ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ BÍCH HUỆ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ BÍCH HUỆ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành
: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số
:60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật khóa 16 đã giúp tôi lĩnh hội những kiến
thức cơ bản về lĩnh vực quan trọng này.
Xin trân trọng cảm ơn Khoa Luật Đại học Quốc gia đã tiên phong tổ chức
khóa học bổ ích và lý thú, các thầy cô giáo Khoa Luật, Phòng Đào tạo và Bộ môn
Luật Hiến pháp-Hành chính đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian khóa học
và thực hiện luận văn.
Xin cảm ơn các bạn đồng môn đã trao đổi thảo luận và cung cấp những
thông tin tư liệu hữu ích liên quan đến đề tài luận văn.
Cuối cùng, xin đặc biệt cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ, động
viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8/2015
Đặng Thị Bích Huệ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BÌNH
ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH .............................................................................................................. 10
1.1. Nhận thức về giới và bình đẳng giới ....................................................... 10
1.1.1. Khái niệm giới và giới tính .................................................................. 10
1.1.2. Các đặc điểm và vai trò giới................................................................11
1.1.3. Bất bình đẳng giới và bình đẳng giới ................................................... 15
1.1.4. Bản chất và các yếu tố đánh giá bình đẳng giới .................................. 21
1.2. Quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình ........ 23
1.2.1. Các quan điểm về quyền bình đẳng giới .............................................. 23
1.2.2. Quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình .... 26
2.5. Hạn chế và bất cập của pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự,
hôn nhân và gia đình hiện nay ........................................................................ 61
2.5.1. Hạn chế và bất cập của pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân
sự ..................................................................................................................... 61
2.5.2. Hạn chế và bất cập của pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình .............................................................................................. 66
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ............................................................................... 78
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ....................................................... 80
3.1. Quan điểm về hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân
sự, hôn nhân và gia đình.................................................................................. 80
3.1.1. Quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh
trong hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân
và gia đình ....................................................................................................... 80
3.1.2. Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, toàn diện và không ngừng nâng cao
năng lực, kỹ thuật lập pháp trong hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới
trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình .................................................. 84
2
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân
và gia đình phải bảo đảm phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã
tham gia ........................................................................................................... 85
3.1.4. Phát huy dân chủ trong hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trong
lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình ............................................................ 88
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân
sự, hôn nhân và gia đình.................................................................................. 89
3.2.1. Rà soát, hệ thống hoá các văn bản pháp luật hiện hành ...................... 89
Đã có nhiều văn kiện quốc tế đề cập đến vấn đề quyền bình đẳng giới
như Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người
năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966…,
đặc biệt là Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ năm 1979, có hiệu lực từ ngày 03/9/1980 mà Việt Nam cũng là thành
viên. Công ước này gồm 30 điều, trong đó lên án sự phân biệt đối xử đối với
phụ nữ dưới mọi hình thức và yêu cầu các quốc gia áp dụng mọi biện pháp
thích hợp để loại trừ mọi sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ, trên tất cả các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá; bảo đảm sự phát triển và tiến bộ
đầy đủ của phụ nữ để họ có thể hưởng thụ các quyền con người và tự do cơ
bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “Nói đến phụ
nữ là nói đến phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải
1
phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ
nghĩa xã hội chỉ một nửa” [32, trang 432]. Người khẳng định: “phụ nữ chiếm
một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thực sự giải
phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ” [33, trang 225]. Trong Di
chúc trước lúc đi xa, Người còn căn dặn: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế
hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ cho ngày càng thêm nhiều
phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ
thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình
đẳng thực sự cho phụ nữ” [34, trang 504].
Chính tinh thần dân chủ, tiến bộ đó của Hồ Chí Minh đã kêu gọi phụ nữ
ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã tập hợp được rộng rãi quần
chúng thông qua tuyên ngôn vị trí bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong
các luật có liên quan về bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực trong gia đình,
bảo vệ quyền trẻ em... Mặc dù những vấn đề này đã được khắc phục cơ bản
trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng về mặt lý thuyết nhiều hạn
chế về quyền bình đẳng giới vẫn chưa được khắc phục triệt để. Hiện nay, Bộ
luật dân sự năm 2005 đang được chỉnh sửa, bổ sung để hoàn thiện, trong đó
có vấn đề về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự cần phải được
nghiên cứu, đóng góp ý kiến để hoàn thiện.
Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại, trong đó có hội nhập
pháp luật và đạt được các chuẩn mực quốc tế trong quá trình phát triển. Chuẩn
mực bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền bình đẳng giới là tiêu chí, là
tiêu chuẩn và cũng là mục tiêu trong hội nhập quốc tế. Lĩnh vực cơ bản và
then chốt của chuẩn mực này không thể không kể đến lĩnh vực dân sự, hôn
nhân và gia đình. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật về bình
đẳng giới trong các lĩnh vực này của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật
là cần thiết để đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của nước ta trong
3
bảo đảm và thực thi quyền này cũng như góp phần đẩy mạnh tiến trình hội
nhập quốc tế, phát triển đất nước của Việt Nam.
Về mặt lý luận, mặc dù là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa
học như xã hội học, pháp lý... nhưng hệ thống các quan điểm lý luận và việc
tổng kết thực tiễn thực hiện pháp luật về bình đẳng giới nói chung vẫn chưa
hoàn thiện và thống nhất. Đặc biệt là việc nghiên cứu quyền bình đẳng giới
đồng thời trong hai lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình vẫn còn chưa được
thực hiện đầy đủ, mặc dù hai lĩnh vực này rất gần gũi và có nhiều nét tương
đồng với nhau, cần thiết phải cùng nghiên cứu chung.
Trước tình hình trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài Hoàn thiện
pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình –
2005;
- Lê Ngọc Văn (chủ biên) - Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Gia
đình và giới: “Nghiên cứu gia đình lý thuyết nữ quyền, quan điểm giới”, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, năm 2006;
- Viện Khoa học xã hội Việt Nam,Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ,
Trung tâm Nghiên cứu giới và gia đình: “Giới, việc làm và đời sống gia
đình”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2007;
- Đặng Thị Ánh Tuyết: “Bình đẳng giới ở nông thôn miền núi phía Bắc
hiện nay”, luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Xã hội học, mã số: 60.31.30,
bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2013;
- Trịnh Đình Thể: “Suy nghĩ về bình đẳng giới dưới góc nhìn pháp
luật”, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2007;
- Dương Thị Ngọc Lan: “Hoàn thiện pháp luật về quyền lao động nữ ở
Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Lý luận và lịch
sử Nhà nước và pháp luật, mã số: 60.38.01, bảo vệ tại Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2000;
5
- Chu Thị Thoa: “Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng
sông Hồng hiện nay”, luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Chủ nghĩa cộng sản
khoa học, mã số: 5.01.03, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh năm 2002;
- Đỗ Thị Thơm: “Hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam
hiện nay”, luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà
nước và pháp luật, mã số: 60.38.01, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh năm 2004;
- Cao Quốc Việt: “Hoàn thiện pháp luật phòng chống mua, bán phụ
nữ, trẻ em ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ luật học, Chuyên ngành Lý
- Phân tích cơ sở lý luận về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự,
hôn nhân và gia đình.
- Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới trong lĩnh
vực dân sự, hôn nhân và gia đình; trong đó nhận xét, đánh giá những thành
tựu; những hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế về
vấn đề này ở nước ta.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình
đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam trong thời
gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ chế pháp lý về bảo đảm quyền bình đẳng giới
trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Về nội dung, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận,
pháp lý cơ bản về quyền bình đẳng giới trong hai lĩnh vực là dân sự, hôn nhân
và gia đình. Luận văn không đi sâu phân tích tất cả các vấn đề lý luận và pháp
lý về bình đẳng giới nói chung cũng như trong các lĩnh vực khác.
7
Về không gian, thời gian, luận văn chủ yếu tập trung phân tích khuôn
khổ pháp luật hiện hành về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn
nhân và gia đình ở Việt Nam trong khoảng 10 năm gần đây. Luận văn chỉ
khái quát về pháp luật của quốc tế và một số quốc gia về cùng vấn đề. Luận
văn cũng không tập trung phân tích lịch sử pháp luật về bình đẳng giới ở Việt
Nam mà chỉ khái quát những điểm đặc thù, nổi bật của các giai đoạn lịch sử
gắn với pháp luật có điều chỉnh về bình đẳng giới trong lĩnh vực dân sự, hôn
nhân và gia đình.
về bình đẳng giới và quyền bình đẳng giới trong các giai đoạn phát triển tiếp
theo của đất nước.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn được kết cấu làm 3 chương như sau:
Chương 1 - Cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật bình đẳng giới trong
lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình.
Chương 2 - Thực trạng pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới trong lĩnh
vực dân sự, hôn nhân và gia đình.
Chương 3 - Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới
trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay.
9
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1.1. Nhận thức về giới và bình đẳng giới
1.1.1. Khái niệm giới và giới tính
Giới và giới tính là hai vấn đề luôn song hành cùng với nhau. Chính sự
song hành này mà nhiều khi không có sự phân biệt giữa hai khái niệm giới và
giới tính, khiến cho vấn đề trở nên phức tạp, không rành mạch. Chỉ riêng cụm
từ nam giới và nữ giới hay nam và nữ về mặt thực tế nhiều khi được sử dụng
lẫn lộn, không có sự phân biệt trong hoàn cảnh nào dùng thuật ngữ nào.
Theo SEAGEP [50], giới và giới tính được định nghĩa như sau:
Giới tính (sex) là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ.
Sự khác biệt này là không thể thay đổi được. Chỉ có một số khác biệt nhỏ về
vai trò của nam và nữ về mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính, ví dụ
như việc mang thai, sinh nở và sự khác biệt về sinh lý.
Những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ là không thể thay đổi
được. Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, nam và nữ khắp nơi trên thế giới dù
ở nền văn hóa nào cũng đều có chức năng tự nhiên, cơ quan sinh sản giống
nhau, không thể thay đổi được và cũng không thể chuyển hóa cho nhau bởi
điều này do các yếu tố sinh học quyết định. Sinh ra là đàn ông hay đàn bà thì
chúng ta không thể lựa chọn và không thể thay đổi được điều đó.
Tuy nhiên, xét về mặt xã hội, có những đặc điểm có thể hoán đổi cho
nhau giữa nam và nữ, những đặc điểm này thuộc về khía cạnh giới, ví dụ như
phụ nữ cũng có thể mạnh mẽ và quyết đoán hay cũng có thể trở thành lãnh
đạo chính trị như nam giới; ngược lại, nam giới cũng có thể làm đầu bếp,
nhân viên đánh máy, thư ký như các công việc mà phụ nữ thường làm…
Những đặc điểm có thể hoán đổi đó là do những khái niệm, nếp nghĩ và tiêu
chuẩn mang tính chất xã hội mà thay đổi theo thời gian, không gian.
11
Giới phản ảnh sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh xã hội. Những
sự khác biệt này là do các quá trình xã hội mà thành, có tính đa dạng và có thể
thay đổi, trong khi các quá trình tự nhiên của giới tính vẫn bất biến. Sự khác
biệt về giới thay đổi theo thời gian và theo không gian, từ nước này sang nước
khác, từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác, phụ thuộc vào bối cảnh cụ
thể của các xã hội, do các yếu tố văn hoá, lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định.
Minh chứng rõ nhất cho điều này là địa vị của người phụ nữ trong các xã hội
phương Đông, phương Tây là khác nhau; trong văn hóa Phật giáo, Hồi giáo,
Thiên chúa giáo... cũng khác nhau; trong xã hội phong kiến khác, trong xã hội
tư bản khác...
Quá trình thay đổi các đặc điểm về giới cần nhiều thời gian bởi nó đòi
hỏi một sự thay đổi trong tư tưởng, nhận thức, thói quen và cách cư xử vốn
được coi là mẫu mực của cả xã hội. Sự thay đổi về mặt xã hội này thường
không được coi trọng và được trả với mức thù lao rẻ mạt. Dần dần phụ nữ
cũng đảm nhận được các hoạt động sản xuất vật chất như nam giới nhưng
chính các định kiến xã hội đã làm cho việc trả thù lao của họ so với nam giới
ở cùng công việc tương ứng là thấp hơn và rẻ mạt hơn. Mặt khác, do vai trò
giới tính là nam giới thực hiện vai trò thụ tinh để nữ giới sinh con, tức là nam
chỉ tham gia vào một giai đoạn của quá trình sinh sản, các giai đoạn còn lại do
nữ đảm nhiệm. Về mặt tự nhiên, sức khỏe của nam thường là cao hơn nữ.
Chính những điều này đã dẫn đến tình trạng phổ biến sử dụng sức lao động
nam trong hoạt động sản xuất vật chất, tức là nam giới tham gia trực tiếp vào
hoạt động sản xuất vật chất và sự tham gia này là phổ biến. Hoạt động sản
xuất vật chất rất được xã hội đánh giá cao và thường được nhìn nhận do nam
giới thực hiện, ít có sự đóng góp của phụ nữ.
Vai trò tái sản xuất là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục...
giúp tái sản xuất dân số và sức lao động bao gồm sinh con, các công việc
chăm sóc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc trẻ, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, chăm
13
sóc sức khoẻ gia đình… Những hoạt động này là thiết yếu đối với cuộc sống
con người, đảm bảo sự phát triển bền vững của dân số và lực lượng lao động.
Tuy nhiên, hoạt động này tiêu tốn nhiều thời gian nhưng không trực tiếp tạo
ra thu nhập. Do đó, hoạt động này thường không được xem là một công việc
chính, mà có chăng chỉ là công việc phụ trợ, được làm miễn phí. Trong quan
niệm xã hội, các hoạt động như vậy thường không được coi trọng và đánh giá
cao. Đặc biệt, vai trò này thường do hầu hết phụ nữ và trẻ gái đảm nhiệm.
Điều này dẫn đến vai trò của nữ giới, tức phụ nữ và trẻ em gái không được
nhìn nhận một cách công bằng với nam giới, và là nguyên nhân chính dẫn đến
bất công bằng, bất bình đẳng về giới.
Vai trò cộng đồng và quản lý xã hội là tổ hợp các hoạt động mang tính
vậy, sự tham gia của nữ giới vào các vai trò vừa nêu có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc so sánh bình đẳng giữa nam giới và nữ giới trong các vấn đề xã
hội.
1.1.3. Bất bình đẳng giới và bình đẳng giới
Sự khác biệt về giới chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến vấn đề bất
bình đẳng giới. Những khác biệt đó bao gồm:
Thứ nhất, về vai trò, cả nam giới và nữ giới đóng nhiều vai trò trong xã
hội và các vai trò này là khác nhau theo giới. Các vai trò giới là tập hợp các
hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở phụ nữ và nam giới liên quan đến
những đặc điểm và năng lực được coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ
nữ trong một xã hội hay một nền văn hóa cụ thể. Đó cũng là các mối quan hệ
giữa phụ nữ và nam giới: ai nên làm gì, ai là người ra quyết định, khả năng
tiếp cận nguồn lực và các lợi ích [26]. Chẳng hạn, trong chế độ phụ quyền,
tiếng nói của nam giới có tính quyết định và nữ giới là những người phục
tùng, nhưng trong chế độ mẫu quyền, nữ giới lại là người có tiếng nói quyết
định và mặc dù nam giới có sức khỏe hơn vẫn phải phục tùng nữ giới.
15
Nữ giới và nam giới thực hiện các vai trò giới khác nhau nên họ cũng
có những nhu cầu giới khác nhau. Thế giới đã từng chứng kiến cả hai loại chế
độ phụ quyền và mẫu quyền, và hiện nay, các loại chế độ này vẫn đang cùng
tồn tại, tuy chế độ phụ quyền có phần lấn át. Từ góc độ bình đẳng giới, cả hai
chế độ phụ quyền và mẫu quyền đều có vấn đề. Chúng ta đang từng bước xóa
bỏ các chế độ này để tiến đến một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phụ
nữ ngày càng có vị thế và vai trò quan trọng trong xã hội hơn. Ở những xã hội
văn minh, tiến bộ thì nữ giới ngày càng được coi trọng và được tạo điều kiện
phát huy vai trò giới của mình, song ở những xã hội đang phát triển hoặc kém
phát triển, vai trò và sự đối xử với nữ giới vẫn là một vấn đề nóng bỏng cần
nữ giới. Cả trong các ngành nghề lao động nặng nhọc thì ngoài lực lượng
chính là nam giới vẫn có nữ giới tham gia, còn đối với các ngành dệt, may
mặc thì dù có cơ cấu nam giới tham gia nhưng lực lượng chính lại là nữ giới.
Tuy nhiên, xét trên bình diện chung, do vai trò của nam giới là nguồn tạo ra
thu nhập chính cho gia đình và có sức khỏe tốt nên trong xã hội tư bản, nam
giới vẫn là lực lượng sản xuất chính của xã hội. Trong xã hội hiện đại ngày
nay, mặc dù nữ giới tham gia ngày càng phổ biến trong cơ cấu lao động
nhưng nam giới vẫn đóng vai trò chính trong phân công lao động xã hội.
Thứ ba, về sức khỏe, giữa nam giới và nữ giới có những sự khác biệt
nhau. Sức khỏe của nam giới thường tốt hơn nữ giới ở khía cạnh sức mạnh, sự
bền bỉ và khả năng phục hồi. Sức khỏe của con người nói chung được hình
thành từ chính con người và quy định bởi các yếu tố môi trường, nuôi dưỡng,
tập quán xã hội… và đặc biệt là yếu tố bẩm sinh, di truyền. Các yếu tố thuộc
về bẩm sinh, di truyền của nam giới là có hệ xương lớn, thích hợp cho những
cộng việc nặng nhọc, trong khi với nữ giới, do có hệ xương nhỏ hơn nên thích
hợp với nhiệm vụ tái sản xuất xã hội, bao gồm trách nhiệm sinh đẻ và chăm
sóc con trẻ là của phụ nữ. Ở đây tính di truyền về thể chất chính là một trong
yếu tố tác động đến việc giữ vai trò của mỗi giới trong xã hội.
17
Trong các yếu tố nêu trên, cũng cần so sánh mỗi giới về mặt thời gian
sử dụng sức và việc tái sản xuất sức khỏe. Đối với nữ giới tham gia lao động
như nam giới, ngoài thời gian làm việc như nam giới, họ phải cáng đáng thêm
các công việc gia đình dẫn đến việc vắt kiệt sức của họ trong các hoạt động
lao động và sinh hoạt hàng ngày. Không chỉ vậy, các công việc gia đình
thường rất vất vả, ngay cả những phụ nữ không tham gia lao động sản xuất
mà chỉ thực hiện các công việc gia đình cũng đã tương đối vất vả do thời gian
lao động kéo dài từ sáng sớm cho đến đêm khuya chứ không phải là chỉ tám