quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay - Pdf 33

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua một thế kỷ, dân tộc ta chìm trong chế độ nô lệ. Nhân dân ta
sống trong cuộc đời lầm than khổ nhục bởi áp bức, đè nén và bóc lột của thực
dân và nữa phong kiến. Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân
tộc. Con đường cách mạng mà Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn dẫn đến Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời và Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành chính quyền
lập nên Nhà nước dân chủ kiểu mới. Ngay những ngày đầu khó khăn ấy, bản
luận cương chính trị của Đảng đã nêu khẩu hiệu: “Người cày có ruộng” cùng
với “ nam nữ bình đẳng”. Người phụ nữ Việt Nam đổi đời toàn diện cả về vật
chất và tinh thần. Vị thế xã hội và chính trị của người phụ nữ từng bước được
nâng lên. Tài năng và nhân phẩm được tôn trọng và phát huy.
Ở thời kỳ hòa bình, xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo di huấn của Bác
Hồ, Đảng ta khởi xướng chủ trương đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập
quốc tế. Phụ nữ Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào lực lượng sản xuất nói
chung và nền kinh tế tri thức nói riêng, góp phần làm tăng trưởng kinh tế và
thay đổi diện mạo đất nước.
Từ đó đến nay, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm trong các văn kiện
qua các kỳ Đại hội. Nghị quyết đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
chỉ rõ:
Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật
chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ
thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ,
người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ
tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan
lãnh đạo và quản lý ở các cấp. Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ,
trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo
hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ. Kiên quyết đấu tranh


năm nạn nhân chết do bạo hành gia đình lên đến hàng trăm. Ngoài ra, còn có


3
cả những qui phạm pháp luật được ban hành với mục đích ban đầu nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ nhưng thực tế tác động của nó
mang lại cho phụ nữ không ít bất công, thiệt thòi như chế độ học phí, chế độ
nghỉ thai sản… Bên cạnh đó, một số chế tài pháp luật chưa nghiêm đối với
những hành vi vi phạm quyền, nhân phẩm phụ nữ, quyền trẻ em… Do đó,
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới là rất cần thiết.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài này là rất quan trọng, nhằm đưa ra những
quan điểm, giải pháp về vấn đề này góp phần giúp các cơ quan, tổ chức cá
nhân trong và ngoài nước quan tâm hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về
bình đẳng giới, khắc phục những bất cập, tồn tại trong việc xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về bình đẳng giới trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bình đẳng giới là một trong những nội dung quan trọng nhất của mục
tiêu tiến bộ, công bằng xã hội. Bởi đây không chỉ là vấn đề nhận được sự
quan tâm chung của cộng đồng thế giới mà còn xuất phát từ đặc điểm Việt
Nam là một nước Châu Á, những hậu quả nặng nề của “trọng nam khinh nữ”
của chế độ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nhiều trong cuộc sống xã hội.
Ngày nay, phụ nữ chiếm hơn một nữa dân số cả nước, đang ngày càng
khẳng định vị trí, vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Vì vậy, bình đẳng giới luôn là nguyên tắc Hiến định trong pháp
luật nước ta: Điều 63 Hiến pháp 1992 qui định “công dân nữ và nam có quyền
ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình",
“nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ. Xúc phạm nhân phẩm
phụ nữ…”. Vấn đề bình đẳng giới càng có ý nghĩa quan trọng khi nước ta
đang bước vào giai đoạn mới của tiến trình đổi mới, khi chúng ta thực hiện
mục tiêu mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Vì vậy, việc

sản khoa học, mã số: 5.01.03, năm 2002; Đổ Thị Thơm: “Hoàn thiện pháp
luật về quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay”, chuyên ngành Lý luận và lịch sử
Nhà nước và pháp luật, mã số: 60.38.01, năm 2004; Đặng Thị Ánh Tuyết:
“Bình đẳng giới ở nông thôn miền núi phía Bắc hiện nay”, Chuyên ngành Xã
hội học, mã số: 60.31.30; Hoàng Mai Hương: “Hoàn thiện pháp luật về


5
quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”, Chuyên ngành Lý luận và
lịch sử Nhà nước và pháp luật, mã số: 60.38.01; Cao Quốc Việt: “Hoàn thiện
pháp luật phòng chống mua, bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam hiện nay”,
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, mã số: 60.38.01,
năm 2006; Nguyễn Thanh Sơn: “Hoàn thiện pháp luật về phòng chống tệ nạn
xã hội ở Việt Nam hiện nay”, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và
pháp luật, mã số: 60.38.01, năm 2006; và nhiều bài viết đăng trên các tạp chí có
liên quan.
Những công trình nêu trên chỉ mới đề cập một số khía cạnh này hoặc
khía cạnh khác liên quan đến bình đẳng giới và pháp luật về quyền của phụ
nữ. Trong đó đáng chú ý là công trình của Lương Phan Cừ mới chỉ nghiên
cứu chủ yếu về hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới. Công
trình này xuất bản năm 2004, đến nay thực trạng pháp luật về bình đẳng
giới đã có nhiều thay đổi. Vì vậy, đây là công trình mới nghiên cứu có hệ
thống về thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về
bình đẳng giới.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất quan điểm và giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bình đẳng giới, hoàn thiện pháp luật về

Mác-Lênin;
Đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể như: thống kê, so sánh,
phân tích, tổng hợp;
Phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn


7
Từ trước đến nay đã có một số tác giả bước bước đầu đã nghiên cứu
về pháp luật về bình đẳng giới, song những tác giả này chỉ mới đề cập một số
khía cạnh này hoặc khía cạnh khác. Vì vậy, đây là công trình mới nghiên cứu
có hệ thống lý luận thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện
pháp luật về bình đẳng giới. Những đóng góp của luận văn thể hiện tập trung
ở các nội dung sau đây:
- Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các quan điểm, tác giả đưa ra quan
điểm của mình về khái niệm giới, bình đẳng giới, khái niệm pháp luật về bình
đẳng giới, tiêu chí hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới.
- Phân tích, nhận xét, đánh gía khái quát thực trạng pháp lụât về bình
đẳng giới.
- Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bình đẳng
giới ở Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo, vận dụng trong quá
trình xây dựng và hòan thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện
nay. Ngoài ra, những kết quả của luận văn có thể được vận dụng làm tài liệu
nghiên cứu về bình đẳng giới và xây dựng pháp luật về bình đẳng giới trong
giai đoạn hội nhập quốc tế. Đồng thời luận văn góp phần hệ thống hóa pháp
lụât về bình đẳng giới.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

công việc quản lý xã hội trong thời kỳ đổi mới đất nước ta. Thời gian gần đây,
vấn đề giới đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các cấp, các


9
ngành và các lĩnh vực khác nhau. Nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết về
giới cũng như việc vận dụng lý thuyết giới vào thực tiễn đang tăng lên không
chỉ ở những nơi triển khai các dự án về giới, xây dựng luận chứng, lập kế
hoạch và soạn thảo chính sách kinh tế - xã hội liên quan tới giới mà còn cả
những cơ sở nghiên cứu khoa học và đào tạo về giới trên toàn quốc.
Khái niệm giới, tuy mới được nói tới từ những năm 80 của thế kỷ XX,
nhưng bản chất vấn đề giới và nội dung các quan điểm về giới thực ra đã
được nói đến từ lâu trong lịch sử thế giới mà chủ yếu liên quan tới vấn đề phụ
nữ và sự bình đẳng nam - nữ. Mối quan hệ giữa nam giới và phụ nữ, sự giống
nhau và khác nhau giữa hai giới, sự bình đẳng giữa hai giới… là vấn đề có từ
xưa, từ khi loài người bắt đầu xuất hiện trên trái đất. Tuy nhiên, cho đến ngày
nay đó vẫn còn là vấn đề thời sự đang được bàn luận sôi nổi và nghiêm túc.
1.1.1.1. Khái niệm giới
Theo quan niệm của nhiều nhà khoa học, Giới và giới tính là hai khái
niệm cặp đôi, liên quan chặt chẽ nhau. Trong đó tiếng Anh giới là GENDER
và giới tính là SEX. Do đó, để hiểu khái niệm giới, trước hết cần hiểu khái
niệm giới tính.
Giới tính là một khaí niệm khoa học ra đời từ môn sinh vật học chỉ sự
khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. sự khác biệt này chủ yếu liên quan
đến quá trình tái sản xuất con người, di truyền nòi giống. Con người sinh ra
đã có những đặc điểm về giới tính. Ví dụ: chỉ phụ nữ mới có khả năng mang
thai và sinh con, hoặc chỉ nam giới mới có khả năng sản xuất tinh trùng cho
quá trình thụ thai.
Giới là khái niệm ra đời từ môn xã hội học, chỉ sự khác biệt giữa nam
và nữ về mặt xã hội. Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi

hội mong đợi ở nữ giới và nam giới trong xã hội hay một nền văn hoá cụ thể.
Đó là mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới: ai làm gì, ai là người ra quyết
định, tiếp cận nguồn lực và các lợi ích.
Vai trò giới được chia làm ba nhóm cơ bản: vai trò sản xuất; vai trò tái
sản xuất và vai trò cộng đồng.


11
Vai trò sản xuất, thực hiện những hoạt động bao gồm sản xuất hàng
hoá và dịch vụ để tiêu dùng và trao đổi thương mại như làm ruộng, đánh cá,
thuê mướng hoặc tự sử dụng lao động. những hoạt động này được trả công và
tạo ra thu nhập, cả nam và nữ có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất,
nhưng nhìn chung các chức năng và trách nhiệm của họ cũng khác nhau do sự
phân công lao động theo giới truyền thống. Những việc do phụ nữ làm thường
được đánh giá thấp hơn nam giới.
Vai trò tái sản xuất, là thực hiện các hoạt động tái sản xuất ra con
người và sức lao động bao gồm sinh con, các công việc chăm sóc gia đình
như nuôi dạy và chăm sóc trẻ con, chuẩn bị thức ăn, giữ gìn nhà cửa, dọn dẹp,
giặt giũ, chăm sóc sức khoẻ gia đình… những công việc này được gọi là công
việc tái sản xuất là thiết yếu đối với đời sống con người, đảm bảo sự bền vững
của dân số và lực lượng lao động. Công việc này tiêu tốn nhiều thời gian
nhưng không tạo ra thu nhập, vì vậy ít khi được coi là công việc thật sự, được
làm miễn phí, không được các nhà kinh tế đưa vào các con tính. Đại đa số,
công việc tái sản xuất là trách nhiệm của phụ nữ và trẻ em gái.
Vai trò cộng đồng, thực hiện những hoạt động bao gồm một tổ hợp các
sự kiện xã hội và dịch vụ như hoà giải mâu thuẩn, các nghi lễ (đám tang, đám
cuới, liên hoan, cúng đình …), các hoạt động thúc đẩy cộng đồng, các hoạt
động chính trị ở địa phương… Công việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng
trong việc phát triển văn hoá tinh thần của cộng đồng. Có lúc nó đòi hỏi sự
tham gia tình nguyện, tiêu tốn thời gian và không nhìn thấy ngay được. Có lúc

bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử liên quan đến giới và bạo hành về giới…Trên
thực tế, phụ nữ Việt Nam vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn sau:
Về mặt xã hội, quan niệm “trọng nam khinh nữ” tồn tại ở nhiều nơi trên
cả nước, đặc biệt là vùng nông thôn, tác động mạnh đến chất lượng cuộc sống
bởi tình trạng đói nghèo và phát triển kinh tế chậm ở nông thôn. Đây là những
định kiến về giới và sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ và phần nào dẫn đến
tình trạng thiếu cơ hội cho phụ nữ, địa vị thấp kém của phụ nữ và thậm chí cả
bạo lực đối với phụ nữ. Đây là sự thách thức trong cuộc chiến của toàn xã hội


13
để cải thiện mối quan hệ về giới, đảm bảo công bằng giới và thực hiện việc
trao quyền cho phụ nữ.
Trong lĩnh vực giáo dục, theo Luật Giáo dục Việt Nam, phụ nữ và trẻ
em gái được tiếp cận công bằng với các cơ hội học tập và thực tế là hiện nay
số lượng trẻ em gái theo học bậc tiểu học, trung học cơ sở đã bằng và gần
bằng số trẻ em trai. Tuy nhiên, vẫn còn có sự cách biệt về sồ lượng học sinh
nữ và nam ở bậc học đại học. Bậc học càng cao, càng có ít học sinh nữ. Trẻ
em gái và phụ nữ thường có ít thời gian cho việc học hơn là trẻ em trai và
nam giới, vì họ phải dành nhiều thời gian cho việc nội trợ và một phần vì các
quan niệm truyền thống, họ có ít cơ hội đi học hơn các anh em trai của mình.
Đặc biệt, nếu gia đình phải đối mặt với những khó khăn về tài chính, trẻ em
gái và phụ nữ phải bỏ học trước để kiếm tiền hổ trợ gia đình. Trong các hoạt
động kinh tế, hiện nay phụ nữ Việt Nam phải đối mặt với những thách thức
mới như khả năng cạnh tranh thấp kém của lao động nữ, ít sơ hội việc làm
hơn (đặc biệt là những công việc có thu nhập cao), nguy cơ mất việc cao hơn
so với nam giới.
Trong lĩnh vực gia đình, nam giới thường đưa ra quyết định cuối cùng
về sản xuất, đầu tư, kinh doanh, phân bổ nguồn lực gia đình, hướng phát triển
của gia đình và định hướng cho con cái…Vai trò của phụ nữ trong việc đưa ra

người cơ bản của mình và bất bình đẳng giới cũng là nguyên nhân của nạn đói
nghèo, cản trở công cuộc giảm nghèo cũng như quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế-xã hội bền vững.
1.1.1.3. Bình đẳng giới
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm
giống và khác nhau giữa nam giới và nữ giới, biểu đạt sự đối xử như nhau
của xã hội đối với nam giới và nữ giới, là trạng thái xã hội trong đó nam giới
và nữ giới có vị trí như nhau, có các cơ hội như nhau để phát triển đầy đủ
tiềm năng của mình, sử dụng nó cho sự phát triển của xã hội và được hưởng
lợi từ kết quả của sự phát triển đó.


15
Thực chất bình đẳng giới chính là nữ giới và nam giới cùng có điều
kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của
mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn
lực của xã hội và quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống
bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội.
Bình đẳng giới không chỉ đơn giản là nam giới và phụ nữ hay em trai
và em gái có số lượng tham gia như nhau trong mọi hoạt động mà bình đẳng
giới có nghĩa là nam giới và nữ giới được hưởng các vị thế xã hội ngang nhau.
Bình đẳng giới không có nghĩa là nam giới và nữ giới là giống nhau mà có
nghĩa là sự tương đồng và khác biệt của họ được thừa nhận và được coi trọng
như nhau; có nghĩa là nam giới và nữ giới được tạo những điều kiện ngang nhau
để phát huy đầy đủ các tiềm năng của bản thân và có cơ hội để tham gia đóng
góp và hưởng lợi như nhau từ các hoạt động phát triển của cộng đồng trên mọi
mặt kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội; điều quan trọng, bình đẳng giới có
nghĩa là nam giới và nữ giới được thụ hưởng các thành quả một cách bình đẳng.
Cần phân tích rõ vị trí, vai trò và tác dụng của bình đẳng giới trong xây
dựng con người và phát triển kinh tế-xã hội, để ngày càng quan tâm hơn, nhận

phụ nữ đang thiệt thòi, đang có vị trí thấp kém so với nam giới do nhiều
nguyên nhân khác nhau bắt nguồn từ đời sống xã hội, nhằm đáp ứng yêu cầu
của công cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam và góp phần thúc đẩy
công cuộc đầu tranh cho bình đẳng giới trên thế giới.
Phụ nữ với tư cách là công dân cũng có đầy đủ những quyền như công
dân. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân lịch sử, xã hội và văn hoá, trên thực tế,
những định kiến coi thường phụ nữ vẫn còn ảnh hưởng nặng nề trong đời
sống xã hội. Hiến pháp và pháp luật ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ và phụ
nữ cũng có những quyền như nam giới, nhưng do những định kiến của xã hội
nên phụ nữ còn gặp nhiều trở ngại, khó khăn khi tham gia vào các hoạt động
chính trị, hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động xã hội. Chính vì vậy,
ngoài những qui định chung về quyền con người, quyền công dân, pháp luật


17
còn có quy định riêng dành cho phụ nữ, đảm bảo cho phụ nữ có đủ điều kiện
phát triển bắt kịp nam giới (xuất phát điểm của phụ nữ rất thấp so với nam giới)
Như vậy, phụ nữ hoàn toàn có quyền tự do thực hiện quyền bình đẳng
của mình cùng với nam giới. Nhưng việc thực hiện quyền đó chỉ có hiệu lực
và hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật và phù hợp với pháp
luật. Do định kiến coi thường phụ nữ còn nặng nề nên để bảo đảm cho phụ nữ
thực hiện được quyền bình đẳng của mình trong thực tế, Nhà nước phải ban
hành nhiều qui định trong pháp luật, trong đó có cả những chế tài nghiêm
khắc xử lý những hành vi vi phạm quyền bình đẳng của phụ nữ. Như vậy,
pháp luật không chỉ ghi nhận, cụ thể hoá quyền bình đẳng của phụ nữ mà còn
qui định những thiết chế bảo đảm thực hiện những quyền đó trên thực tế.
Từ những phân tích trên, có thể khái niệm pháp luật về bình đẳng giới
như sau:
Pháp luật về bình đẳng giới là hệ thống các qui phạm pháp luật do nhà
nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về quyền bình đẳng của

gia đình.
Cùng làm việc như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với
nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên
chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương [39].
Những qui định như vậy, đã hình thành nên một hệ thống các qui phạm pháp
luật qui định trực tiếp quyền bình đẳng nói chung và các quyền khác của phụ nữ.
- Thứ hai, pháp luật về quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới là
tổng hợp nhiều qui phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Nhiệm vụ của pháp luật là xác lập cơ sở pháp lý và tạo cơ sở để bảo vệ
quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới. Vịêc xác lập và bảo vệ quyền bình
đẳng của phụ nữ không chỉ được qui định tại Hiến pháp mà còn được qui định
trong nhiều văn bản qui phạm pháp luật khác nhau như: Luật Bầu cử đại biểu
Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Bộ luật Dân sự, Bộ luật
Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Khiếu nại tố cáo, Bộ luật Lao động, Luật


19
Bình đẳng giới…Đặc biệt, trong những văn bản pháp luật này đều có những qui
định riêng về quyền của phụ nữ nhằm mục đích bảo vệ và bảo đảm việc thực
hiện quyền bình đẳng của phụ nữ. Ngoài hệ thống quyền con người thống nhất,
việc thực hiện quyền này là cơ sở là tiền đề cho việc bảo đảm thực hiện các
quyền khác. Chính vì vậy, việc bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ
không chỉ căn cứ vào những qui phạm pháp luật riêng qui định về quyền bình
đẳng của phụ nữ, mà còn liên quan đến nhiều qui phạm pháp luật thuộc các lĩnh
vực khác nhau. Nói cách khác, pháp luật về bình đẳng giới là tổng hợp của nhiều
qui phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm bảo vệ và bảo đảm quyền
bình đẳng của phụ nữ với nam giới được thực hiện có hiệu quả trên thực tế.
- Thứ ba, pháp luật về bình đẳng giới là sự kết hợp hài hoà giữa các
qui phạm pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Thúc đẫy và bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới không

định vị trí và vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa
đất nước. Vì vậy, bình đẳng giới ở Việt nam hiện nay đã trở thành một chế
định quan trọng và là nguyên tắc Hiến định trong hệ thống pháp luật nước ta,
là cơ sở để thể chế hoá trong các văn bản pháp luật, từ cao nhất là Hiến pháp,
đến các luật chuyên ngành. Trong các bản Hiến pháp nước ta qua các thời kỳ
lịch sử, nội dung bình đẳng giới đã được mở rộng một cách toàn diện hơn
đồng thời nhiều nội dung được cụ thể hoá trong các văn bản qui phạm pháp
luật dưới Hiến pháp như: Bộ luật Dân sự năm 2005; Bộ luật Lao động năm
1994 sửa đổi, bổ sung 2002; Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997; Luật
giáo dục năm 1998; Bộ luật Hình sự năm 1999; Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 và hàng trăm văn bản khác. Vấn đề bình đẳng giới, càng có ý nghĩa
quan trọng khi nước ta đang bước vào giai đoạn mới của tiến trình đổi mới,
khi chúng ta thực hiện mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực.
Nói đến nội dung của pháp luật về bình đẳng giới là đề cập đến các qui
phạm pháp luật cụ thể hướng đến mục tiêu xác lập và bảo vệ năng lực và tư


21
cách pháp lý bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội cụ thể gồm những lĩnh vực cơ bản sau:
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao và
y tế
- Bình đẳng giới trong gia đình [21].
Nhìn từ hệ thống pháp luật quốc tế, những nội dung liên quan trực tiếp,
gián tiếp đến bình đẳng giới có thể thấy trong nhiều văn bản, trong đó tiêu

Phù hợp với tinh thần chung của các Công ước quốc tế Việt Nam tham
gia ký kết, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam có những qui định xác lập quyền
bình đẳng của phụ nữ và nam giới trong việc tham gia xây dựng và thực hiện
các chính sách của Nhà nước, tham gia các chức vụ của nhà nước và thực
hiện chức năng công cộng ở mọi cấp. Cụ thể, Hiến pháp 1992 sửa đổi nêu rõ:
“ công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo
luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà
nước…” (Điều 53).
Như vậy, quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới có một cơ sở pháp
lý khá đầy đủ và toàn diện, từ việc xác lập đến bảo vệ bằng pháp luật. Pháp
luật Việt Nam có những qui định riêng, nhưng đồng thời cũng rất hài hòa với
pháp luật quốc tế trong việc khẳng định quyền bình đẳng của phụ nữ, đây là
quyền quan trọng cần được bảo vệ trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối
xử cùng với trách nhiệm quốc gia và cả cộng đồng quốc tế, vì dân chủ và sự
tiến bộ của phụ nữ.
Nhìn tổng thể, nhiều nội dung bình đẳng giới đã được qui định khá chi
tiết, phong phú trong các văn bản qui phạm pháp luật ở nước ta, đồng thời
Việt Nam được đánh gía là một trong những quốc gia có chính sách bình đẳng
giới tiến bộ so với nhiều quốc gia trên thế giới. Chính sách của Đảng và pháp


23
luật của Nhà nước vừa tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ vươn lên, vừa đòi hỏi
phụ nữ phải năng động, linh hoạt hơn trong việc nâng cao trình độ chuyên
môn, làm chủ kỹ thuật hiện đại tham gia tích cực vào hoạt động sản xuất và
xây dựng xã hội, đổi mới đất nước. Tuy nhiên, các nội dung của pháp luật về
bình đẳng giới đưa ra chủ yếu còn mang tính cục bộ, rải rác thiếu tính hệ
thống theo một nguyên tắc chung. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra
chưa được rà soát kỹ, như việc đánh giá lại các văn bản pháp luật hiện hành,
trên cơ sở phân tích một cách đầy đủ những chính sách liên quan về giới để có

Đại hội IX của Đảng công sản Việt Nam v.v…Mọi văn bản đều nhất quán
một quan điểm “thực hiện tốt chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, bồi
dưỡng đào tạo nghề nghiệp, nâng cao trình độ học vấn, có cơ chế chính sách
để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở
các cấp…” [15, tr.126].
Tư tưởng trên đã trở thành nguyên tắc chung và được thể chế hoá trong
Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Hay nói cách khác, pháp luật làm cho
các chính sách có hiệu lực thực thi và bắt buộc chung trên qui mô toàn xã hội.
Pháp luật bình đẳng giới còn là phương tiện để Đảng kiểm tra đường lối chính
sách của mình về bình đẳng giới và về quyền của phụ nữ trong thực tiễn đời
sống xã hội. Ngay từ khi ra đời, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam
Châu Á đã ghi nhận trong pháp luật quyền của phụ nữ và nam giới. Tuy
nhiên, một thực tế không thể không thừa nhận là pháp luật của chúng ta chưa
thể chế đầy đủ, cụ thể và thiếu những thiết chế đảm bảo thực hiện trên thực tế
đường lối chủ trương chính sách của Đảng về bình đẳng giới nói chung về
quyền phụ nữ nói riêng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực
hiện bình đẳng giới trên thực tế.
- Thứ hai, pháp lụât bình đẳng giới ở Việt Nam tạo cơ sở pháp lý đấu
tranh thực hiện bình đẳng giới giữa phụ nữ và nam giới trên các lĩnh vực của
đời sống xã hội.


25
Với chức năng là công cụ để nhà nước quản lý, bảo vệ các gía trị xã hội
và bảo đảm công bằng xã hội, pháp luật có vai trò đặt biệt quan trọng trong
việc xác lập và bảo vệ các quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới. Pháp
luật là hệ thống các qui định trong đó nêu ra các qui tắc xử sự chung cho phép
hoặc bắt buộc tất cả các chủ thể pháp luật. Hay nói cách khác, tất cả các chủ
thể pháp luật gồm các cơ quan nhà nước; mọi cán bộ, công chức, viên chức;
các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị-xã hội; các tổ chức xã hội; các tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status