THỪA NHẬN HAY KHÔNG THỪA NHẬN HÔN NHÂN CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG TÍNH TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM - Pdf 26

THỪA NHẬN HAY KHÔNG THỪA NHẬN HÔN NHÂN CỦA
NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG TÍNH TRONG LUẬT HÔN NHÂN
GIA ĐÌNH VIỆT NAM?
PGS. TS. Nguyễn Thị Hoài Phương


ThS. Đinh Bá Trung
∗∗1. Người đ ồ ng tính và các vấn đề pháp lý liên quan trong pháp luật
Việt Nam
Pháp luật Việt Nam không thể hiện quan điểm lập pháp về khái niệm
người đồng tính. Tuy nhiên, trên thực tế về phương diện sinh học người đồng
tính có biểu hiện là những người cảm thấy hấ p dẫn về tình cảm và/hoặc thể
chất đối với người cùng giới. Người đồng tính nữ gọi là Lesbian, người đồng
tính nam gọi là Gay.
Giới tính là yếu tố mang tính tự nhiên không được quyết định bởi lựa
chọn chủ quan của con người, nó cũng là sự đa dạng của đời số ng xã hội tạo
nên. Tuy nhiên nguyên nhân dẫn đến đồng tính thì lại không có một cách nhìn
nhận chung. Những người đồ ng tính cho rằng sự khác biệt trong nhu cầu tình
cảm giới tính của họ so với nhiều người trong xã hội là ngoài ý muốn của họ.
Nhưng nhiều quan điểm khác lại cho rằng điều đó là biểu hiện bệnh lý, hoặc hệ
quả của lối sống không lành mạnh hoặc do di truyền… Đó có lẽ cũng là
nguyên nhân chính dẫn đến sự khác nhau trong quan điểm lập pháp của các
nước khi quy đị nh những vấn đề liên quan đến quyền lợi của người đồng tính
trong hệ thống pháp luật nói chung và Luật hôn nhân và gia đình nói riêng.
Thực tế cho đến thời điểm này, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hai
giới nam và nữ và cũng đồng thời quan điểm rằng các tình cảm của con ngườ i
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!


mong muốn được pháp luật cho phép kết hôn; 25% muốn được chung sống có
đăng ký; 4% muốn được sống chung không có đăng ký.
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
1
Điều 4 Luật hôn nhân và gia đình 1959 quy định “Con trai và con gái đến tuổi, đ ược hoàn toàn tự
nguyện quyết định việc kết hôn của mình…” và Điều 6 của luật này cũng nêu rõ: “Con gái từ 18 tuổi
trở lên, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được quyền kết hôn”.
2
Khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Đối với cộng đồng xã hội, quan điểm đồng tình ủng hộ việc cho phép
người đồng tính được kết hôn cho rằng
3
: xã hội Việt Nam đã và đang biến đổi
không ngừng với muôn vàn sự đa dạng, trong đó những giá trị văn hóa cũng
biến đổi theo tự nhiên, quan điểm về thuần phong mỹ tục cũng đã có sự thay
đổi về nội hàm. Vì vậy, trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, đến giai
đoạn hiện nay chúng ta nên chấp nhận sự đa dạng của các kiểu loại gia đình
thay cho hình ảnh nhất thể hóa về kiểu, loại, cấu trúc của gia đình truyền thống.
Lập luận của những người theo quan điểm ủng hộ cho rằng điều đó thể hiện sự
bình đẳng giới. “Tình yêu không phân biệt giới tính, tại sao điều tốt lại không
được thừa nhận? Trong khi các quan ngại xã hội chỉ chú trọng tập trung xem
liệu cho phép người đồng giới kết hôn có mang lại điều gì ảnh hưởng cho xã
hội không thì trên thực tế việc không chấp nhậ n đã gây nên những tác hại xấu.
Bởi vì do áp lực gia đình, xã hội nên nhiều người đồng tính phải kết hôn với
người khác giới nhưng sự bền vững của hôn nhân không có đưa đến nhiều hệ
lụy cho mọi thành viên trong gia đình hình thức đó. Hôn nhân đồng giới không
ảnh hưởng đến phát triển dân số và không ảnh hưởng xấu đến trật tự chung của
công đồng, ngược lại còn mang lại lợi ích về sức khỏe cộng đồng, bình đẳng
giới và hòa hợp xã hội…, sửa đổ i luật theo hướng thừa nhận sẽ bảo đảm quyền
có tài sản chung, quyền có con, quyền xin con nuôi, quyền thừa kế và các

làm đám cưới…”
6

2.Vấn đề thừa nhận hôn nhân đồng tính trong pháp luật một số
nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trên thế giới tính đến ngày 25/4/2013, có tổng cộng 14 quốc gia và 23
vùng lãnh thổ chấp nhận hôn nhân đồng tính, 18 quốc gia và 17 vùng lãnh thổ
chấp nhận người đồng tính chung sống dưới hình thức kết hợp dân sự, có 03
quốc gia chấp nhận người đồng tính sống chung không có đăng ký; và có trên
80 nước xem đồng tính là tội phạm ở các mức độ khác nhau
7
.
Theo báo cáo khoa học từ tổ chức y tế thế giới (WHO) ngư ời có thiên
hướng đồng tính chiếm khoảng 3% dân số. Tỷ lệ này nếu áp dụng ở Việt Nam
dự tính cả nước sẽ có khoảng 2,5 triệu người đồng tính, thế nên vấn đề xem xét
hôn nhân của người đồng tính hiện đang là vấn đề rất đáng quan tâm của cơ
quan lập pháp hiện nay.
Pháp luật các nước có các cơ chế pháp lý đa dạng điều chỉnh mối quan
hệ giữa những người đồng giới sống chung với nhau. Các chế định pháp lý
như: Quan hệ gia đình (domestic partnership); kết đôi có đăng ký (registered
partnership); kết hợp dân sự (civil union)…
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
5
Phạm Quỳnh Phương (2013), “Người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam”, Nxb Khoa
học xã hội, tr. 253.
6
Trịnh Lê Trâm – Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Hội luật gia Việt Nam.
7
Xem Phạm Quỳnh Phương (2013), chú thích số 5, tr. 242.
Nhìn chung các mối quan hệ pháp lý sống chung giữa ngườ i đồng tính

còn sự phân biệt có nghĩa là vẫn chưa có được sự công bằng thật sự.
Thứ ba: Sống chung không đăng ký là hình thức kết đ ôi tự nguyện giữa
hai người cùng giới mà không đăng ký trước cơ quan nhà nước. Chế định này
áp dụng cho cả các cặp đồng giới và khác giới. Hai người sống chung trong
trường hợp này có một số quyền lợi và nghĩa vụ hạn chế liên quan tới tài sản,
nhân thân. Tuy nhiên các quyền lợi nghĩa vụ đó cũng chỉ phát sinh khi họ đã
chung sống với nhau một khoảng thời gian theo luật định.
3. Các đề xuất về điều chỉnh pháp lý đối với quan hệ của những
người đồng tính với nhau trong quá trình sửa đổi Luật Hôn nhân gia đình
năm 2000 của Việt Nam
a) Không nên thừa nhận quyền kết hôn của người đồng tính
Chúng tôi cho rằng, dự thảo Luật Hôn nhân gia đình sửa đổi nên đồng
thuận với quan điểm không thừa nhận quyền kết hôn của những người đồng
tính với nhau. Đ iều này có nghĩa nếu trên thực tế có các cặp đồ ng tính chung
sống với nhau coi nhau như vợ chồng (cả hai người này phải là không có vợ
chồng khác giới đã kết hôn) thì họ không bị coi là vi phạm pháp luật nhưng
quyền và lợi ích giữa họ không được pháp luật thừa nhận là quyền lợi nghĩa vụ
của vợ chồ ng với nhau như các cặp vợ chồng khác giới. Họ không được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn như các cặp vợ chồng khác giới.
Không thừa nhận quyền kết hôn của người đồng tính với nhau không có
nghĩa là vi phạm quyền con người. Bởi lẽ, quyền con người là quyền mang lẽ
tự nhiên, cá thể, nhưng nếu quyền con người muốn được thừa nhận và điều
chỉnh bằng pháp luật thì đòi hỏi phải bảo vệ nó trong một trật tự chung hợp
pháp. Điều này có nghĩa có những quy định cho phép, thừa nhận trong pháp
luật cũng là bảo đảm quyền con người nhưng có những quy định không cho
phép hay cấm đoán trong pháp luật cũng là nhắm tới thực hiện mục đích bảo
đảm quyền con người. Hai cá thể trong xã hội muốn được pháp luật cho phép
kết hôn trở thành vợ chồng, phát sinh một quan hệ hôn nhân có đầy đủ quyền
nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau nhất thiết phải là hai người khác giới – đó
là quy định mang tính đặc thù để phân biệt với mối quan hệ chung sống của hai

Hôn nhân gia đình Việt Nam hiện hành chính chưa quy định một cơ chế pháp
lý đặc thù để hợp pháp hóa mối quan hệ của người đồng tính với nhau.
b) Nên thừa nhận quyền đăng ký sống chung của người đồng tính và
những vấn đề phát sinh từ quan hệ sống chung về các quyền dân sự
Đến thời điểm hiện nay, những vấn đề y tế và pháp lý liên quan đến
người đồng tính đã được làm rõ trên thế giới. Cụ thể, đồng tính không phải là
một bệnh, đồng thời sự chung sống của các cặp đôi đồng tính không gây nguy
hại cho sức khỏe cộng đồng hay trật tự an ninh xã hội
8
. Nhu cầu chung sống
với nhau, xây dựng một gia đình, được hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ đối
với nhau là nhu cầu chính đáng của con người nói chung và nhu cầu có thực
của những người đồng tính hiện nay nói riêng. Trên thế giới, điều này đã được
thể hiện và thừa nhận điều chỉnh bằng pháp luật ở nhiều nước. Với thực tiễn và
đặc thù văn hóa của xã hội Việt Nam, cộng đồng người đồng tính cũng đã công
khai thể hiện mong muốn của họ trướ c cộng đồng xã hội và trước nhà nướ c
thông qua các diễn đàn, các hội thảo hợp pháp, công khai. Để đáp ứng nhu cầu
chính đáng của người đồng tính ở phương diện bảo đả m quyền con người,
quyền công dân, nhà nước cần điều chỉnh bằng pháp luật và định danh pháp lý
cho mối quan hệ của những người đồng tính muốn được chung sống với nhau.
Tham khảo quy định của các nước trên thế giới, chúng tôi cho rằng cơ chế
pháp lý cho người đồng tính kết đôi có đăng ký với nhà nước là phù hợp nhất
bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất: Thừa nhận cho người đồng tính kết đôi có đăng ký tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đáp ứng được nhu cầu cùng nhau chung sống trong
một gia đình của người đồng tính. Khi được nhà nước thừa nhận, người đ ồ ng
tính được quyền chung sống với nhau, bộc lộ tình cảm thật với nhau mà không
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
8
Vũ Công Giao: “Vấn đề quyền của LGBT trên thế giới và những yêu cầu đặt ra với Việt Nam”. Trích

ký cũng sẽ thể hiện sự hiện đại hóa trong quan điểm lập pháp nhằm tạo nên sự
tương thích trong các quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế
và pháp luật nhiều nước trên thế giới theo xu hướng ngày càng mở rộng cơ chế
pháp lý bảo đảm quyền con người nhưng cũng không làm ảnh hưởng đến quan
niệm truyền thống hợp lý củ a xã hội Việt Nam về các mối quan hệ gia đình –
một đặc trưng văn hóa truyề n thống có nhiều nét đáng tự hào của văn hóa Việt
Nam./.
!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status