Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Mục lục
Lời nói đầu ..
1
Chơng 1. khái quát chung về ly hôn ..
4
1.1 Khái niệm về ly
hôn ...
4
1.2 Sơ lợc lịch sử chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam qua các
giai đoạn phát triển ...
5
1.2.1 Căn cứ ly hôn trong cổ luật Việt
Nam ..
5
1.2.2 Thời kì Pháp
thuộc ..
10
1.2.3 Giai đoạn từ 1945 đến
nay ..
11
1.2.3.1 Từ năm 1945
1954 .
11
1.2.3.2 Từ năm 1955
1975 .
13
1.2.3.3 Từ năm 1976 đến
nay
16
Chơng 2. ly hôn theo luật hôn nhân
38
2.3.2.1 Đối với tài sản riêng của mỗi
bên .
38
2.3.2.2 Đối với tài sản chung của vợ
chồng .
40
2.3.3 Giải quyết cấp dỡng giữa vợ chồng khi ly hôn .
44
2.3.4 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con sau khi cha mẹ ly hôn......
45
Chơng 3. Thực tiễn áp dụng luật hôn nhân &
GIA ĐìNH năm 2000 về ly hôn và một số kiến nghị
Hoàn thiện pháp luật về ly hôn
49
3.1. Nhận xét chung về thực tiễn áp dụng Luật hôn nhân & Gia
đình 2000 về ly hôn
.
49
3.2. Vấn đề áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân & Gia đình
2000 trong quá trình xét xử và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về ly
hôn
53
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
2
Ly h«n trong LuËt H«n nh©n vµ gia ®×nh ViÖt Nam n¨m 2000
Tµi liÖu tham kh¶o
Ph¹m Trung HiÕu Chuyªn ngµnh: LuËt d©n sù
3
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Từ khi luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời, nhà nớc đã tuyên truyền
và phổ biến rộng rãi để mọi ngời dân hiểu biết trong việc bảo vệ quyền lợi của
mọi thành viên và xây dựng hạnh phúc gia đình XHCN. Các cấp, các ngành mà
đặc biệt là ngành Toà án đã góp phần không nhỏ vào việc tổ chức và hoàn thiện
pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử các vụ án ly hôn cho thấy, còn tồn tại
một số vớng mắc nh vấn đề xác định căn cứ ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn.
Nhiều vụ đã phải qua nhiều cấp xét xử do có sự kháng cáo của đơng sự và
kháng nghị của ngời có thẩm quyền. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do
trình độ, năng lực của một số cán bộ xét xử cha đáp ứng với yêu cầu thực tiễn
của công việc. Bên cạnh đó, cần phải nói tới sự cha hoàn thiện của pháp luật đã
dẫn đến tình trạng các nhà áp dụng pháp luật có cách hiểu không thống nhất
nên đã vận dụng pháp luật một cách tuỳ tiện.
2. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Trong Khóa luận này em lựa chọn nghiên cứu đề tài : Ly hôn trong Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 . Mục đích của việc nghiên cứu đề
tài này là dựa trên cơ sở các quy định của luật thực định để giải quyết việc ly
hôn của vợ chồng cho hợp lý, chính xác, đảm bảo quyền, lợi ích của các bên.
Trên cơ sở đó, tìm hiểu những quy định còn bất cập, cha cụ thể, để từ đó có
những nhận xét, kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề ly hôn theo luật Hôn nhân và
gia đình Việt Nam.
Với mục đích trên, Khóa luận thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề khái quát chung về ly hôn. Với nhiệm vụ này,
em sẽ trình bày khái niệm ly hôn, tìm hiểu một cách có hệ thống và đầy đủ về
chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn phát triển.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về ly hôn. Với nội dung
này, Khóa luận đi sâu phân tích nội dung những quy định về ly hôn theo Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, so sánh với pháp luật của một số n-
ớc trên thế giới để thấy rõ những điểm thành công và hạn chế của pháp luật Việt
nam trong vấn đề ly hôn.
hôn nhân nhng là mặt không thể thiếu đợc khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ là
hình thức, tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ.
Vấn đề ly hôn đợc quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là
khác nhau. Một số nớc cấm vợ chồng ly hôn (theo Đạo thiên chúa), bởi vì theo
họ quan hệ vợ chồng bị ràng buộc thiêng liêng theo ý chúa. Một số nớc thì hạn
chế ly hôn bằng cách đa ra những điều kiện hết sức nghiêm ngặt. Cấm ly hôn
hay hạn chế ly hôn đều trái với quyền tự do dân chủ của cá nhân.
Pháp luật của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính
đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn
chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết
quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình.
Nhà nớc bằng pháp luật không thể cỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn
với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải
duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thơng gắn bó giữa họ đã hết và mục
đích của hôn nhân đã không thể đạt đợc. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối
với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ
chồng, con cái và các thành viên trong gia đình.
1
Theo Lê-nin thực ra tự do ly
hôn tuyệt không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình mà ngợc
lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở
1
1. Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Trờng Đại học luật Hà Nội, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 2007, Tr.239
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
7
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh
2
. Nhng bên cạnh
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
mà hơn thế, nó là việc của hai bên gia tộc. Đối với cộng đồng gia tộc, mục đích
của hôn nhân là để duy trì dòng dõi và thờ phụng tổ tiên. Trong hoàn cảnh ấy,
việc không có con đợc coi là bất hiếu với cha mẹ, gây thiệt hại cho lợi ích gia
tộc và vì cớ ấy, ngời chồng đợc phép đơn phơng rẫy bỏ vợ mình. Cũng trong lợi
ích của cộng đồng gia tộc mà việc ngời vợ ghen tuông hay dâm đãng nếu ngời
chồng không bỏ thì bại hoại gia đạo, ngời vợ trộm cắp mà không bỏ thì vạ lây
đến chồng, nếu ngời vợ bị ác tật thì khi có việc tế tự thì sẽ không làm đợc cỗ,
ảnh hởng tới lợi ích gia đình, ngời chồng cũng phải bỏ. Ta thấy, duyên cớ để
ngời chồng bỏ vợ chủ yếu quy vào lỗi của ngời vợ mà những lỗi này bắt nguồn
từ địa vị thấp kém của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến. Năm trong số bảy
duyên cớ rẫy vợ nói trên tuy có phần lỗi của ngời vợ (dù không hẳn nghiêm
trọng), nhng vì lợi ích gia đình, ngời chồng đợc quyền đơn phơng ly hôn không
cần biết đến ý kiến ngời vợ cũng nh không cần xét đâu là nguyên nhân dẫn đến
hành vi phạm lỗi của ngời vợ. Hai duyên cớ còn lại, không có con và bị ác tật,
dù ngời phụ nữ không có lỗi nhng vẫn đợc các nhà làm luật chấp nhận nh các
duyên cớ ly hôn, cũng là vì mục đích để bảo vệ quyền lợi của gia đình. Sự hy
sinh quyền lợi cá nhân vợ chồng để bảo vệ quyền lợi gia đình còn đợc các nhà
lập pháp hớng Nho giáo đẩy xa đến mức mô phỏng hoàn toàn quy định của
pháp luật Trung Quốc, theo đó, nếu ngời chồng không bỏ vợ trong trờng hợp
thất xuất thì ngời chồng bị xử tội biếm (Điều 310 Bộ luật Hồng Đức, Đoạn
166 Hồng Đức Thiện chính th). Có thể nói, pháp luật can thiệp khá sâu vào
cuộc sống gia đình của mỗi nhà. Việc ly hôn không là sự tự nguyện giữa hai ng-
ời mà hoàn toàn phụ thuộc vào địa vị kinh tế, vào sự phân tầng giai cấp xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh các trờng hợp thất xuất, cổ luật Việt Nam còn quy
định 3 trờng hợp ngời chồng không đợc bỏ vợ (tam bất khứ) dù cho ngời vợ có
phạm phải một trong các điều thất xuất, đó là: vợ đã để tang nhà chồng đợc 3
năm; khi vợ chồng lấy nhau nghèo hèn, sau trở nên giàu có; khi vợ chồng lấy
nhau, vợ còn bà con họ hàng, khi bỏ vợ, vợ không còn nơi nơng tựa. Nếu vợ
nằm trong trờng hợp thất xuất nhng nại đợc ra trờng hợp tam bất khứ mà
nữ, luật Hồng Đức cho phép ngời vợ đợc trình quan và thực hiện quyền ly hôn
của mình. Ngoài ra, theo Điều 333 luật Hồng Đức thì Nếu con rể lấy chuyện
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
10
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
phi lý mà mắng nhiếc cha mẹ vợ. Đem việc tha quan sẽ cho ly dị. Theo quan
niệm của Nho giáo thì bất hiếu với cha mẹ là điều không thể dung thứ đợc. Vì
vậy, việc con rể lấy chuyện thị phi mắng nhiếc cha mẹ vợ cũng là điều bất hiếu,
xúc phạm đến danh dự gia giáo của gia đình, phá hoại tình nghĩa vợ chồng. Tuy
nhiên, trong trờng hợp này ngời vợ phải tha quan và nếu quan cho phép mới đợc
ly dị, chứ ngời vợ không đợc tự ý bỏ chồng.
Điều 108 lệ thứ hai Luật Gia Long cũng quy định: nếu ngời chồng mất tích
hoặc bỏ trốn 3 năm không về thì ngời vợ đợc trình quan xin phép cải giá và nhà
vợ không phải hoàn lại đồ sính lễ.
Ly hôn bắt buộc cũng đợc áp dụng nh kết hôn giữa những ngời có quan hệ
thân thích, cùng họ với nhau, đang có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy chồng, các
quan lại lấy đàn bà, con gái hát xớng làm vợ cả, vợ lẽ. Ví dụ : theo quy định của
Điều 309, Luật Hồng Đức quy định: ai lấy nàng hầu làm vợ thì xử tội phạt, vì
quá say đắm nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì xử tội biếm ; Điều 317 quy định:
ngời nào đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng mà lại cới vợ hoặc lấy chồng
thì bị xử tội đồ, ngời khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử biếm ba t và đôi vợ
chồng mới cới phải chia lìa hoặc nh Điều 323 có quy định: các quan và
thuộc lại lấy đàn bà, con gái hát xớng làm vợ cả, vợ lẽ, đều xử phạt 70 trợng,
biếm ba t; con cháu các quan viên mà lấy những phụ nữ nói trên, thì xử phạt 60
trợng và đều phải ly dị .
Theo quy định của Điều 108, luật Gia Long quy định: khi vợ chồng phạm
phải điều nghĩa tuyệt thì buộc phải ly hôn. Nghĩa tuyệt có thể do lỗi của vợ
(vợ mu sát chồng), lỗi của chồng (chồng bán vợ) hoặc là lỗi của hai vợ chồng.
Riêng trờng hợp nếu vợ phạm phải nghĩa tuyệt mà chồng không bỏ, thì chồng
cũng bị phạt 80 trợng. Nghĩa là, ở các trờng hợp nghĩa tuyệt dù ngời phụ nữ
bắt buộc ly hôn khi bên kia vi phạm một trong các điều kiện thiết yếu của hôn
nhân hay vi phạm các nghĩa vụ của vợ chồng. Điều quan trọng là, một khi
những điều kiện của các căn cứ ly hôn nói trên hội đủ, các đơng sự đợc phép
đặt dấu chấm hết cho cuộc hôn nhân của mình.
Hai là, trong xã hội phong kiến Việt Nam thời kỳ ảnh hởng đậm nét bởi t t-
ởng Nho giáo, nếu nh việc kết lập hôn nhân chính là vì lợi ích gia đình, thì khi
huỷ bỏ hôn nhân, cũng là do quyền lợi của gia đình chi phối hơn là do mối quan
1
1.Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, 8 ( 208 )
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
12
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
hệ giữa bản thân ngời vợ và ngời chồng. Nói cách khác, ý chí cá nhân của vợ
chồng bị gạt ra ngoài lề không chỉ khi họ kết lập hôn nhân của chính họ, mà
còn khi cuộc hôn nhân của họ bị huỷ bỏ, để thay vào đó là lợi ích gia dình, gia
tộc. Ly hôn vì lí do thất xuất hay nghĩa tuyệt là sự phản ánh triệt để quan
điểm này.
Ba là, cũng dới ảnh hởng của t tởng Nho giáo đề cao đức trị mà những quy
định về duyên cớ ly hôn đã đợc thiết lập trên cơ sở đạo đức và nhân cách cá
nhân để rồi bằng cách ấy chúng đã xoá nhoà ranh giới giữa đạo đức và pháp
luật.
1
Bốn là, duyên cớ ly hôn trong cổ luật thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ và
chồng, trong đó số phận ngời phụ nữ phụ thuộc vào ý chí của ngời chồng và gia
đình chồng. Các trờng hợp ly hôn do thất xuất đã thể hiện rõ nguyên tắc này.
Ngay cả trong trờng hợp thuận tình ly hôn, cũng không có bất cứ sự đảm bảo
nào cho ngời phụ nữ.
1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc ( đến trớc năm 1945)
Với mục đích phục vụ cho chính sách cai trị, thực dân Pháp đã chia đất nớc
hôn nhân và gia đình phong kiến cổ hủ, lạc hậu để xây dựng chế độ hôn nhân và
gia đình văn minh, tiến bộ. Do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ chúng ta mới giành
đợc chính quyền, khó khăn chồng chất, chế độ phong kiến còn đè nặng trong t
tởng của nhân dân nên nhà nớc ta cha thể ban hành một đạo luật về hôn nhân và
gia đình mà chỉ thực hiện phong trào vận động đời sống mới để nhân dân ta tự
nguyện xoá bỏ hủ tục lạc hậu.
Bên cạnh cuộc vận động, ngày 10/10/1945 Chủ tịch nớc đã ban hành Sắc
lệnh số 90/ST, cho phép áp dụng những quy định trong bộ luật của chế độ cũ có
chọn lọc trên nguyên tắc là không đợc trái với lợi ích của nhà nớc Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, trong đó, có vấn đề hôn nhân và gia đình và hậu quả của ly
hôn. Cũng ngay trong bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nớc Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: tất cả mọi ngời đều sinh
ra có quyền bình đẳng .và m u cầu hạnh phúc và trong bản Hiến Pháp đầu
tiên của nớc ta năm 1946, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đã đợc ghi nhận tại
Điều 19 Hiến pháp: đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phơng diện
1
.
1
1. Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
14
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Điều này làm cơ sở pháp lí quan trọng cho việc đấu tranh xoá bỏ chế độ hôn
nhân và gia đình phong kiến, đặt nền móng cho xây dựng chế độ hôn nhân và
gia đình dân chủ, tiến bộ.
Ngày 22/5/1950, Chủ tịch nớc Việt Nam DCCH đã ban hành Sắc lệnh số
97/SL về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ,
Nam Kỳ trong lĩnh vự hôn nhân và gia đình. Đến ngày 17/11/1950, Chủ tịch n-
ớc Việt Nam DCCH ban hành Sắc lệnh số 159/SL quy định về vấn đề ly hôn.
Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 có 15 điều, trong đó có 8 điều quy định
1.2.3.2 Từ năm 1955 đến 1975
Đây là thời kỳ đất nớc ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc dới sự
lãnh đạo của chính quyền nhà nớc Việt Nam DCCH, miền Nam dới sự cai trị
của đế quốc Mỹ và chính quyền phong kiến Sài Gòn. Trớc tình hình đó, Đảng
và nhà nớc ta đã đề ra nhiệm vụ cho mỗi miền.
ở miền Bắc, chế độ hôn nhân và gia đình đợc xây dựng trên nguyên tắc tự
do, tiến bộ, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của ngời phụ nữ và con cái.
Trên cơ sở Hiến pháp 1959 ghi nhận sự bình đẳng dân chủ giữa phụ nữ và nam
giới về các mặt, nhà nớc bảo hộ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em, bảo vệ hôn nhân
và gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình đợc Quốc hội khoá I thông qua ngày
29/12/1959 và có hiệu lực ngày 13/01/1960. Lần đầu tiên căn cứ ly hôn đợc xác
định hoàn toàn khác. Việc giải quyết ly hôn không dựa trên yếu tố lỗi của các
bên nh trớc đây mà trên cơ sở thực trạng của quan hệ hôn nhân. Căn cứ ly hôn
phản ánh hôn nhân không thể tồn tại đợc nữa, nếu xét thấy tình trạng trầm
trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đ-
ợc thì Toà án sẽ cho ly hôn. (Điều 26, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
quy định: Khi một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm quyền sẽ
điều tra và hoà giải, hoà giải không đợc, Toà án nhân dân sẽ xét xử. Nếu tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt đợc thì Toà án nhân dân sẽ cho ly hôn).
Để áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 một cách đúng đắn, đồng
thời, phát huy hết tác dụng, nâng cao hiệu quả trong việc thi hành luật nhất là
trong giải quyết ly hôn và giải quyết hậu quả ly hôn. Toà án nhân dân tối cao đã
ban hành các thông t, chỉ thị để hớng dẫn Toà án các địa phơng giải quyết việc
ly hôn:
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
16
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
- Thông t số 690 ngày 29/4/1960 của TANDTC hớng dẫn việc xử lý ly hôn
và các vấn đề có liên quan;
17
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 và Bộ luật Sài Gòn ngày 20/01/1972 có
quy định căn cứ ly hôn. Tuy nhiên, việc giải quyết ly hôn dựa trên nguyên cớ ly
hôn đợc xác định dựa trên lỗi của vợ chồng. Điều 63 Sắc luật số 15/64 quy định
5 duyên cớ ly hôn mà nội dung chủ yếu là dựa trên lý do xin ly hôn của Sắc luật
ngày 17/01/1950 nhng đã sửa lại cho cụ thể hơn: duyên cớ ly hôn do một bên
bỏ nhà đi quá 2 năm không có duyên cớ chính đáng đợc sửa lại là có án văn
xác định sự biệt tích của ngời phối ngẫu đã thất tung, hoặc lý do vợ chồng
tính tình không hợp, đối xử với nhau không thể chung sống đợc, thể hiện bằng
các hành vi cụ thể vì sự ngợc đãi, bạo hành hay nhục mạ thờng xuyên làm cho
vợ chồng không thể chung sống với nhau đợc nữa. Bên cạnh đó, một bên có
quyền xin ly hôn khi có án văn quy định xử ngời phạm tội vì có hành vi phế bỏ
gia đình (Điều 63). Chế độ ly thân và ly hôn theo Bộ Dân luật năm 1972, duyên
cớ ly hôn gồm :
- Vì sự mất tích của ngời phối ngẫu;
- Vì ngời phối ngẫu bị kết án trọng hình;
- Vì sự ngợc đãi, bạo hành hay nhục mạ khiến cho vợ chồng không thể ăn ở
với nhau đợc nữa
2
.
Trờng hợp vợ chồng thuận tình ly hôn chỉ diễn ra trong khoảng thời gian hôn
thú đợc lập trên 2 năm và không quá 20 năm. Hậu quả pháp lý của ly hôn là
chấm dứt hoàn toàn quan hệ vợ chồng. Ngời vợ đợc lấy lại tên riêng của mình
và chỉ có thể tái giá sau 300 ngày, kể từ khi hôn nhân chấm dứt.
1.2.3.3 Từ năm 1976 đến nay
Sự ra đời của Hiến pháp 1980 đã có quy định mới về nguyên tắc xây dựng
chế độ hôn nhân và gia đình đã đòi hỏi Luật hôn nhân và gia đình phải có
những quy định để cụ thể hóa những nguyên tắc này. Sau 30 năm thực hiện ở
miền Bắc và hơn 10 năm thực hiện ở miền Nam, Luật Hôn nhân và gia đình
đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để đáp ứng với sự đổi
mới trên thì hệ thống pháp luật Việt Nam cũng phải có sự đổi mới cho phù hợp
với sự phát triển chung của xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 trở nên
không phù hợp với hoàn cảnh xã hội hiện tại. Do vậy, đòi hỏi Luật Hôn nhân và
gia đình phải có sự thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Tại Kỳ họp thứ 7,
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
19
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Quốc hội khoá X ngày 09/6/2000 đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình gồm
13 Chơng, 110 điều và đợc xây dựng trên các nguyên tắc :
- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng;
- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa ngời
theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam và ngời nớc
ngoài đợc tôn trọng và bảo vệ;
- Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia
đình;
- Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội, con có
nghĩa vụ tôn trọng, chăm sóc, nuôi dỡng cha mẹ, cháu có nghĩa vụ kính trọng,
chăm sóc, phụng dỡng ông bà, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan
tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;
- Nhà nớc và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa
con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong và ngoài giá thú;
- Nhà nớc, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ
các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của ngời mẹ.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định căn cứ ly hôn theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Căn cứ ly hôn không đợc quy định riêng biệt mà đ-
ợc quy định chung nhất, dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ. Toà
án nhân dân phải tiến hành điều tra và hoà giải nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình
và chỉ khi nào xét thấy quan hệ quan hệ vợ chồng đã thực sự đến mức tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
- Nhà nớc, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ
các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của ngời mẹ.
Một trong những nguyên tắc quan trọng khi kết hôn là phải có sự tự nguyện
của hai bên nam nữ. Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam nữ
thực sự mong muốn trở thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thơng chân chính
giữa họ nhằm mục đích là cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Sự tự
nguyện của các bên trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn
nhân có thể tồn tại lâu dài và bền vững.
Hôn nhân tự nguyện cũng đồng thời phải đảm bảo tự do ly hôn. Nếu nh
không thể bắt buộc ngời ta kết hôn thì cũng không thể buộc họ tiếp tục cuộc
sống vợ chồng khi cuộc sống đó hoàn toàn không có sự tự nguyện và hạnh phúc
gia đình không thể hàn gắn đợc.
Nhà nớc bảo hộ hôn nhân, đảm bảo quyền tự do ly hôn của vợ chồng không
có nghĩa là giải quyết ly hôn tuỳ tiện, theo ý chí, nguyện vọng của vợ chồng mà
bằng pháp luật, nhà nớc kiểm soát việc giải quyết ly hôn vì trong quan hệ hôn
nhân, không chỉ có lợi ích riêng của hai vợ chồng mà còn có lợi ích của các
thành viên khác trong gia đình, lợi ích của nhà nớc và xã hội. Vì vậy. thông qua
pháp luật, nhà nớc chỉ giải quyết ly hôn khi có đủ những căn cứ theo quy định
của pháp luật.
2.1 Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
2.1.1 Khái niệm căn cứ ly hôn
Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân là hiện tợng xã hội mang tính giai cấp
sâu sắc. Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác
nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nớc, bằng pháp luật quy định chế độ
hôn nhân phải phù hợp với ý chí của nhà nớc. Tức là nhà nớc bằng pháp luật
quy định trong những điều kiện nào thì cho phép xác lập quan hệ vợ chồng,
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
22
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
đồng thời xác định trong những điều kiện, căn cứ nhất định mới cho phép xoá
thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002,
Tr. 160 162
2
2. C.Mác và Ph. Ănggheh : Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, T1,Tr. 234
- 235
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
23
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đợc thì Toà án
quyết định cho ly hôn.
2. Trong trờng hợp vợ hoặc chồng của ngời bị Toà án tuyên bố mất tích xin
ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.
Khi có yêu cầu ly hôn của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Toà án phải tiến
hành điều tra và hoà giải, nếu hoà giải không thành thì Toà án cần xác định tình
trạng của quan hệ hôn nhân, xem có căn cứ ly hôn không để giải quyết. Việc
giải quyết ly hôn cần phải chính xác. Nếu xét xử đúng, kết quả đó sẽ phù hợp
với nguyện vọng của các bên, bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong
gia đình. Ngợc lại, nếu việc giải quyết không chính xác sẽ dẫn tới tan vỡ hạnh
phúc gia đình, phá huỷ một cuộc hôn nhân còn có thể cứu vãn đợc và gây ra hậu
quả không đáng có. Mặt khác, giải quyết ly hôn cũng đòi hỏi sự linh hoạt trong
việc vận dụng căn cứ ly hôn đối với mỗi trờng hợp cụ thể.
Trớc hết cần hiểu quan hệ vợ chồng ở vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài là giữa vợ chồng có nhiều lục đục, mâu thuẫn sâu sắc
đến mức vợ chồng không thể chịu đựng nhau đợc nữa, các thành viên trong gia
đình không thể chung sống bình thờng, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại đợc,
sự tan vỡ của hôn nhân và ly tán của gia đình là không thể tránh khỏi. Vì vậy,
không thể hiểu giản đơn tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài là biểu hiện tình yêu giữa vợ và chồng mà rộng hơn đó là tình trạng về
cuộc sống gia đình nói chung và các mối quan hệ xung quanh. Môi trờng và
bị tù túng.
Để có một đánh giá chính xác về tình trạng quan hệ vợ chồng, Nghị quyết số
02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao hớng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 đã nêu rõ: đợc coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:
- Vợ, chồng không yêu thơng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, nh : Ngời
nào chỉ biết bổn phận ngời đó, bỏ mặc ngời vợ hoặc ngời chồng muốn sống ra
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
25