của vợ chồng và
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung vợ chồng.
Chương 2. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung vợ chồng theo
quy định của Luật HN&GĐ năm 2014.
8
Chương 3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản chung vợ chồng và phương hướng hoàn thiện pháp luật.
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG,
ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG
1.1.
Khái niệm, đặc điểm của tài sản chung vợ chồng
1.1.1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Trong quá trình vợ chồng chung sống, ngoài tình cảm thì giữa vợ
định được tỷ lệ phân chia tài sản của mỗi người. Khi hai bên thỏa thuận phân
chia xong hoặc có quyết định phân chia tài sản chung của Tòa án thì phần tài
sản riêng của vợ, chồng trong khối tài sản chung mới được xác định. Đây là
những điểm khác biệt về tài sản chung vợ chồng so với tài sản chung theo
phần.
Nhà làm luật ở mỗi quốc gia đều quy định chế độ tài sản của vợ chồng
phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, tập quán, truyền thống và nguyện vọng
của các cặp vợ chồng. Trong đó thể hiện rõ ý chí của nhà nước khi điều chỉnh
các quan hệ tài sản giữa vợ chồng, vì suy đến cùng, tổng hợp các quy phạm
pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng phản
ánh điều kiện vật chất của xã hội đó, bảo đảm sự phù hợp, hài hòa về lợi ích,
ý chí của giai cấp thống trị xã hội với lợi ích chính đáng của các cặp vợ
chồng. Pháp luật các quốc gia trên thế giới đã quy định có hai chế độ tài sản
chung của vợ chồng đó là chế độ tài sản chung theo quy định của pháp luật
(chế độ tài sản luật định) và chế độ tài sản theo sự thỏa thuận của vợ chồng.
Từ những phân tích trên có thể hiểu rằng tài sản chung của vợ chồng là
khối tài sản được tạo lập, phát triển bằng công sức của vợ, chồng phát sinh
trong thời kỳ hôn nhân hoặc do vợ chồng thỏa thuận trước thời kỳ hôn nhân
và được pháp luật công nhận về quyền sở hữu nhằm đảm bảo cho lợi ích
chung của vợ chồng, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
1.1.2. Quan điểm lập pháp về chế độ tài sản chung của vợ chồng
Chế độ tài sản chung của vợ chồng là một chế định đặc biệt, xét về
phạm vi điều chỉnh có thể nói không lớn lắm bởi chỉ điều chỉnh đối với chủ
thể là vợ chồng được pháp luật công nhận. Tuy nhiên tầm ảnh hưởng của nó
11
lại vô cùng lớn bởi gia đình là tế bào của xã hội, là những mắt xích tuy nhỏ
nhưng lại đóng vai trò quyết định trong một xã hội lớn. Do đó, dù trong thời
12
tín điều tôn giáo. Chính vì thế tuy chưa có pháp luật nhưng trong xã hội cộng
sản nguyên thủy, trật tự xã hội vẫn được duy trì. Khi xã hội ngày càng phát
triển, xã hội có phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa
được thì Nhà nước ra đời. Để duy trì trật tự, nhà nước cần có pháp luật. Pháp
luật ra đời cùng với nhà nước, không tách rời nhà nước. Pháp luật ra đời là
phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội, thực hiện và bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Ngay từ khi ra đời, pháp luật đã
khẳng định được vai trò của mình trong quản lý xã hội, đưa các mối quan hệ
xã hội đi vào khuôn khổ, là thước đo cho mọi hành vi của con người.
Chính vì vậy, việc xây dựng một hành lang pháp lý cho quan hệ tài sản
của vợ chồng là điều tất yếu. Trong quan hệ vợ chồng buộc phải có một hệ
thống nguyên tắc ứng xử để điều chỉnh hành vi, ý chí của mỗi bên nhằm đảm
bảo cho quyền, lợi ích của mỗi bên; quyền, lợi ích của bên thứ ba đồng thời
đảm bảo sự quản lý của Nhà nước.
-
Căn cứ vào ý chí của giai cấp thống trị:
Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị. Do đó, pháp luật hôn nhân gia
đình cũng thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Như đã nói ở trên, pháp luật
chính là phương tiện để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội, gia đình
là một phần của xã hội. Chính vì thế, Nhà nước quản lý xã hội thông qua việc
hình thành một hệ thống pháp luật để điều chỉnh hành vi của vợ, chồng. Quan
điểm lập pháp ở mỗi thời kỳ khác nhau thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
thời kỳ đó, điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng thể hiện qua việc thực
hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng trong
nào về quyền lập hôn ước của vợ chồng. Trong khi đó, ở Miền Nam, ba đạo
luật đã được lần lượt ban hành để điều chỉnh các quan hệ dân sự, gia đình
(Luật gia đình ngày 02/01/1959, Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 và Bộ dân
luật ngày 20/12/1972), đều thừa nhận quyền tự do lập hôn ước của vợ chồng
và chế độ tài sản chung theo luật định chỉ được áp dụng khi vợ chồng không
lập hôn ước. Chẳng hạn, Bộ dân luật năm 1972 quy định: “Vợ chồng có thể tự
do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn không trái với trật tự công cộng và thuần
phong mỹ tục” (Điều 145) và “Luật pháp chỉ quy định chế độ phụ phu tài sản
khi vợ chồng không lập hôn ước” (Điều 144).
Sau khi đất nước thống nhất, Luật HN&GĐ 1986 và Luật HN&GĐ
2000 đều chỉ tập trung quy định về một chế độ tài sản pháp định. Nhà lập
pháp đã không cho phép vợ chồng lập hôn ước và việc thỏa thuận đưa tài sản
14
riêng của vợ, chồng thành tài sản chung chỉ được công nhận khi vợ, chồng đã
kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong bối cảnh đó chế độ tài sản chung
của vợ chồng theo pháp định có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các quan hệ
hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm kết hôn. Do vậy, mọi thỏa thuận của vợ
chồng trái với các quy định của chế độ tài sản pháp định bị tuyên bố là vô
hiệu khi có tranh chấp xảy ra.
Luật HN&GĐ năm 2014 được xây dựng trong bối cảnh xã hội phát
triển hơn rất nhiều, vấn đề bình đẳng nam nữ được nâng cao, do đó chế độ tài
sản của vợ chồng theo thỏa thuận được công nhận tại Điều 47 của luật này.
Như vậy, việc xác lập chế độ tài sản của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân có
thể được hai bên vợ, chồng thỏa thuận xác lập trước khi bước vào thời kỳ hôn
nhân hợp pháp. Quy định này thể hiện sự tôn trọng thỏa thuận giữa hai bên
vợ, chồng, đồng thời cũng phần nào giúp đảm bảo được quyền bình đẳng giữa
vợ và chồng trong cuộc sống hôn nhân ở tương lai.
chung ngoài việc đảm bảo lợi ích cho vợ, chồng còn phải phù hợp với lợi ích
chung của xã hội.
Những quy tắc trên thể hiện tính chất cộng đồng của hôn nhân và mục
đích của hôn nhân khi xác lập quan hệ vợ chồng. Những nguyên tắc, tư tưởng
này chi phối việc quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật của
các nước nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng.
1.1.3. Đặc điểm chế độ tài sản chung của vợ chồng
Xuất phát từ tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân, mà vợ chồng
có thể xác lập chế độ tài sản chung theo các tiêu chí khác nhau:
Nếu xét về khía cạnh có hay không sự tồn tại của tài sản chung, chế độ
tài sản của vợ chồng được phân loại thành chế độ biệt sản (vợ và chồng không
có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và
trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó),
chế độ cộng đồng tạo sản (vợ và chồng có tài sản chung và tài sản riêng), chế
độ cộng đồng toàn sản (vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà
tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn
nhân đều thuộc tài sản chung).
Nếu xét theo ý chí của vợ chồng, chế độ tài sản của vợ chồng gồm chế
độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định. Chế độ tài sản theo
thỏa thuận là việc xác định nội dung về quyền tài sản áp dụng trong thời kỳ
hôn nhân dựa vào sự thỏa thuận trước khi kết hôn của vợ, chồng. Chế độ tài
16
sản theo luật định là việc xác định nội dung về quyền tài sản giữa vợ và chồng
sẽ tuân theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, dù phân loại như thế nào thì chế độ tài sản chung của vợ
chồng có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, xét về chủ thể quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này, các
đình và phải chịu trách nhiệm về tài sản nếu gây thiệt hại cho tài sản chung.
Thậm chí, nếu vợ, chồng trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài
sản riêng của mình hoặc tài sản chung nhưng gây thiệt hại tới tài sản chung
của vợ chồng thì phải bồi thường bằng tài sản riêng của người đó. Đối với
những hành vi chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ, chồng vì
lợi ích, nhu cầu thiết yếu của gia đình được coi là mặc nhiên có sự đồng ý của
người kia. Như vậy, trách nhiệm chung đối với gia đình còn là trách nhiệm
của từng cá nhân vợ, chồng khiến cho tính chất cộng đồng của hôn nhân được
thể hiện đầy đủ, sâu sắc hơn.
Thứ tư, vợ chồng là chủ sở hữu có quyền tuyệt đối đối với khối tài sản
chung của vợ chồng. Khi vợ chồng thực hiện hành vi chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung sẽ không chịu sự chi phối từ bất cứ người nào khác,
đồng thời những người khác phải tôn trọng quyền chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, vợ chồng phải đảm bảo không
xâm phạm đến lợi ích và tài sản của người khác khi thực hiện quyền sở hữu
của mình.
Thứ năm, khối tài sản chung của vợ chồng gắn liền và tồn tại cùng với
quan hệ hôn nhân hợp pháp của vợ chồng. Khối tài sản chung này tồn tại từ
khi vợ chồng bắt đầu có quan hệ hôn nhân hợp pháp và chấm dứt khi quan hệ
hôn nhân chấm dứt (một bên vợ, chồng chết hoặc ly hôn).
Thứ sáu, khối tài sản chung vợ chồng là tài sản chung hợp nhất có thể
phân chia. Mặc dù không thể xác định rõ kỷ phần của mỗi bên vợ, chồng
trong khối tài sản chung nhưng trong trường hợp pháp luật cho phép, khối tài
sản chung của vợ chồng vẫn có thể phân chia, việc phân chia được thực hiện
theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Tài sản chung của vợ chồng
được phân chia theo thỏa thuận trong trường hợp quan hệ hôn nhân vẫn còn
tồn tại nhưng vì một lý do chính đáng nào đó, vợ chồng mong muốn được
18
sản”. Theo đó, có thể hiểu quyền chiếm hữu tài sản chung vợ chồng là quyền
của vợ chồng trong việc nắm giữ, quản lý tài sản chung của vợ chồng trong
đời sống hôn nhân. Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm giữ tài
19
sản chung. Nhưng điều đó không có nghĩa cả hai bên phải là người trực tiếp
nắm giữ tài sản mà cho dù chỉ một bên nắm giữ tài sản (do người kia đi công
tác xa hoặc do một trong hai người cất giữ) thì cả hai bên đều có quyền định
đoạt, sử dụng đối với khối tài sản chung đó.
Quyền sử dụng theo quy định tại Điều 192 BLDS 2005 là “quyền khai
thác công dụng, hưởng hoa lợi lợi tức từ tài sản”. Trong tài sản chung vợ
chồng, quyền sử dụng tài sản chung vợ chồng được hiểu là quyền của vợ
chồng trong việc tự mình sử dụng để khai thác công dụng của tài sản chung,
quyền được hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung đó nhằm phục
vụ cho lợi ích chung của gia đình, đáp ứng lợi ích chính đáng của vợ, chồng
trong thời kỳ hôn nhân.
Một tài sản khi đã trở thành tài sản chung của vợ chồng thì cả vợ và
chồng đều có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng từ tài sản đó.
Khi tài sản chung sinh ra hoa lợi, lợi tức thì dù người đã trực tiếp khai thác
công dụng của tài sản đó là vợ hay chồng thì hoa lợi, lợi tức đó vẫn đương
nhiên trở thành tài sản chung. Cả vợ và chồng đều có quyền hưởng hoa lợi,
lợi tức do tài sản chung đó sinh ra mà không phụ thuộc vào việc người nào đã
tạo ra hoa lợi, lợi tức đó.
Quyền định đoạt được quy định tại Điều 195 BLDS 2005 là “quyền
chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó”. Trong quan
hệ hôn nhân, có thể hiểu quyền định đoạt tài sản chung vợ chồng là quyền
của vợ chồng trong việc đưa ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, hoặc
chấm dứt số phận thực tế và số phận pháp lý của tài sản chung theo các quy