ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HOÀNG GIANG
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT
HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về Quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY SƠN
HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN
1.1.1. Giới, giới tính 7
1.1.2. Bình đẳng giới 12
1.1.3. Khái niệm Hôn nhân và gia đình 15
1.2. Pháp luật quốc tế về bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình 17
1.2.1. Vai trò pháp luật trong việc thúc đẩy bình đẳng giới 17
1.2.2. Khái quát các quy định của pháp luật quốc tế về bình đẳng giới 19
1.3. Một số yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật
HN&GĐ ở Việt Nam 25
1.3.1. Những yếu tố tích cực 25
1.3.2 Những yếu tố gây cản trở đến việc thực thi pháp luật HN&GĐ ở
Việt Nam 26
1.4. Các điều kiện cơ bản bảo đảm thực thi pháp luật hôn nhân và
gia đình Việt Nam 26
1.4.1. Điều kiện về thể chế 26
1.4.2. Điều kiện tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực 27
1.4.3. Điều kiện về nguồn lực tài chính. 27
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 28
2.1. Quá trình phát triển pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam từ lăng kính bình đẳng giới 28
2.2. Thực trạng bảo đảm bình đẳng giới trong pháp luật HN&GĐ
Việt Nam 30
2.2.1. Bình đẳng giới thể hiện trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ
Hôn nhân và gia đình Việt Nam 30
2.2.2. Bình đẳng giới trong kết hôn 35
2.2.3. Bình đẳng giới trong quan hệ giữa vợ và chồng 43
2.2.4. Bình đẳng giới trong quan hệ giữa cha mẹ và con 60
2.2.5. Bình đẳng giới trong việc xác định cha, mẹ, con 67
2.2.6. Bình đẳng giới trong chế định ly hôn 77
gia đình 105
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
CEDAW
: Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử đối với phụ nữ
CRC
: Công ước quốc tế về quyền trẻ em
HN&GĐ
: Hôn nhân và gia đình
ICCPR
: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
ICESCR
: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
LGBT
: Nhóm những người đồng tính, song tính và chuyển giới
UDHR
: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác…[18, Điều 2].
Quy định này khẳng định tính phổ quát (universal) của quyền con
người và mọi người sinh ra đều bình đẳng về quyền mà không bị phân biệt đối
xử bởi bất cứ yếu tố nào trong đó có yếu tố về giới tính.
Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (HN&GĐ), giới, giới tính là vấn
đề khá nhạy cảm, liên quan đến quyền của các chủ thể tham gia quan hệ
HN&GĐ và do đó Nhà nước với tư cách là chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ và thúc
đẩy nhân quyền trên các lĩnh vực của đời sống xã hội có trách nhiệm thể chế
hóa bình đẳng giới (BĐG) trong hệ thống pháp luật. Ở Việt Nam, Đảng và
Nhà nước đã không ngừng quan tâm hoàn thiện pháp luật HN&GĐ nhằm xây
dựng gia đình - nền tảng, tế bào của xã hội “ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, thực
sự là tế bào lành mạnh của xã hội” [13] phù hợp với truyền thống văn hóa,
đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Thông qua việc thực thi các quy định
của pháp luật HN&GĐ, quyền con người, quyền bình đẳng giữa nam giới và
nữ giới đã từng bước được bảo đảm thực chất hơn, phụ nữ và trẻ em ngày
càng được bảo đảm tốt hơn các quyền của mình thay vì việc bị hạn chế bởi
những định kiến giới trong xã hội.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, pháp luật HN&GĐ
đang đứng trước những thách thức do sự phát triển của nền kinh tế thị trường
2
và hội nhập quốc tế, như độ tuổi kết hôn giữa nam và nữ; quyền trong hôn
nhân của nhóm những người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) -
một trong những cộng đồng đang thu hút sự quan tâm, chú ý lớn của cộng
đồng quốc tế; vấn đề mang thai hộ; quan hệ tài sản giữa vợ và chồng; vấn đề
lựa chọn giới tính trước khi sinh… Xuất phát từ những yêu cầu nêu trên của
thực tiễn xã hội, ngày 19/6/2014, Quốc hội đã thông qua Luật HN&GĐ 2014
thay thế Luật HN&GĐ năm 2000. Đây là dịp quan trọng để đánh giá những
giá trị tiến bộ trong Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000
và những vấn đề chưa được giải quyết trong Luật này nhằm định hướng tiếp
tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam trong thời gian tiếp
của các thành viên tham gia quan hệ HN&GĐ. Tuy nhiên, do Luật HN&GĐ
mới được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2014, do đó, chưa có nhiều các các
bài nghiên cứu chuyên sâu về những giá trị tiến bộ/những vấn đề chưa được
giải quyết trong Luật này, cũng như chưa có các bài viết liên quan nhằm đề
xuất, kiến nghị xây dựng, hoàn thiện các quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành Luật HN&GĐ năm 2014. Do đó, tác giả nghiên cứu luận văn mong
muốn nghiên cứu vấn đề BĐG trong pháp luật HN&GĐ vào thời điểm Luật
HN&GĐ vừa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
thông qua với mục đích đánh giá những giá trị tiến bộ đạt được trong thúc đẩy
và bảo vệ nhân quyền mà trực tiếp là quyền BĐG giữa các cá nhân trong lĩnh
vực HN&GĐ, những vấn đề còn bị bỏ ngỏ trên cơ sở đó đề xuất những giải
pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật
HN&GĐ vào thực tiễn cuộc sống trong thời gian tới.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp
4
luật về HN&GĐ trong mối quan hệ với bảo vệ và thúc đẩy quyền con người
từ góc độ BĐG, thông qua đó đánh giá những giá trị tiến bộ đạt được trong
Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ (năm 2000) và những vấn đề
chưa được giải quyết trong Luật này nhằm định hướng tiếp tục hoàn thiện
pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam, đặc biệt là kiến nghị, đề xuất trong việc quy
định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 2014.
Về phạm vi, Luận văn tập trung phân tích các quy định của pháp luật
HN&GĐ Việt Nam từ góc độ BĐG, trong đó tập trung chủ yếu vào Luật
HN&GĐ năm 2014 với những vấn đề cơ bản gồm: các nguyên tắc cơ bản của
chế độ HN&GĐ; kết hôn; quan hệ giữa vợ và chồng; quan hệ giữa cha mẹ và
con; xác định cha, mẹ, con và về ly hôn.
4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
độ BĐG, đánh giá những tiến bộ đạt được, những tác động tích cực đến bảo
vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em - những đối tượng dễ bị tổn thương
trong xã hội. Cùng với đó Luận văn đã phân tích và chỉ ra những hạn chế của
pháp luật HN&GĐ trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền
BĐG của các cá nhân trong quan hệ HN&GĐ, trên cơ sở đó đưa ra những giải
pháp nhằm bảo vệ và thúc đẩy tốt hơn quyền con người, quyền bình đẳng
thực chất giữa nam giới và nữ giới trong các quan hệ HN&GĐ ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển
những vấn đề mang tính lý luận trong khoa học pháp lý BĐG trong HN&GĐ
- một trong những vấn đề hết sức được quan tâm hiện nay. Luận văn không
chỉ là tài liệu có giá trị tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa
6
học mà còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính
sách về pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam, thông qua đó góp phần hoàn thiện
pháp luật HN&GĐ - công cụ hữu hiệu trong bảo đảm BĐG trong các quan hệ
HN&GĐ ở Việt Nam. Luận văn cũng là tài liệu tham khảo có giá trị cho các
cá nhân có quan tâm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính
của Luận văn bao gồm 3 chương sau:
- Chương 1. Khái quát chung pháp luật quốc tế về bình đẳng giới
trong Hôn nhân và gia đình.
- Chương 2. Bình đẳng giới trong pháp luật Hôn nhân và gia đình
Việt Nam.
- Chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực
thi hành pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. 7
Chương 1
hiện so sánh trong các nền văn hoá, giữa các tầng lớp xã hội và các nhóm dân
tộc trong cùng một nền văn hoá, hoặc thay đổi theo thời gian [17].
Bảng 1.1. Phân biệt giữa Giới và Giới tính [1]
Giới
Giới tính
Giới mô tả chúng ta thể hiện nam
tính hoặc nữ tính
Giới tính mô tả
chúng ta là nam hay nữ
Giới là:
Được xây dựng nên bởi xã
hội - nó là những vai trò, trách
nhiệm và hành vi mong đợi ở
nam và nữ trong một văn hóa
hoặc xã hội cụ thể.
Văn hóa - những yếu tố
của giới khác nhau giữa các
nền văn hóa và bên trong các
nền văn hóa.
Những vai trò về giới là
được học tập - chúng phát
triển và thay đổi theo thời gian.
Giới tính là:
Sinh học - đó là những đặc
tính thể chất đã có từ khi chúng
ta sinh ra.
Phổ biến - những đặc tính
về tình dục giống nhau trên
toàn thế giới - nam giới có
dương vật và phụ nữ có âm đạo
công việc của nam giới. Công việc của phụ nữ thường được trả lương thấp và
bị coi thường, trong khi nam giới được giao công việc có tầm quan trọng về
mặt xã hội tương đối cao hơn [17].
Ở nông thôn, có sự khác biệt về thời gian làm việc giữa phụ nữ và
nam giới, tuy thời gian giành cho công việc tạo thu nhập là như nhau,
nhưng so với nam giới, phụ nữ phải mất thời gian gấp hai lần cho việc nhà
không được thù lao. Vì vậy phụ nữ lúc nào cũng mất thời gian làm việc
nhiều hơn đáng kể so với nam giới dù ở thời điểm nào trong cuộc đời mình
dẫn đến thời gian giành cho nghỉ ngơi của họ ít hơn khá nhiều so với nam
10
giới và cũng không có thời gian cho các hoạt động xã hội và học tập trao
đổi kinh nghiệm [27].
1.1.1.3. Về sức khỏe
Phụ nữ phải cáng đáng gánh nặng công việc vượt xa nam giới với thời
gian làm việc dài, ít có thời gian nghỉ ngơi dẫn đến hậu quả tiêu cực là họ
thường phải làm việc quá sức, điều này có nhiều tác động lên sức khỏe và thể
chất, đặc biệt là phụ nữ nông thôn khu vực có tỷ lệ phụ nữ ốm đau cao hơn
nhiều so với nam giới. Một khía cạnh khác về sức khỏe là phụ nữ không được
chăm sóc dinh dưỡng tốt bằng nam giới, khác biệt giới về tình trạng dinh
dưỡng của những người trưởng thành là lớn nhất ở khu vực nông thôn. Điều
này cho thấy khả năng tiếp cận của phụ nữ với các nguồn lực tương đối ít hơn
so với nam giới [27].
Sự khác biệt sức khỏe giữa nam giới và phụ nữ không chỉ do môi
trường, nuôi dưỡng và tập quán xã hội, mà còn do bẩm sinh, di truyền như:
nam giới có hệ xương lớn thích hợp cho những cộng việc nặng nhọc, nhiệm
vụ tái sản xuất xã hội bao gồm trách nhiệm sinh đẻ và chăm sóc con trẻ là
của phụ nữ.
1.1.1.4. Về tâm sinh lý
Lý thuyết cho rằng nam giới và phụ nữ có sự tiến hóa khác nhau về tác
phong và tư duy đã được chấp nhận rộng rãi [4]. Ví dụ: Nam giới có tâm lý cứng
cách cư xử, tác phong, đặc điểm khác nhau [35].
Dưới góc độ pháp lý, hiện nay trong hệ thống văn bản pháp lý quốc tế
chưa có định nghĩa chính thức nào về các khái niệm giới, giới tính trong khi
bản thân các khái niệm này vẫn được sử dụng một cách phổ biến trong các
văn bản pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, công ước
12
quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR), công ước quốc tế về các
quyền kinh tế, văn hóa, xã hội (ICESCR) và công ước loại bỏ mọi hình thức
phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW).
Ở Việt Nam, Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua ngày
29/11/2006 tại điều 5 quy định:
Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả
các mối quan hệ xã hội [35, Điều 5].
Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ [35, Điều 5].
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau
được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự
phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về
thành quả của sự phát triển đó [35, Điều 5]
Như vậy, về mặt pháp lý, định nghĩa về giới, giới tính được hiểu thống
nhất với nghĩa khoa học xã hội của nó, theo đó, giới tính là chỉ sự khác biệt về
mặt sinh học và giới là chỉ sự khác biệt về vị trí, vai trò và quan niệm của xã
hội về vị trí, vai trò của các giới trong xã hội.
1.1.2. Bình đẳng giới
Đây là khái niệm quan trọng, việc nhận thức đúng và đầy đủ về khái
niệm này là cơ sở đánh giá, xem xét một cách khách quan và đúng đắn về
mức độ BĐG trong pháp luật HN&GĐ, trên cơ sở đó có những đề xuất, kiến
nghị cụ thể về những giải pháp nhằm bảo đảm BĐG thực chất trong pháp luật
HN&GĐ Việt Nam hiện nay.
Vậy, khái niệm BĐG là gì? Hiện nay, công ước CEDAW sử dụng khái
niệm “bình đẳng giới” trong mối quan hệ chặt chẽ với nghĩa vụ quốc gia, cụ
trò ngang nhau; (2) nam và nữ được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực
14
của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và (3) thụ hưởng như
nhau về thành quả của sự phát triển đó. Như vậy, BĐG thực chất là bình đẳng
về vị trí, vai trò và bình đẳng về cơ hội cống hiến, cơ hội phát triển và cơ hội
thụ hưởng giữa nam giới và nữ giới trong gia đình cũng như trong xã hội.
Trên thực tế, vẫn còn tồn tại quan niệm phổ biến về vai trò của người phụ nữ
gắn với công việc chăm sóc gia đình và con cái. Đây được xác định là trách
nhiệm đương nhiên dựa vào yếu tố giới tính nam và giới tính nữ. Và điều này
đã tạo nên sự bất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, khi người vợ vì gắn với
chức năng chăm sóc gia đình và con cái, không ít trường hợp trong số họ phải
nghỉ làm, hệ quả tất yếu trở thành người sống phụ thuộc vào kinh tế của người
chồng; hoặc thậm chí có điều kiện đi làm thì họ vẫn không thoát khỏi trách
nhiệm đương nhiên là chăm sóc gia đình và con cái và không nhận được sự
chia sẻ, cảm thông từ phía người chồng. Điều này tạo nên sự bất bình đẳng
giữa nam và nữ vì lý do quan niệm phân biệt đối xử về vị trí, vai trò của nam
giới và nữ giới trong gia đình và trong xã hội.
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra đó là khái niệm BĐG chỉ hàm ý đến sự
bình đẳng giữa nam giới và nữ giới đã toàn diện hay chưa? Trước tiên chúng ta
không thể phủ nhận quan niệm BĐG là bình đẳng giữa nam và nữ rất phổ biến
hiện nay. Tuy nhiên, ngay trong chính giới nam hoặc giới nữ lại có những bất
bình đẳng nhất định mà pháp luật Việt Nam còn đang bỏ ngỏ. Ví dụ, với một
người đàn ông dị tính (là người “bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với
người khác giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác với giới
tính khi được sinh ra” [29] và một người đàn ông đồng tính (là người “bị hấp
dẫn với người cùng giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác
với giới tính khi được sinh ra” [29]) thực sự còn khác nhau rất nhiều ở sự kỳ
thị, phân biệt đối xử. Hiến pháp và pháp luật hiện hành không cấm nhưng cũng
không thừa nhận những người đồng tính kết hôn. Và như vậy, rõ ràng, ngay
15
nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà không vì
mục đích nào khác” [52]. Ngoài khái niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở
Châu âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người
nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng” [51], hoặc: “Hôn nhân là hành
vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư
cách là vợ chồng” [53].
Ở Việt Nam, các giáo trình Dân luật dưới chế độ Sài gòn cũ chưa đưa
ra khái niệm cụ thể về hôn nhân mà phần nhiều mới đưa ra khái niệm “giá
thú”: “giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một
người đàn bà theo thể thức luật định” [28] hoặc “giá thú” cũng được hiểu:
“sự trai gái lấy nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ
tương hỗ cho hai bên về phương diện đồng cư, trung thành và tương trợ” [5].
Theo một số luật gia Sài gòn, khái niệm “giá thú” bao gồm có hai nghĩa: theo
nghĩa thứ nhất giá thú là hành vi phối hợp vợ chồng (kết hôn). Theo nghĩa thứ
hai là tình trạng của hai người đã chính thức lấy nhau làm vợ chồng và thời
gian hai người ăn ở với nhau [5]. Điều 3 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964, Điều
99 Bộ dân luật 1972 ngày 20/12/1972 của Chính quyền Sài gòn cũ qui định:
“Không ai được phép tái hôn nếu giá thú trước chưa đoạn tiêu” [12].
Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 quy định hôn nhân là
“quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” [36, Điều 3].
Như vậy, dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, dưới góc độ xã hội hay
khoa học pháp lý, thì hôn nhân vẫn được hiểu theo một nghĩa chung nhất đó
là sự liên kết tự nguyện, theo qui định pháp luật giữa một người đàn ông và
một người đàn bà, nhằm chung sống suốt đời với tư cách là vợ chồng, và vì
mục đích xây dựng một gia đình. Với quan niệm chung đó, chúng ta thấy xuất
17
hiện yếu tố giới và giới tính trong quan hệ hôn nhân, đó chính là quan hệ giữa
hai cá thể ở hai giới tính khác nhau trong một quan hệ hôn nhân.
Về khái niệm gia đình, theo Từ điển Tiếng Việt, gia đình được hiểu là:
“Tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn
BĐG trong HN&GĐ mà hầu hết các quốc gia đều hướng tới.
Ở góc độ quốc tế, pháp luật quốc tế là những thỏa thuận đa phương,
song phương thể hiện cam kết của các quốc gia trong việc bảo đảm BĐG
trong HN&GĐ. Thực chất đây là sự tự nguyện của các Nhà nước trong việc
cam kết thực hiện các nghĩa vụ nhằm bảo đảm BĐG trong HN&GĐ. Ở góc độ
mỗi quốc gia, các Nhà nước ban hành pháp luật về HN&GĐ để quy định
trách nhiệm của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân, công dân và của mỗi
thành viên trong gia đình trong việc thiết lập trật tự các quan hệ HN&GĐ.
Như vậy, dù ở góc độ quốc tế hay quốc gia, pháp luật luôn là một công cụ
quan trọng để các quốc gia thiết lập trật tự quan hệ HN&GĐ phù hợp với ý
chí của Nhà nước, của xã hội và là công cụ quan trọng để bảo đảm mục tiêu
BĐG và vì sự tiến bộ phụ nữ. Vai trò nêu trên của pháp luật được thể hiện qua
những khía cạnh sau:
- Là cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm của các quốc gia trong việc
bảo đảm BĐG trong lĩnh vực HN&GĐ. Trách nhiệm quốc gia được chính các
quốc gia tự nguyện cam kết thông qua việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc
tế hoặc khu vực;
- Là cơ sở pháp lý quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ
chức, cá nhân trong lĩnh vực HN&GĐ, khía cạnh này được thực hiện chủ yếu
qua hệ thống pháp luật quốc gia và hệ thống các quy định này được Nhà nước
bảo đảm thực hiện.