MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
ĐỀ TÀI 3
1. Một số vấn đề cơ bản về ngoại thương 3
1.1.Khái niệm 3
1.2.Chức năng chung của ngoại thương 3
1.3.Vai trò của ngoại thương 3
1.4.Vấn đề phát triển thương mại xuất nhập khẩu 3
1.5.Các tiêu chí củ yếu phản ánh nội dung của phát triển TM XNK 3
1.6.Một số tiêu chí và chi tiêu đánh giá sự phát triển TM XNK trong thực tiễn: 4
1.7.Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại xuất nhập khẩu 5
2. Đặc điểm, vai trò của ngoại thương và lợi thế so sánh của Việt Nam trong Thương Mại quốc tế 5
2.1.Đặc điểm của ngoại thương Việt Nam 5
2.2.Vai trò của ngoại thương trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam 6
2.2.1.Vai trò xuất khẩu 6
2.2.2.Vai trò nhập khẩu 8
2.3 Lợi thế của Việt Nam trong TMQT 9
2.4 Những bất lợi của Việt Nam trong TMQT 10
3. Thực trạng phát triển ngoại thương VN từ năm 1986 đến nay 11
3.1.Tổng kim ngạch ( hoặc tổng giá trị ) XNK 11
3.2. Kim Ngạch (hoặc tổng trị giá) Xuất khẩu 14
3.3.Kim Ngạch (hoặc tổng trị giá) Nhập Khẩu từ 1986 đến nay 16
3.4.Chỉ tiêu khác ( về tốc độ, tỷ trọng XNK, hàng hóa, dịch vụ) 23
4.Chính sách Quản lý XNK của VN giai đoạn 2006- 2010 25
- Chính sách xuất khẩu: 25
- Chính sách nhập khẩu 30
5. Quan điểm và định hướng chiến lược phát triển XNK VN theo hướng phát triển bền vững giai đoạn
2011-2020 31
5.1.Quan điểm cơ bản 31
5.2.Mục tiêu chung về xuất khẩu 32
5.3.Mục tiêu xuất khẩu cụ thể 32
ngừng kết quả hoạt động ngoại thương bao gồm cả sản lượng và trị giá xuất khẩu,
nhập khẩu, sự thay đổi cơ cấu xuất nhập khẩu và cách thức sử dụng nhân lực theo
hướng tối ưu nhằm nâng cao chất lượn, hiệu quả tăng trưởng ngoại thương trong một
thời kỳ nhất định.
1.5.Các tiêu chí củ yếu phản ánh nội dung của phát triển TM XNK
Tăng trưởng về kết quả sản lượng và giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
3
- Cải thiện hoặc nâng cao chất lượng, kết quả ngoại thương ( tốc độ tăng trưởng
hợp lý, ổn định liên tục về xuất nhập khẩu; cơ cấu (tỷ trọng) xuất nhập khẩu
theo hướng tối tưu dựa vào đánh giá sử dụng các nhân lực và lợi thế so sánh
hợp lý; tính hệ quả của hoạt động xuất nhập khẩu )
- Các tiêu chí khác
Mức độ cải thiện cán cân thương mại, góp phần thay đổi cán cân
thanh toán quốc gia
Tỷ lệ đóng góp của thương mại xuất nhập khẩu đối với với tăng
trưởng GDP và giải quyết việc làm, thu nhập và cải thiện môi
trường.
o Mức độ hội nhập hay chỉ số đo mở nền kinh tế : (KN) xuất nhập
khẩu/GDP
o Mức đọ hay chỉ số cạnh tranh quốc tế về xuất khẩu của quốc gia
- RCA= XK sản phầm quốc gia/ Tổng TM quốc gia : xK sptg/ Tổng TMtg
1.6.Một số tiêu chí và chi tiêu đánh giá sự phát triển TM XNK trong thực tiễn:
Tiêu chí về tăng trưởng sản lượng (quy mô):
- Gia tăng sản lượng xuất khẩu, nhập khẩu ( những sản phẩm thiết yếu)
- Gia tăng giá trị ( kim ngạch , doanh thu), xuất nhập khẩu, xuất khẩu và nhập
khẩu
- Tiêu chí về thay đổi cơ cấu thương mại, thị trường , thị phần gồm các tiêu chí
số lượng tương đối ( %)
- Thay đổi tỷ trọng sản lượng và giá trị từng nhóm sản phẩm xuất khẩu ( thiết
yếu)
hóa, đa dạng hóa.
- Gia tăng về kim ngạch và tốc độ phát triển, khả năng cạnh tranh có tiến triển
nhưng còn kém so với các đối thủ.
- Cán cân thương mại có xu hướng vẫn gia tăng nhập khẩu, cải thiện nhập siêu
chậm.
- Cơ cấu hàng hóa và thị trường xuất khẩu còn mất cân đối, thiếu ổn định vững
chắc.
- Chất lượng sản phẩm xuất khẩu có cải thiện nhưng còn thấp so với yêu cầu, tiêu
chuẩn khu vực và thế giới.
- Chính sách thay thế hàng nhập khẩu, định hướng tập trung xuất khẩu và khai
thác nhiều lợi thế tài nguyên và lao động dồi dào giá rẻ được sử dụng phổ biến.
5
Sự thay đổi mô hình tăng trưởng còn chậm so với yêu cầu hội nhập và phát
triển bền vững.
2.2.Vai trò của ngoại thương trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
2.2.1.Vai trò xuất khẩu
Xuất khẩu hàng hóa không chỉ đơn giản là bán hàng hóa ra nước ngoài, xuất
khẩu có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển nền kinh tế đất nước, tham gia
sâu rộng vào quá trình phân công, hợp tác quốc tế. Tầm quan trọng của xuất khẩu thể
hiện qua các vai trò sau:
- Thứ nhất: xuất khẩu tạo ra nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nhập
khẩu và tích lũy, đầu tư phát triển sản xuất.
- Thứ hai: đẩy mạnh xuất khẩu được xem như là yếu tố quan trọng kích thích sự
tăng trưởng kinh tế, việc đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản
xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu gây phản ứng dây
chuyền giúp các ngành kinh tế khác phát triển theo, kết quả là tăng tổng sản
phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả.
- Thứ ba: xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản
xuất, để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách, chất lượng
sản phẩm thì một mặt phải đối mới trang thiết bị phục vụ sản xuất, mặt khác,
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương. Nhập khẩu tác động
một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước.
Trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế nước ta hiện nay, vai trò quan trọng của nhập
khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Thứ nhất: tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa đất nước.
- Thứ hai: bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, những thiếu
hụt “ đầu vào” sản xuất trong nước, đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn
định.
- Thứ ba: kích thích phát triển các ngành kinh tế mới, thúc đẩy chuyển giao công
nghệ, kinh nghiệm quản lý mới.
8
- Thứ tư: tăng nguồn hàng cho thị trường nội địa để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp
của con người về hàng tiêu dùng, góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của
người dân.
- Thứ năm: thúc đẩy giao lưu, buôn bán quốc tế với các nước đối tác thương mại
của Việt Nam theo cam kết mở cửa thị trường nội địa.
Hiện nay, nước ta đang thực hiện chính sách nhập khẩu nguyên liệu, bán thành
phẩm để đầu tư sản xuất tại chỗ, chế biến một số sản phẩm công nghệ cao trong nước
đối với một số loại hàng hóa như: nguyên liệu phụ kiện ngành dệt may, da giày, chất
dẻo nguyên liệu, linh kiện điện tử, linh kiện xe máy…
Lấy ví dụ về hai loại nguyên phụ kiện được nhập khẩu nhiều nhất:
- Đối với nguyên phụ kiện dệt may: mặc dù nguyên liệu là đủ đáp ứng nhưng
doanh nghiệp lại khá dè dặt trong việc dùng nguyên liệu nội địa bởi chất lượng
không ổn định, giá cả, thuế chưa rõ ràng. Riêng quý I năm 2011, nước ta đã
nhập khẩu 1,4 tỉ USD vải, giày da nhập 632 triệu.
- Đối với mặt hàng máy móc thiết bị, dụng cụ và linh kiện thì mức độ nhập khẩu
cao hơn so với xuất khẩu.
Tóm lại, nhập khẩu những hàng hóa, dịch vụ trong nước còn thiếu hoặc chưa
xuất được vẫn là định hướng ưu tiên trong quá trình mở cửa thị trường và hội nhập
khẩu và phát triển thủy lời, vận tải biển và du lịch.
+ Về khoáng sản: Dầu mỏ hiện nay là nguồn tài nguyên mang lại nguồn thù
ngoại đáng kể, sản lượng khai thác hàng năm gia tăng và thu hút nhiều vốn đầu tư
nước ngoài. Than đá có trữ lượng cao, khoảng 36 tỷ tấn, mỏ sắt là vài trăm triệu tấn, cả
ba miền đều có nguồn clanh-ke để sản xuất xi măng dồi dào.
- Lợi thế về lao động :Dân số nước ta khoảng trên 86 triệu người ( tháng 4 năm 2009),
trong đó có hơn 40 triệu đang trong độ tuổi lao động. Lao động dồi dào, nhân công giá
rẻ là một lợi thế cơ ản để phát triển các ngành hàng sử dụng nhiều lao động như dệt
may, chế biến nông thủy sản, lắp ráp điện tử,… Lao động Việt Nam cần cù, thân thiện,
nếu được đào tạo bài bản sẽ là lợi thế cho ngành sử dụng nhiều vốn, kỹ thuật và chất
xám.
- Lợi thế khác :Chính trị ổn định, nhà nước quan tâm và có chính sách khuyến khích
phát triển ngoại thương, nền văn hóa đa dạng bản sắc các dân tộc.
2.4 Những bất lợi của Việt Nam trong TMQT
- Diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người của nước ta thấp so với bình
quân của thế giới, chỉ khoảng 0,1 ha/ người. Không thể tạo ra một nguồn tích lũy lớn
về lương thực để đáp ứng những đòi hỏi cao hơn của sự phát triển kinh tế.
10
- Về tài nguyên: Tuy phong phú nhưng phân bố tản mạn. Giao thông vận tải
kém nên khó khai thác , trữ lượng tài nguyên chưa xác định và chưa khoáng sản nào
có trữ lượng lớn để trở thành mặt hàng chiến lược. Tài nguyên thiên nhiên thì bị khai
thác quá mức mà không được chú trọng bồi dưỡng.
- Vị trí địa lý : Đẹp nhưng cơ sở hạ tầng yếu kém, các hải cảng ít và nhỏ, đường
và phương tiện giao thông lạc hậu.
- Trình độ quản lý kinh tế, xã hội còn yếu kém, bộ máy chính quyền hoạt động
chưa hiệu quả,còn quan lieu, tham nhũng lớn, chính sách, pháp luật vẫn thiểu minh
bạch, đồng bộ và ổn định, gây cản trở cho quá trình đổi mới kinh tế.
- Công nghệ và trang thiết bị của nhiều ngành kinh tế Việt Nam còn ở trình độ
thấp, hàng hóa Việt Nam tính cạnh tranh còn yếu trên thị trường quốc tế.
3. Thực trạng phát triển ngoại thương VN từ năm 1986 đến nay
Tháng 01/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại
thế giới (WTO) tạo cơ hội cho hàng hoá Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới
phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, đồng thời cũng tạo điều kiện cho hàng hoá
12
Năm
Tổng xuất
nhập khẩu
1986
2.944
1987
3.309
1988
3.795
1989
4.512
1990
5.156
1991
4.425
1992
5.122
1993
6.909
1994
9.880
1995
13.604
các nước thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Tính đến hết ngày 1/12/2007 tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt con số 100 tỷ USD.
Bốn năm sau đó, năm 2011 mặc dù chịu tác động của khủng hoảng và suy thoái
1991 2.087,1
1992 2.580,7
1993 2.985,2
1994 4.054,3
1995 5.448,9
1996 7.255,8
1997 8.850,0
1998 9.352,0
1999 11.523,0
2000 14.308,0
2001 15.027,0
2002 16.530,0
Giai đoạn 1996- 2002: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu tiếp tục tăng
bình quân 21,3%/năm và 13,3% năm. Mặc dù giai đoạn 2001 - 2002, tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu có giảm, chỉ đạt bình quân 7,5% nhưng sang năm 2003 đã có dấu
hiệu phục hồi, tăng trưởng vượt qua mức 10%/năm.
Từ năm 2002 tình hình xuất khẩu Việt Nam khá phát triển và cho đến nay vào giai
đoạn 2011- 2013 thi xuất khẩu lại là điểm sang trong tang trưởng kinh tế.
Trong điều kiện nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, kinh tế thế giới suy giảm và cạnh
tranh ngày càng khốc liệt, đã ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù
14
vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2011 đạt 96,91 tỷ USD, gấp 122,8 lần
năm 1986 và 6,7 lần năm 2000.
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đạt kết quả cao
(cả quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch). Khu vực DN có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI), năm 2011 đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 44 tỷ USD (không kể
dầu thô) chiếm tỷ trọng 46,3% tổng kim ngạch của cả nước và tăng 28,9% so với năm
2010. Năm 2011, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đều hoàn thành so với kế hoạch đề
ra. Đặc biệt, năm 2011 nước ta xuất khẩu gạo đạt 7,105 triệu tấn, thu về 3,651 tỷ USD,
thị trường xuất khẩu nông sản được mở rộng và giá cả thế giới tăng cao.
1994 9.880 4.054 5.826
1995 13.604 5.449 8.155
1996 18.399 7.256 11.143
1997 19.907 8.756 11.151
1998 20.818 9.324 11.494
1999 23.143 11.520 11.622
2000 30.084 14.449 15.635
2001 31.190 15.027 16.162
2002 36.439 16.706 19.733
2003 45.403 20.176 25.227
2004 58.458 26.504 31.954
2005 69.420 32.442 36.978
2006 84.717 39.826 44.891
Nguồn: Tổng cục thống kê
− Giai đoạn 2006 -2010
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tăng mạnh trong thời kỳ 2006-2010, đặc biệt trong
2 năm đầu khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO. Kim ngạch hàng hóa nhập
khẩu đạt bình quân 68,5 tỷ USD/năm trong thời kỳ này, bằng 2,6 lần thời kỳ 5 năm
trước và tăng bình quân 18%/năm. Đáng chú ý là nhập khẩu của khu vực FDI tăng
cao, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu, thường chiếm trên
34%.
Cơ cấu hàng nhập khẩu trọng tâm là tư liệu, nguyên liệu cho sản xuất do sản xuất
trong nước phát triển khá, đặc biệt là sản xuất hàng xuất khẩu nhưng vẫn phụ thuộc
hàng nhập khẩu là chủ yếu, cụ thể là: Nhập khẩu xăng dầu bình quân giai đoạn 2006-
2010 tăng 2,7%/năm và tăng 19,7% so với giai đoạn trước. Sắt thép nhập khẩu bình
quân tăng 15,7%/năm và tăng 71% so với giai đoạn trước. Vải nhập khẩu bình quân
16
tăng 16,8%/năm và tăng 140% so với giai đoạn trước. Linh kiện điện tử nhập khẩu
bình quân tăng 25,8% năm và tăng 226,3% so với giai đoạn trước. Nhập khẩu ô tô
nguyên chiếc giai đoạn 2006-2010 tăng 174% so với giai đoạn trước.
điện tử và linh kiện đạt 13,1 tỷ USD, tăng 67% về số tương đối và tăng 5,26 tỷ USD
về số tuyệt đối so với năm 2011.
Khối các DN FDI nhập khẩu gần 11,58 tỷ USD, tăng 78% và khối các DN trong
nước nhập khẩu 1,53 tỷ USD, tăng 4,1%; nhóm điện thoại các loại và linh kiện đạt
5,04 tỷ USD, tăng 85,3% so với năm 2011; nhóm xăng dầu các loại, tổng lượng xăng
dầu nhập khẩu của cả nước là 9,2 triệu tấn, giảm 13,8% so với năm 2011 với trị giá
gần 8,96 tỷ USD, giảm 9,3%; nhóm ô tô nguyên chiếc, lượng nhập khẩu ô tô nguyên
chiếc của cả nước là 27,4 nghìn chiếc, giảm mạnh 49,8% so với năm 2011. Nhóm
hàng nguyên liệu, phụ liệu ngành dệt may, da, giày: trong năm 2012 đạt gần 12,49 tỷ
USD, tăng 1,8% so với năm 2011.
Như vậy, năm 2012 tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt 113,79 tỷ USD,
tăng 6,6% so với năm 2011. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước năm 2012 đạt
gần 228,37 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm 2011, trong đó xuất khẩu đạt 114,57 tỷ
USD, tăng 18,2% và nhập khẩu là 113,79 tỷ USD, tăng 6,6%. Như vậy, năm 2012 Việt
Nam xuất siêu 780 triệu USD với tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu là -0,7%.
- Năm 2013
Nhập khẩu hàng hóa trong năm 2013 đạt 132,13 tỷ USD, tăng 16,1% so với 1 năm
trước đó, tương ứng tăng18,3 tỷ USD. Trong năm 2013, cả nước có 26 nhóm hàng
18
nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD với tổng kim ngạch gần 110,6 tỷ USD, chiếm
83,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Dẫn đầu kim ngạch nhập khẩu của cả nước trong năm 2013 là mặt hàng máy móc,
thiết bị dụng cụ và phụ tùng với trị giá gần 18,7 tỷ USD, tăng 16,5% so với năm 2012;
tiếp theo là mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 17,7 tỷ USD, tăng
16,5% so với 1 năm trước đó. Tổng trị giá nhập khẩu của hai mặt hàng này chiếm 28%
tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước trong năm 2013 và đóng góp gần hơn 7,2 tỷ
USD vào tăng nhập khẩu.
Ở ngưỡng từ 5-10 tỷ USD có 5 mặt hàng bao gồm: Vải các loại (đạt 8,4 tỷ USD,
tăng 19,3% so với năm 2012); điện thoại các loại và linh kiện (đạt 8,05 tỷ USD, tăng
59,6% so với năm 2012); xăng dầu các loại (đạt gần 7 tỷ USD, giảm mạnh 22% so với
Tính đến hết tháng 02/2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước đạt
41,4 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2013; trong đó xuất khẩu gần 21,3 tỷ
USD, tăng 13,8% và nhập khẩu hơn 20 tỷ USD, tăng 12,6%. Cán cân thương mại
hàng hoá của cả nước trong 2 tháng/2013 thặng dư 1,3 tỷ USD.
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại từ tháng
1/2013 đến tháng 2/2014
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Đối với khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tổng trị giá
hàng hóa xuất nhập khẩu trong 2 tháng/2014 là 24,8 tỷ USD, tăng 18,8% và chiếm
60% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Trong đó, xuất khẩu đạt gần 13,3 tỷ
USD, tăng 18,8% và nhập khẩu là 11,5 tỷ USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước.
Đối với khối doanh nghiệp trong nước, tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu
trong 2 tháng/2013 là 16,4 tỷ USD, tăng 8,5% và chiếm 39% tổng kim ngạch xuất
20
nhập khẩu của cả nước. Trong đó, xuất khẩu đạt hơn 7,9 tỷ USD, tăng 6,8% và nhập
khẩu là gần 8,5 tỷ USD, tăng 10,1% so với 2 tháng/2013.
Một số mặt hàng nhập khẩu chính
- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: Trong tháng, kim ngạch nhập khẩu
nhóm hàng này là 1,5 tỷ USD,giảm 7,7% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch
nhập khẩu 2 tháng năm 2014 lên gần 3,1 tỷ USD, tăng mạnh 30,2% so với cùng kỳ
2013. Trong đó, khu vực FDI nhập khẩu 1,8 tỷ USD, tăng 31,6% và các doanh nghiệp
trong nước nhập khẩu 1,2 tỷ USD, tăng 28,1% so với 2 tháng năm 2013.
Nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu vào Việt Nam trong 2
tháng đầu năm 2013 có xuất xứ chủ yếu từ: Trung Quốc với gần 1 tỷ USD, tăng 22,3%
so với cùng kỳ năm trước và chiếm 32% tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả
nước. Tiếp theo là Nhật Bản: 530 triệu USD, tăng 34,9%; Hàn Quốc: 494 triệu USD,
tăng mạnh 39,5 %; Đài Loan: 141,9 triệu USD, tăng 40,9% ….
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: trong tháng 02/2014, kim
ngạch nhập khẩu đạt gần 1,26 tỷUSD, tăng 1,3% so với tháng trước, nâng tổng trị giá
tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 2 tháng qua, Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu từ các thị trường:
Hàn Quốc: 91 nghìn tấn,giảm 8,2%; Ả rập Xê út: gần 105 nghìn tấn, giảm 10,8%; Đài
Loan: 66,8 nghìn tấn, tăng 15,9%; Thái Lan: 46 nghìn tấn, tăng 2,3%;… so với cùng
kỳ năm 2013.
- Nhóm hàng nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày: tháng 02/2014, nhập khẩu
nhóm hàng này là gần 1,1 tỷ USD, tăng mạnh 55,6% so với tháng trước. Tính đến
hết 2 tháng/2014, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này là 2,16 tỷUSD, tăng 18,1% so với
cùng kỳ năm 2013. Trong 2 tháng/2014, Việt Nam nhập khẩu nhóm mặt hàng này chủ
yếu từ: Trung Quốc với gần 776 triệu USD, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm 2013; Hàn
Quốc: 383,5 triệu USD, tăng 18,4%; Đài Loan: 290 triệu USD, tăng 11,8%;…
22
- Hóa chất: trong tháng 02/2014, Việt Nam nhập khẩu 247,5 triệu USD nhóm
hàng hóa chất, tăng 9,8% so với tháng trước, nâng tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng
này trong 2 tháng/2014 lên gần 473triệu USD, tăng 18,8% so với 2 tháng/2013.
Việt Nam nhập khẩu hóa chất trong 2 tháng qua chủ yếu từ các thị trường: Trung
Quốc: 118 triệu USD, tăng 0,6%; Đài Loan: 80,3 triệu USD, giảm 22,7%; Hàn Quốc:
49 triệu USD, giảm 29,3%; Nhật Bản: 39 triệu USD, tăng 23,6%;… so với 2
tháng/2013.
- Sản phẩm từ chất dẻo: trong tháng 02/2014, cả nước nhập khẩu hơn 231 triệu
USD, tăng 11,5% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 02/2014, tổng trị giá nhập
khẩu nhóm hàng này của cả nước là 439,5 triệu USD, tăng31,3% so với cùng kỳ năm
2013.
Trong 2 tháng qua, Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu từ các thị
trường: Hàn Quốc: 114 triệu USD,tăng 69,2%; Trung Quốc: 106 triệu USD,
tăng 30,4%; Nhật Bản: 99 triệu USD, tăng 11,07%; Đài Loan: 30triệu USD,
tăng25,02%; …
- Thức ăn gia súc và nguyên liệu: trị giá nhập khẩu của mặt hàng này trong tháng
2/2014 là 238 triệu USD, tăng 17,4% so với tháng 1/2014. Tính đến hết tháng 2 năm
2014, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 439 triệu thức ăn gia súc và nguyên liệu, tăng
2010, tổng kim ngạch xuất khẩu lại tiếp tục tăng trưởng, ước tính đạt 71,6 tỷ USD,
tăng 25,5% so với năm 2009.
Một tác động gián tiếp của Tổ chức Thương mại thế giới là sự thay đổi tích cực
hơn trong cơ cấu xuất khẩu. Cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch dần từ sản phẩm thô (dầu
mỏ, than đá, cao su, gạo) sang sản phẩm công nghiệp chế biến, kể cả sản phẩm có hàm
lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn. Điều đó chứng tỏ Việt Nam bước đầu đã
ít nhiều phát huy được lợi thế động, bên cạnh việc tiếp tục tận dụng những lợi thế tĩnh
vốn có của mình.
Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm xuất khẩu dễ bị tổn thương trước
biến động từ bên ngoài như các cú sốc giá cả hay sự xuất hiện rào cản thương mại
mới. Điều này một phần do chủng loại mặt hàng xuất khẩu còn nghèo nàn, tập trung
vào một số ít hàng xuất khẩu chủ lực, thiếu đột phá, danh mục các mặt hàng xuất khẩu
chính gần như không có nhiều thay đổi trong vòng 6 năm gần đây. Tỷ trọng kim ngạch
các mặt hàng quan trọng nhất trong xuất khẩu chỉ giảm từ 80,8% năm 2004 và 79,5%
năm 2006 xuống 76,7%, 73,0% và 68,8% trong 3 năm tiếp theo. Nếu bỏ dầu thô ra
khỏi nhóm các mặt hàng xuất khẩu chính thì tỷ trọng các mặt hàng khác trong tổng
24
kim ngạch xuất khẩu gần như không đổi. Năm 2004, tỷ trọng các mặt hàng này là
59,3% thì năm 2007, 2008 và 2009 lần lượt là 59,2%, 56,4% và 57,8%.
Một tác động được dự đoán từ trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới là sự gia tăng nhập khẩu và nhập siêu. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng
hóa năm 2007 đạt 62,8 tỷ USD (giá CIF), tăng 39,8% so với năm 2006; nhập siêu 14,2
tỷ USD. Nhập khẩu và nhập siêu năm 2008 tương ứng là 80,7 tỷ USD và 18,0 tỷ USD.
Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất trong các tháng cuối năm 2008 giảm mạnh còn do suy
thoái kinh tế thế giới đã có ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư và sản xuất ở Việt Nam và
giá cả trên thị trường thế giới. Các ảnh hưởng này còn kéo dài đến qua năm 2009.
Nhập khẩu và nhập siêu năm 2009 tương ứng là gần 70 tỷ USD và 12,9 tỷ USD, năm
2010 là 84 tỷ USD và 12,4 tỷ USD
Việt Nam nhập siêu chủ yếu từ các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Hàn
Quốc và ASEAN (là các quốc gia mà Việt Nam đã ký kết Hiệp định thương mại tự