Xây dựng ý thức pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25



TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LA THỊ QUẾ

XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. HOÀNG VĂN TÚ
Hà Nội - 2013

MỤC LỤC
Lời cam đoan
Trang
Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU 1

hội, mỗi đất nước 80
3.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới giai đoạn hiện nay
…………………………………………………………………………82
3.2. Phƣơng hƣớng xây dựng ý thức pháp luật bình đẳng giới ở Việt Nam 85
3.2.1. Nâng cao ý thức pháp luật bình đẳng giới toàn dân lấy việc thay đổi nhận
thức truyền thống về bình đẳng giới làm cơ sở 85
3.2.2. Chú trọng nâng cao ý thức pháp luật bằng việc tổ chức thực hiện pháp
luật bình đẳng giới thông qua các chương trình, kế hoạch cụ thể 86
3.2.3. Phổ cập kiến thức pháp luật và chú trọng nâng cao ý thức pháp luật thực
hiện nghiêm túc bình đẳng giới 91
3.2.4. Ý thức pháp luật từ việc nâng cao hiệu quả công tác thực hiện lồng ghép
giới…………………………………………………………………………….93
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng ý thức pháp luật về bình đẳng
giới ở Việt Nam hiện nay 95
3.3.1. Giải pháp xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật phù hợp với
mục tiêu bình đẳng giới nhằm thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng
giới…………………………………………………………………………….95
3.3.2. Giải pháp đẩy mạnh và đa dạng hóa các loại hình tuyên truyền phổ biến
giáo dục pháp luật cho người dân về bình đẳng giới; Hướng dẫn thực hiện
thông tin, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới có hiệu quả, thiết thực và phù
hợp với từng địa phương, đối tượng cụ thể 99
3.3.3. Giải pháp kiện toàn đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới từ trung
ương đến địa phương, cơ sở 102
3.3.4. Giải pháp cần tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế (đa phương, song
phương) trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và vì sự phát triển của phụ nữ
nói riêng…………………………………………………………………… 104

3.3.5. Giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp
luật về bình đẳng giới. Bổ sung kiến thức về giới và bình đẳng giới, nâng cao
năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác này 106

Trang
1
2.1
Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa I - XII
43
2
2.4
Thu nhập bình quân/ tháng (nghìn đồng) của lao động
làm công ăn lương 6 tháng đầu năm 2011
58
1 MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng giới là vấn đề quan tâm của hầu hết các quốc gia và được xác
định là 1 trong 8 mục tiêu Thiên niên kỷ của toàn cầu. Đồng thời bình đẳng
giới cũng được quan tâm trong các chương trình, dự án phát triển hợp tác song
phương và đa phương giữa các quốc gia, sở dĩ cần phải thực hiện bình đẳng
giới vì bình đẳng giới bảo đảm cho quyền con người, quyền và nghĩa vụ công
dân của nam và nữ được thực hiện đầy đủ; đảm bảo không tồn tại bất cứ sự
phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp nào đối với nam hoặc nữ tạo nên sự
không công bằng và làm hạn chế sự phát triển, sự đóng góp tích cực của nam,
nữ vào quá trình phát triển; xoá bỏ khoảng cách giới thực tế trên tất cả các lĩnh
vực; thúc đẩy quá trình phát triển bền vững kinh tế - xã hội, xoá đói giảm
nghèo; giúp trẻ em gái và phụ nữ có địa vị bình đẳng, có cơ hội và điều kiện
tham gia học tập, bồi dưỡng đầy đủ, tích luỹ kiến thức về mọi mặt như trẻ em
trai và nam giới; phát huy hết tiềm năng và hưởng lợi từ thành quả của sự phát
triển gia đình và đất nước.

Việt Nam hiện nay”, luận văn tập trung tìm hiểu các công trình, đề tài, tài liệu
đã được công bố về giới, bình đẳng giới, các đề tài, bài viết có liên quan đến ý
thức pháp luật bình đẳng giới và vấn đề thực hiện pháp luật bình đẳng giới
trong một số lĩnh vực:
- Luận án tiến sĩ: “Thực hiện pháp luật bình đẳng giới ở Việt Nam” của Trần
Thị Quốc Khánh năm 2012 đã nghiên cứu xây dựng những cơ sở lý luận và thực
tiễn về thực hiện pháp luật bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay. Phân tích đặc
điểm của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam và các yếu tố ảnh
hưởng. Đưa ra một số quan điểm và giải pháp thực hiện pháp luật về bình đẳng
giới ở Việt Nam hiện nay.
- Luận án tiến sĩ:

“Bất bình đẳng giới trong thu nhập theo khu vực ở Việt
Nam” của Amy Y.C.Liu năm 2004 nghiên cứu các nhân tố tác động bất bình
đẳng giới về thu nhập theo khu vực ở Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra vai trò
nhân lực nữ trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Bên cạnh
những tác động tích cực thì người phụ nữ cũng phải đối mặt với những áp lực
công việc trong gia đình và xã hội, những bất bình đẳng có tính truyền thống
đang tồn tại ở nhiều gia đình, nhiều vùng miền trên phạm vi cả nước.
3 - Đề tài cấp Nhà nước: “Nâng cao năng lực của cán bộ nữ trong hệ thống
chính trị” của tác giả Nguyễn Đức Hạt làm chủ nhiệm đề tài năm 2004 đã góp
phần làm sáng tỏ những luận cứ khoa học, thực tiễn về việc nâng cao vị trí, vai
trò, năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ, tăng cường sự tham gia lãnh đạo, quản lý
trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay. Đây là vấn đề quan trọng giúp luận
văn đánh giá đúng thực trạng, nguyên nhân, đề xuất giải pháp nhắm tăng
cường ý thức pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
- Đề tài cấp Bộ: “Những vấn đề lý luận cơ bản về giới và kinh nghiệm giải

hướng nghiên cứu chính của Việt Nam trong những năm tới; “Vấn đề bình
đẳng giới trên thế giới” của Nguyễn Thị Hồi trên Tạp chí Luật học năm 2005
đã cung cấp những có sở lý luận về bình đẳng giới, đồng thời có sự đánh giá
một cách toàn diện thực tế việc thực hiện bình đẳng giới trên thế giới qua đó có
sự so sánh với thực tiễn ở Việt Nam.
Có thể nói, nhìn chung những nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu vấn đề
bình đẳng giới ở nhiều góc cạnh khác nhau nhưng chưa công trình, tài liệu nào
đề cập tập trung vào vấn đề xây dựng ý thức pháp luật bình đẳng giới một cách
hệ thống về mặt lý luận cũng như thực tiễn và đưa ra những giải pháp cần thiết
cho vấn đề này. Các công trình nói trên chính là những tài liệu tham khảo bổ
ích cho tác giả khi viết luận văn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu nền tảng lý luận và thực trạng thực hiện ý thức
pháp luật bình đẳng giới làm căn cứ tác giả đề xuất những giải pháp xây dựng
ý thức pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
Một là: Phân tích làm rõ cơ sở lý luận ý thức pháp luật nói chung trong đó có
pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam. Cụ thể làm rõ các khái niệm về “ý
thức pháp luật”, “giới”, “bình đẳng giới” đồng thời đưa ra khái niệm “ý thức
pháp luật bình đẳng giới”, các tiêu chí đánh giá bình đẳng giới, khẳng định vai
trò ý thức pháp luật bình đẳng giới trong công tác thực hiện bình đẳng giới
hiện nay.
5 Hai là: Phân tích, đánh giá thực trạng ý thức pháp luật về bình đẳng giới Việt
Nam hiện nay. Làm rõ những kết quả đạt được, chỉ rõ các hạn chế và những
nguyên nhân có tác động đến ý thức pháp luật bình đẳng giới.

6. Những đóng góp mới của đề tài
Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, ra đời trong quá trình
phản ánh, khái quát hiện thực khách quan từ góc nhìn pháp luật. Mặc dù là cái
bị quy định bởi tồn tại xã hội, nhưng trong quá trình vận động, biến đổi và phát
triển, ý thức pháp luật có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của tồn tại xã
hội. Thực tiễn phát triển của các quốc gia trên thế giới đã chứng minh rằng,
quá trình phát triển xã hội dựa vào luật pháp - sản phẩm của ý thức pháp luật -
luôn mang lại những kết quả thiết thực và rất có ý nghĩa.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học của tập thể và cá nhân,
các bài viết từ trước đến nay về ý thức pháp luật đã có những đóng góp quan
trọng về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, có thể nói cho đến nay chưa có một
công trình luận án, luận văn nào nghiên cứu về việc xây dựng ý thức pháp luật
trong việc thực hiện bình đẳng giới một cách hệ thống về mặt lý luận cũng như
thực tiễn đồng thời đưa ra những giải pháp cần thiết cụ thể cho vấn đề này.
Luận văn chỉ ra ba điểm mới sau:
- Lần đầu tiên tiến hành nghiên cứu lĩnh vực ý thức pháp luật về bình
đẳng giới ở Việt Nam.
- Xây dựng cơ sở lý luận về ý thức pháp luật bình đẳng giới trong đó xây
dựng các tiêu chí đánh giá ý thức pháp luật bình đẳng giới, chỉ rõ vai trò ý thức
pháp luật bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, có sự liên hệ với một số nước
khác nhằm nhìn nhận vấn đề ý thức pháp luật bình đẳng giới một cách khách
quan. Từ đó đánh giá thực trạng bình đẳng giới hiện nay những kết quả đạt
được, những bất cập, hạn chế và nguyên nhân.
- Đưa ra các phương hướng và giải pháp trong việc xây dựng ý thức pháp
luật bình đẳng giới Việt Nam hiện nay.
Tóm lại, luận văn góp phần vào việc nhận thức rõ ý thức pháp luật bình
đẳng giới hiện nay để từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức
hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước.
7


xã hội, ý thức pháp luật là một hiện tượng phong phú và đa dạng và phức tạp.
Theo Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật (Nhà xuất bản Tư pháp):
“Ý thức pháp luật là tổng hợp những quan điểm, quan niệm, tư tưởng thịnh
hành trong xã hội về pháp luật, là thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con
người đối với pháp luật cũng như đối với hành vi pháp luật của các chủ thể
trong xã hội” [53, tr70].
Như vậy có thể hiểu ý thức pháp luật chính là tổng thể các quan niệm,
quan điểm của con người về pháp luật. Đó là những quan niệm, quan điểm, tư
tưởng về nguồn gốc, bản chất, chức năng, hình thức, vai trò, giá trị xã hội của
pháp luật…Ý thức pháp luật cũng được hiểu là thái độ, tình cảm, sự đánh giá
của con người đối với pháp luật. Chẳng hạn người ta cho rằng pháp luật của
một nhà nước công bằng hay không, phản ánh đúng đắn, đầy đủ ý chí, nguyện
vọng của nhân dân hay đi ngược lại lợi ích của nhân dân… ta hoàn toàn có thể
xác định được trên cơ sở, hình thành thái độ tôn trọng hay coi thường pháp
luật, quan tâm sâu sắc hay thờ ơ lãnh đạm đối với các quy định pháp luật. Ý
thức pháp luật còn được hiểu là thái độ, sự đánh giá đối với hành vi pháp luật
của chủ thể khác. Ở góc độ này, ý thức pháp luật thể hiện sự đồng tình, khuyến
khích hay phê phán, lên án, cũng có khi đó là sự không quan tâm, thậm chí là
lảng tránh trước một hành vi pháp luật nào đó.
9 Theo giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật (NXB Đại học
Quốc gia): “Ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, học giả, quan điểm,
thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người về pháp luật trên các phương
tiện, tiêu chí cơ bản như: Sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò, chức
năng của pháp luật, tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không
đúng đắn của các quy định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá
khứ, pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong các
hành vi của cá nhân, nhà nước, các tổ chức xã hội” [18, tr30].

cá nhân. Đó chính là tri thức pháp luật của cá nhân cũng như ý chí, xúc cảm,
tình cảm của họ đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý thực tiễn. Sự hình
thành và phát triển của ý thức pháp luật cá nhân chính là quá trình con người
nhận thức, tích lũy những kiến thức về pháp luật và các hiện tượng pháp lý
khác. Tri thức pháp luật của mỗi cá nhân không chỉ là sự hiểu biết về hệ thống
pháp luật thực định của nhà nước mà còn thể hiện ở các tri thức khoa học về
pháp luật của họ. Trên cơ sở hiểu biết pháp luật, ở mỗi người hình thành tình
cảm, thái độ, sự đánh giá của mình đối với pháp luật. Mỗi cá nhân có sự cảm
nhận về pháp luật một cách khác nhau, vì vậy thái độ, tình cảm, sự đánh giá
của họ về pháp luật cũng khác nhau. Thái độ, tình cảm pháp luật được biểu
hiện thông qua hành vi của chủ thể. Một chủ thể được coi là có sự tôn trọng
pháp luật khi các xử sự của họ đều phù hợp với các quy định của pháp luật,
theo đúng yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật. Hiểu biết pháp luật, thái độ, tình cảm
của mỗi người về pháp luật là cơ sở cho sự đánh giá của họ về một xử sự theo
pháp luật của chủ thể khác. Cùng một hành vi pháp luật của một chủ thể trong
xã hội có thể được đánh giá ở nhiều bình diện, nhiều khía cạnh khác nhau, do
vậy nội dung các ý kiến đánh giá cũng khác nhau. Có thể nói, ý thức pháp luật
cá nhân luôn bị chi phối bởi các lập trường giai cấp, hệ tư tưởng thịnh hành
trong xã hội, truyền thống dân tộc, điều kiện, hoàn cảnh sống.
1.1.2. Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật
1.1.2.1. Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật với hoạt động xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật
Xây dựng pháp luật là một quá trình hoạt động phức tạp, gồm nhiều giai
đoạn khác nhau, từ việc nhận thức thực trạng của đời sống, nhận thức nhu cầu
11 điều chỉnh bằng pháp luật, đến việc khái quát hóa những quan hệ xã hội đang
tồn tại thành các quy tắc xử sụ cụ thể. Như vậy, đời sống xã hội trước hết được
phản ánh ý thức pháp luật, rồi sau đó mới được thể hiện thành các quy định cụ

Dưới góc độ cụ thể hơn, ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng định hướng
xây dựng các quy định cụ thể. Xác định rõ quan điểm, mục đích là những yêu
cầu trước tiên của hoạt động xây dựng pháp luật. Khi xây dựng các quy định
cụ thể các nhà làm luật cũng phải lưu ý đến sự tác động qua lại giữa quy định
được xây dựng với kinh tế, chính trị, đạo đức, truyền thống, tập quán… Để xây
dựng được các quy định pháp luật có chất lượng đòi hỏi các nhà làm luật cần
phải nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật trong lịch sử cũng
như các nước khác trên thế giới. Điều này chỉ có thể có kết quả tích cực khi
nhà làm luật có ý thức pháp luật cao.
Vai trò của ý thức pháp luật đối với hoạt động xây dựng pháp luật còn
thể hiện rất rõ trong kỹ thuật lập pháp. Một quy định cụ thể của pháp luật được
xây dựng một cách rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, một nghĩa, đối tượng phải thi
hành dễ hiểu, hiểu đúng yêu cầu,… phụ thuộc rất lớn vào kỹ thuật thể hiện nó.
Đó chính là kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ pháp lý, kỹ thuật trình bày quy phạm
pháp luật, kỹ thuật sử dụng hình thức văn bản pháp luật, kỹ thuật liên kết các
quy phạm pháp luật để tạo thành một chỉnh thể. Tất cả những yếu tố này đều
phụ thuộc vào trình độ kiến thức pháp lý, ý thức pháp luật của nhà làm luật.
1.1.2.2. Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật đối với việc thực hiện pháp luật
Có thể nói, hiểu biết pháp luật, thái độ, tình cảm đúng đắn đối với pháp
luật khiến các chủ thể thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, ngược lại,
không hiểu biết pháp luật, có ác cảm với pháp luật, mất lòng tin vào pháp luật
và các cơ quan pháp luật chính là nguyên nhân quan trọng dẫn đến các chủ thể
vi phạm pháp luật. Như vậy, ý thức pháp luật là nhân tố quan trọng thúc đẩy
việc thực hiện pháp luật trong đời sống.
Việc thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh trước hết phụ thuộc vào
sự hiểu biết của chủ thể. Nhận thức được đầy đủ các quy định của pháp luật
13 chính là tiền đề quan trọng để hành vi của chủ thể phù hợp với các yêu cầu, đòi

Chính vì vậy, đòi hỏi nhà chức trách phải hiểu biết một cách đầy đủ, chính xác nội
dung các quy định trong pháp luật phân tích và làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của
chúng đối với từng trường hợp cần áp dụng. Đồng thời, họ cũng phải nắm vững
những tình tiết của trường hợp cần áp dụng, thấu hiểu thực chất của sự việc đó, linh
hoạt, nhạy bén, sáng tạo trong mọi trường hợp có như vậy mới áp dụng đúng đắn
pháp luật. Vai trò ý thức pháp luật càng thể hiện rõ trong trường hợp khi có vụ việc
xảy ra trong thực tế có liên quan đến lợi ích của các cá nhân, tổ chức cần được giải
quyết bằng pháp luật những lại không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều
chỉnh vụ việc đó. Trong trường hợp này đòi hỏi các nhà chức trách có thẩm quyền
phải hết sức sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luật tương tự.
1.1.2.3. Sự tác động của pháp luật và các hiện tƣợng pháp lý khác đối với ý
thức pháp luật
Pháp luật chịu sự tác động của ý thức pháp luật, nhưng ngược lại nó cũng tác
động đến việc hình thành và biến đổi của ý thức pháp luật. Không chỉ pháp luật với
tích cách là hệ thống các quy tắc xử sự mà tất cả các yếu tố của đời sống pháp lý
đều tác động mạnh mẽ đến ý thức pháp luật. Sự tác động của pháp luật và các yếu
tố khác trong đời sống pháp lý đến ý thức pháp luật có thể là tích cực và có thể là
tiêu cực.
Pháp luật và đời sống pháp lý là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức
pháp luật. Tri thức pháp luật bao giờ cũng xuất phát từ thực tiễn đời sống pháp lý
và do thực tiễn quy định. Chính yêu cầu của đời sống pháp lý đã buộc con người có
những tri thức nhất định về pháp luật, đồng thời nhờ tham gia vào đời sống pháp lý
mà con người dần dần tích lũy được các tri thức pháp luật. Thông qua thực tiễn sử
dụng pháp luật con người làm cho pháp luật bộc lộ những thuộc tính để nhận thức
nó, tích lũy những tri thức về nó. Có thể nói, chính qua thực tiễn đời sống pháp luật
mà con người đúc rút ra các tri thức về bản chất, đặc trưng, vai trò, các mối liên hệ,
khả năng điều chỉnh của pháp luật. Mặt khác, thực tiễn đời sống pháp luật cũng là
tiêu chuẩn khẳng định tính đúng đắn, khoa học của các tri thức pháp luật. Pháp luật
chính là sự thể chế hóa quan niệm, quan điểm, tư tưởng pháp luật, là kênh truyền
15

hội cụ thể, hay nói cách khác, giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới
trong quan hệ xã hội” [22, tr71]. Ngoài ra trong cuốn “ Xã hội học về giới và
16 phát triển” - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội năm 2000 của hai tác giả
Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mĩ Lộc thì: “Giới dùng để chỉ các đặc điểm, vị trí,
vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ. Hay nói cách khác, giới là khái
niệm dùng để chỉ những đặc trưng xã hội của nam và nữ” [24, tr6]. Như vậy, tuy
các khái niệm trên có sự khác nhau về câu chữ trong cách diễn đạt nhưng nói
chung, theo quan điểm xã hội học các tác giả đều cho rằng giới là khái niệm dùng
để chỉ sự khác biệt của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội. Người phụ nữ
hoặc nam giới mang đặc điểm giới tính là do được dạy dỗ, thường là từ khi còn
nhỏ. Đứa trẻ phải học để làm con trai hoặc làm con gái. Ví dụ: Con trai phải mạnh
mẽ không được khóc, không được chơi búp bê, không được mặc váy; con gái
không được trèo cây mà phải biết nấu cơm, bế em. Nguyên nhân của việc phụ nữ
thường làm nội trợ không phải vì họ là phụ nữ mà vì họ được dạy bảo để làm
những việc đó khi còn là đứa trẻ. Các quan niệm, khuôn mẫu về giới như vậy
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy, quan niệm về giới do xã
hội tạo ra chứ không phải do tự nhiên sinh ra.
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, để thể hiện sự khác biệt về vị thế xã
hội, vị thế trong các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, khái niệm “đàn
bà”, “đàn ông”, “trai”, “gái”, “nam”, “nữ” , “phụ nữ”, “nam giới” đã được sử
dụng trong các bản Hiến pháp cũng như nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Lần đầu tiên khái niệm “Giới” được qui định tại Khoản 1 Điều 5 Luật Bình
đẳng giới 2006: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả
các mối quan hệ xã hội”.
Có thể thấy khái niệm giới chịu sự tác động bởi điều kiện và môi trường
sống của cá nhân, được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế bắt
chước, giáo dục. Giới có thể thay đổi dưới tác động của các yếu tố bên trong

vai trò trong một quan hệ xã hội cụ thể. Ví dụ, trong gia đình phụ nữ thường
đảm nhận công việc nội trợ nhưng nam giới cũng có thể giặt giũ, chăm sóc con
cái và nấu ăn ; ngoài xã hội phụ nữ thường đóng vai trò là cấp dưới và là
người thừa hành nhưng phụ nữ cũng có thể giữ các vị trí quan trọng như chủ
tịch nước hay chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc.
Quan niệm về bình đẳng giới hiện nay
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, các thuật ngữ “bình đẳng nam nữ”,
“nam nữ bình quyền” đã được sử dụng trong các văn bản pháp luật để thể hiện
18 sự bình đẳng về địa vị pháp lý của nam nữ trong các quan hệ pháp luật cụ thể.
Tuy nhiên việc nam nữ bình đẳng về địa vị pháp lý không bao hàm sự bình
đẳng của nam và nữ trong tất cả các quan hệ xã hội. Để đạt được điều này cần
có một thuật ngữ pháp lý mới: “bình đẳng giới”. Và thuật ngữ này lần đầu tiên
được quy định tại Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới, theo đó bình đẳng giới
được hiểu “là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và
cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia
đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
Bình đẳng giới là mục tiêu và thước đo tiến độ phát triển của một xã hội.
Sự bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều phương diện, cụ thể như: nữ và nam
có điều kiện ngang nhau để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong
muốn của mình; nữ và nam có cơ hội ngang nhau để tham gia, đóng góp và thụ
hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển; nữ và nam có các
quyền lợi ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Như vậy, bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng của phụ nữ và
nam giới, hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động là
như nhau, cũng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình
đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế
ngang nhau trong xã hội. Đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status