LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Thế Giới, việc xuất
khẩu của các quốc gia có vai trò rất quan trọng. Việc hội nhập kinh tế quốc tế
đối với Việt Nam ngày càng quan trọng và cần thiết bởi nước ta vẫn là nước
đang phát triển, có hội nhập thì chúng ta mới phát triển được.
Với những điều kiện hết sức thuận lợi như nước ta hiện nay, việc phát
triển xuất khẩu các mặt hàng nông sản đang là một xu hướng tất yếu để góp
phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu và sự phát triển của nền kinh tế, nhất là
khi chúng ta đã là thành viên chính thức của tổ chức Thương Mại Thế Giới
(WTO).
Việc gia nhập WTO tạo nhiều thuận lợi cho việc xuất khẩu các mặt hàng
của Việt Nam nói chung và hàng nông sản nói riêng nhưng cũng đặt ra nhiều
thách thức cho chúng ta.
Để có thể tận dụng hết lợi thế, cơ hội và vượt qua những thách thức, thì
Việt Nam phải có những hướng đi đúng đắn và có biện pháp thích hợp.
Ý thức được điều này, trong quá trình thực tập tại Viện Chính Sách và
Chiến Lược Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn, và sự giúp đở của GS.TS
Đặng Đình Đào, em đã lựa chọn đề tài: Phương hướng và giải pháp phát
triển xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong hội nhập WTO.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đở của GS.TS Đặng Đình Đào và
Viện Chính Sách và Chiến Lược Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn đã giúp
đở em hoàn thành đề tài này.
1
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG
SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP WTO
1. Hàng nông sản và vai trò của xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
1.1. Khái niệm hàng nông sản
Hàng nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp. Nếu hiểu theo nghĩa
hẹp thì nông nghiệp chỉ có ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ trong nông
nghịêp. Theo nghĩa rộng thì nó còn bao gồm cả ngành lâm nghịêp và thủy
thay đổi về thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây
trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Vì vậy hàng nông
sản dễ bị hư hỏng, kém phẩm chất.
Tính không ổn định: Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp phụ thuộc
nhiều vào khí hậu, thời tiết nên sản phẩm hàng nông sản không ổn định, lên
xuốn thất thường, có nơi được mùa nhưng cũng có nơi mất mùa, chất lượng
hàng nông sản không đồng đều.
Các mặt hàng nông sản như: Gạo, cà phê, cao su, điều…là những hàng
hoá thiết yếu đối với đời sống và sản xuất của mỗi quốc gia, cho nên đa số các
nước trên thế giới đều trực tiếp hoạch định các chính sách can thiệp vào sản
xuất, xuất khẩu lương thực và nước nào cũng chú trọng chính sách dự trữ
3
quốc gia và bảo hộ nông nghiệp. Mặt hàng nông sản là mặt hàng chủ yếu của
các nước chậm và đang phát triển, nó chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ trong
nội địa là chính, có rất ít quốc gia có khả năng xuất khẩu ra bên ngoài. Hàng
nông sản là một trong những mặt hàng có tính chiến lược, do vậy đại bộ phận
buôn bán hàng nông sản quốc tế được thực hiện thông qua hiệp định giữa các
Nhà nước mang tính dài hạn.
Tình hình buôn bán, sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản phụ thuộc vào
tính thời vụ, mùa màng thu hoạch, phụ thuộc vào nhu cầu và điều kiện thanh
toán của từng quốc gia nhập khẩu là chính, như: lạc, các nước nhập khẩu chủ
yếu theo yêu cầu chất lượng quốc tế nhưng vẫn có một số quốc gia nhập khẩu
lạc với chất lượng theo sự chấp nhận của thị trường như: thị trường
Singapore, indonexia…
1.4. Sự cần thiết phải xuất khẩu hàng nông sản và vai trò của xuất khẩu
hàng nông sản của Việt Nam
1.4.1. Sự cần thiết phải xuất khẩu hàng nông sản
1.4.1.1. Xuất khẩu là điều kiện để mở rộng quy mô xuất khẩu
Trong quá trình hội nhập kinh tế như hiện nay, đẩy mạnh hoạt động
thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng trong nền kinh tế mở là
kinh doanh, xoá bỏ tu duy cũ, tích luỹ nhiều kinh nghiệm qua đó giúp doanh
nghiệp hình thành được tác phong kinh doanh hiện đại. Vì vậy, khi thực hiện
xuất khẩu, các doanh nghiệp cần phải tận dụng triệt để các điều kiện thuận lợi
mà toàn cầu hoá và hội nhập đem lại từ đó không ngừng phát triển đi lên, góp
phần đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế.
5
1.4.1.3. Việt Nam có nhiều tiềm năng trong sản xuất và xuất khẩu hàng
nông sản
Với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp nên đối với sản xuất và
xuất khẩu hàng nông sản, Việt Nam có tiềm năng rất lớn, thể hiện ở:
Về đất đai: tiềm năng đất nông nghiệp của nước ta khoảng 10-12 triệu
ha, trong đó gần 8 triệu ha cây trồng hàng năm và 4 triệu ha cây trồng lâu
năm, diện tích đất trồng lúa chiếm phấn lớn, khoảng 5.5 triệu ha. Hiện nay
Việt Nam mới chỉ sử dụng hết 65% quỹ đất nông nghiệp, còn lại là đồng cỏ tự
nhiên và mặt nước.
Chất lượng đất ở Việt Nam có tầng dày, kết cấu tơi xốp, nhiều chất dinh
dưỡng cung cấp cho cây trồng, nhất là phù xa, đất xám, chủng loại đất cũng
rất phong phú với 64 loại thuộc 14 nhóm. Những điều kiện này kết hợp với
nguồn nhiệt ẩm dồi dào sẽ là điều kiện tốt để phát triển các loại cây trồng,
thâm canh tăng vụ nếu chúng ta biết khai thác một cách có khoa học và hợp
lý.
Về khí hậu: khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa do ảnh hưởng
khá sâu sắc của chế độ gió mùa Châu Á. Khí hậu Việt Nam có tính đa dạng,
phân biệt rõ ràng từ bắc xuống nam, với mùa đông lạnh ở miền bắc và khí hậu
kiểu Nam Á, ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
Đây chính là điều kiện thuận lợi để Việt Nam đa dạng hoá các loại cây trồng
nông nghiệp nhất là cây trồng nông sản. Không những vậy, Việt Nam còn có
tiềm năng nhiệt ẩm và gió khá dồi dào, phân bố đồng đều trong nước, với độ
ẩm trong năm thường cao hơn 80%, lượng mưa lớn (trung bình từ
1800-2000mm/năm)…đây là điều kiện thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát
tiến độ gieo cấy lúa đông xuân ở phía Bắc và duy trì phát triển đàn gia súc…
nhất là vào cuối năm 2007 và những tháng đầu năm 2008. Theo báo cáo của
các địa phương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến
18/2/2008, toàn miền Bắc có trên 146 nghìn ha lúa bị ảnh hưởng nặng, trong
đó có 10 nghìn ha phải gieo trồng lại. Tổng số các loại vật nuôi đã bị chết là
63 nghìn con, trong đó bê, nghé non chiếm 75%; bò, trâu già chiếm 25%. Ước
tổng thiệt hại khoảng 400 tỷ đồng.
Thứ hai, do dân số thế giới đang tăng trưởng với tốc độ rất nhanh. Theo
ước tính năm 2006 của Cục dân số Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới sẽ tăng
thêm 2.5 tỷ người trong 43 năm tới, từ mức 6.7 tỷ người hiện nay tới 9.2 tỷ
người vào năm 2050 với sự gia tăng đó chủ yếu diễn ra tại các nước đang phát
triển. Dân số ở các nước ít phát triển sẽ tăng từ 5.4 tỷ người trong năm 2007
lên 7.9 tỷ trong năm 2050. Dân số của các nước nghèo như Afghanistan,
Burundi, Congo, Guinea - Bissau, Liberia, Niger, Đông Timor và Uganda dự
đoán sẽ tăng ít nhất 3 lần vào giữa thế kỷ này. Trong khi dân số thế giới ngày
cáng tăng thì diện tích đất đai sử dụng cho nông nghiệp ngày càng giảm cùng
với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa. Diện tích đất nông nghiệp giảm
sẽ làm cho sản lượng các mặt hàng nông nghiệp cũng giảm theo, trong khi
nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng tăng.
Thứ ba, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong nước và thế giới
làm cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong và ngoài nước tăng nên các
mặt hàng nông sản sẽ được tiêu thụ với khối lượng lớn như: gạo, đường, cà
phê, điều, chè, hạt tiêu…Cụ thể như sau:
Tổng mức tiêu dùng gạo thế giới năm 2007/08 dự báo sẽ đạt 423.93 triệu
tấn, điều chỉnh giảm 300 ngàn tấn so với dự báo hồi tháng 11/2007, song tăng
5.08 triệu tấn so với mức tiêu dùng năm 2006/07, và sẽ là năm thứ 2 liên tiếp
8
có mức tiêu dùng cao hơn sản lượng. Trong đó, mức tiêu dùng của một số
nước dự báo sẽ đạt (đơn vị: triệu tấn): Bănglađét 29.80; Braxin 0.90:
Myanmar 10.70; Cămpuchia 3.78; Trung Quốc 129.10; Ai Cập 3.67; Ấn Độ
tấn, tăng 5.1 triệu tấn so với cuối niên vụ 2006/07
Thứ tư, tình hình thế giới có nhiều biến động về chính trị,xã hội. Tình
hình xung đột vũ trang đang gia tăng ở nhiều nước, nhiều khu vực vẫn còn
tình trạng đấu tranh quyết liệt nhất là khu vục Trung Đông, nạn đói ở Châu
Phi vẫn đang hoành hành, do đó cần phải có một khối lượng lớn lương thực,
thực phẩm để dự trữ và viện trợ cho những nước này. Đây chính là nguồn nhu
cầu lớn đối với các nước xuất khẩu nông sản.
1.4.2. Vai trò của xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
1.4.2.1. Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước (GDP)
Xuất khẩu các loại hàng hóa nói chung, xuất khẩu hàng nông sản nói
riêng và sự tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xuất khẩu
đóng vai trò quan trọng hàng đầu cho sự tăng trưởng và phát triển của nền
kinh tế thể hiện ở chổ nó chiếm phần lớn trong tổng sản phẩm quốc nội
(GDP), thu hút được nhiều ngoại tệ về cho đất nước. Xuất khẩu có vai trò rất
lớn trong tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
Theo kinh tế học thì: GDP = C+I+G+(X-N)
Trong đó: C là chi tiêu của các hộ gia đình
I là đầu tư của các doanh nghiệp
G là chi tiêu của chính phủ
10
X là xuất khẩu
N là nhập khẩu
Khi mà hiệu số (X-N) tăng cao tức X tăng mạnh thì tổng sản phẩm trong
nước (GDP) tăng cao và ngược lại.
Nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam,
có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế. Xuất khẩu hàng nông sản
càng lớn thì càng làm cho GDP tăng cao, thể hiện được năng lực cạnh tranh
của đất nước về xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản tăng cao sẽ
nâng cao tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Theo báo cáo của chính phủ, giai đoạn 2002-2007 tất cả các nhiệm vụ
luôn là vấn đề nóng và cần quan tâm của nền kinh tế. Để giải quyết được
tình trạng này phải tăng cầu lao động và xuất khẩu tăng cũng là một trong
những biện pháp để mở rộng quy mô ngành sản xuất nông sản, từ đó tạo thêm
việc làm cho người lao động. Mặt khác, xuất khẩu nông sản tăng kéo theo sự
phát triển của ngành công nghịêp chế biến, công nghịêp phục vụ nông nghịêp,
từ đó lao động bổ sung tăng lên.
Khi người lao động có việc làm, thu nhập ổn định sẽ tạo tâm lý yên tâm
phấn khởi và người lao động (đặc biệt là lao động nông nghịêp) sẽ làm việc
ngay tại quê hương mình, giảm tải tình trạng di cư của lao động ra các khu
công nghiệp, thành thị để kiếm việc làm.
Ba là, xuất khẩu hàng nông sản góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các
nguồn lực trong nông nghiệp.
12
Nguồn lực trong nông nghịêp bao gồm: đất đai, cơ sở hạ tầng, người lao
động, kinh nghiệm sản xuất…Mỗi quốc gia đều có những cách thức khác
nhau trong việc sử dụng các nguồn lực của mình sao cho có hiệu quả nhất và
tận dụng hết các lợi thế của vùng. Mỗi vùng khác nhau sẽ có lợi thế về một
loại nông sản khác nhau, do đó khi xuất khẩu nông sản tăng lên, thị trường
được mở rộng sẽ tạo điều kiện cho vùng đó sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả
cao nhất. Đây cũng là lý do tại sao Việt Nam lại tạo những điều kiện thuận lợi
để đẩy mạnh xuất khẩu gạo của đồng bằng sông Cửu Long, cà phê của các
tĩnh miền Trung Tây Nguyên, vải Lục Ngạn, nhãn Hưng Yên, thanh long
Binh Thuận, bưởi Diễn…
Bốn là, xuất khẩu hàng nông sản góp phần thúc đẩy quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn gắn với
công nghiệp chế biến và thị trường, đua thiết bị và các công nghệ hiện đại
vào các khâu sản xuất nông nghiệp, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy
lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ sinh học và công nghệ
Tốc độ tăng trưởng NN 3.62 4.36 4.04 3.4 3.25
Nguồn: Niên giám thống kê
Từ bảng 1 có thể thấy, trong giai đoạn từ năm 2003-2006 xuất khẩu nông
sản của Việt Nam đã có sự tăng trưởng đều đặn từ 11.5% năm 2003 lên
26.6% năm 2004 và 61.5% năm 2005. Sự tăng trưởng này làm cơ sở cho tăng
trưởng nông nghiệp cũng tăng đều đặn từ 3.62% năm 2003 lên 4.04% năm
2005. Riêng năm 2006 và năm 2007, kinh tế Việt Nam nói chung và nông
14
nghiệp nói riêng gặp nhiều khó khăn do thời tiết, khí hậu, thiên tai không
thuận lợi. Đó là hạn hán, bảo số 1 (Chin chu), bão số 6 (xang sane), lốc xoáy,
mưa đá, dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng…nhất là đợt không khí
lạnh cuối năm 2007 và đầu năm 2008 đã gây ảnh hưởng rất lớn và để lại
những hậu quả rất nghiêm trọng. Điều này làm cho việc sản xuất và xuất khẩu
nông sản gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp Việt Nam vì
nông nghiệp là ngành chịu tác động lớn nhất của điều kiện tự nhiên. Kết quả
tốc độ tăng trưởng nông sản chỉ đạt 26.5% năm 2006, 24.5% năm 2007 và
nông nghiệp cũng chỉ đạt 3.4% năm 2006, 3.25% năm 2007. Nhưng đạt được
kết quả này cũng đã thể hiện sự phấn đấu hết sức mình của người dân nhằm
đạt được mục tiêu năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế là 8.5%.
Như vậy, xuất khẩu hàng nông sản có mối vai trò quan trọng với tăng
trưởng nông nghiệp, sự biến động của xuất khẩu hàng nông sản sẽ kéo theo sự
biến động của tăng trưởng nông nghiệp và muốn đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng nông nghiệp thì cần phải bắt đầu từ các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
hàng nông sản.
1.4.2.3. Góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu
Hàng nông sản xuất khẩu là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của ta, hàng năm nó góp phần rất lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nước.
Xuất khẩu nông sản của nước ta những năm qua tăng mạnh nhất là sau
khi nước ta gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản cũng như
Khu vực kinh tế tư nhân trong nước được hình thành và ngày càng mở
rộng phạm vi hoạt động trong nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội.
Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các hình thức hợp tác, liên doanh sản
xuất giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong nước đang phat triển
trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có bước phát triển khá, tạo
thêm một số mặt hàng mới, thị trường mới, tăng thêm sức cạnh tranh của sản
phẩm.
Cơ cấu ngành kinh tế đã từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, phát huy lợi thế so sánh trong từng ngành. Tăng tỷ trọng
các ngành công nghiệp và xây dựng, dịch vụ; giảm tỷ trọng các ngành nông,
lâm, ngư nghiệp.
Bảng 3: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế (%)
Cơ cấu ngành kinh tế 2003 2004 2005 2006 2007
Công nghiệp, xây dựng 39.47 40.2 41.0 41.5 41.8
Nông, lâm, ngư nghiệp 22.54 21.8 20.9 20.34 20
Dịch vụ 37.99 38.0 38.1 38.16 38.2
Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê và tạp chí thương mại
Cơ cấu vùng kinh tế gắn với quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của các
vùng lãnh thổ, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm đang đựợc xây dựng và
hình thành theo hướng phát huy thế mạnh của từng vùng, làm cho bộ mặt
kinh tế, xã hội ở các địa phương, các vùng đều có những thay đổi tích cực.
17
1.4.2.5. Tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực
phẩm phát triển
Nông nghiệp nước ta có vai trò lớn trong sự phát triển của nền kinh tế.
Dù tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp vào GDP của cả nước không
cao như công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nhưng vẫn tác động lớn tới sự phát
triển của nền kinh tế.
Nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp, việc xuất khẩu hàng nông
nhập WTO, nước ta cũng phải thực hiện những cam kết trên.
2.1.1. Về các cam kết cắt giảm trợ cấp
Đối với trợ cấp xuất khẩu: nước ta cam kết bãi bỏ ngay trợ cấp xuất khẩu
cho hàng nông sản khi được chính thức kết nạp vào WTO. Tuy nhiên, chúng
ta vẫn được bảo lưu quyền thụ hưởng một số quy định riêng của WTO dành
cho một nước đang phát triển trong lĩnh vực này trong một thời gian nhất
định.
Đối với trợ cấp sản xuất trong nước: Theo thong báo của Việt Nam cho
WTO, tổng mức hỗ trợ sản xuất trong nước (Total AMS) giai đoạn cơ sở
1999-2001 là 3961.59 tỷ VNĐ/năm. Các chính sách hỗ trợ của chúng ta đa
phần nằm trong diện “hộp xanh” và “chương trình phát triển” dành cho các
nước đang phát triển tầm trung bình. Đây là những nhóm được tự do áp dụng.
Tuy nhiên, trong một số năm tới, ngân sách nước ta cũng chưa đủ sức để hỗ
trợ cho nông nghiệp ở mức này.
19
Ở nhóm hỗ trợ “hộp đỏ” nước ta vẫn được phép trợ cấp tối đa 10% giá
trị sản lượng hàng nông sản. Về nguyên tắc, những cam kết về việc loại bỏ trợ
cấp đối với sản xuất hàng nông sản không ngăn cản Việt Nam tiếp tục hỗ trợ
cho ngành sản xuất nông sản của nước ta. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế
và ngân sách của nhà nước còn hạn hẹp nhưng chúng ta hoàn toàn không phải
dể dàng áp dụng được đầy đủ các yêu cầu của Hiệp định nông nghiệp.
2.1.2. Về các cam kết mở cửa thị trường hàng nông sản
Trong tiến trình đàm phán song phương với 28 đối tác và đàm phán đa
phương về mở cửa thị trường, Việt Nam đã cam kết giảm thuế nông sản 20%
so với mức thuế ưu đãi tối huệ quốc.(MFN) hiện hành, tức là từ mức 23.5%
như hiện nay xuống còn 20.9% (tính theo mức thuế trong hạn ngạch của một
số mặt hàng) trong vòng từ 5 đến 7 năm tới. Mức độ giảm có sự khác nhau
giữa các sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm. Khái quát chung là các sản phẩm
chế biến hiện có mức thuế cao (40% - 50%) thì bị yêu cầu giảm nhiều hơn so
với nông sản thô.
Đã rang, chưa
khử chất ca - phê
- in
Chưa xay 40 30 2011
Đã xay 40 30 2011
Đã rang và khử
chất ca - phê - in
Chưa xay 40 30 2011
Đã xay 40 30 2011
Loại khác 40 30 2011
Chè xanh
Nguyên cánh 40
Loại khác 40
Hạt tiêu Chưa xay
hoặc nghiền
Trắng 30 20 2010
Đen 30 20 2010
Đã xay hoặc
nghiền
Trắng 30 20 2010
Gạo thơm
Nguyên hạt 40
Không quá 5%
tấm
40
Trên 5% - 10%
tấm
40
21
Loại khác 40
lạnh
30 25 2010
Thịt cừu, dê 10 7 2010
Thịt ngan, gà 15 8 2011
Sữa và các sản
phẩm từ sữa
20 18 2009
Bơ 20 13 2014
Nguồn: Bộ Tài Chính
2.2. Những tác động đối với sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản của
Việt Nam
22
Từ việc nghiên cứu những cam kết trong tiến trình thực hiện Hiệp định nông
nghiệp trong hội nhập WTO, có thể nhận thấy một số tác động của việc gia nhập
WTO đối với hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản của nước ta như sau:
Thứ nhất, khi gia nhập WTO, việc các nước tuân theo Hiệp định nông nghiệp,
tức là duy trì thuế nhập khẩu ưu đãi trong phạm vi hạn ngạch thuế quan, sẽ đảm bảo
sự thâm nhập hàng nông sản nước ta vào thị trường các nước nhập khẩu một cách ổn
định. Tuy vậy, vẫn còn một số hạn chế đối với sự đảm bảo nói trên. Ví dụ, mộ số
công trình nghiên cứu cho thấy, một số nước phát triển chỉ duy trì thuế quan thấp
trong hạn ngạch thuế quan đối với việc nhập khẩu đối với việc nhập khẩu những loại
ngũ cốc có chất lượng thấp dung làm thức ăn chăn nuôi hoặc sẽ được tái xuất dưới
danh nghĩa của chương trình viện trợ về lương thực. Còn những mặt hàng khác, cạnh
tranh gay gắt với nông sản của họ, thì lại chưa duy trì thuế quan thấp trong hạn
ngạch.
Thứ hai, nguyên tắc mở cửa thị trường công khai trong Hiệp định nông nghiệp
phụ thuộc vào cách thức phân bổ hạn ngạch nhập khẩu tối thiểu, và do vậy, đã tạo ra
một số các biện pháp điều tiết khối lượng xuất nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp
mang tính phân biệt đối xử, như phân biệt đối xử về khối lượng, phân biệt đối xử về
giá. Tình trạng phân biệt đối xử giữa các nước xuất khẩu hàng nông sản buộc chúng
sút sản xuất lương thực trên thế giới, có thể tác động mạnh đến dự trữ lương thực và
an ninh lương thực quốc gia. Do đó, đòi hỏi các cơ quan đại diện của Việt Nam ở
nước ngoài, các cơ quan nghiên cứu trong nước phải nâng cao khả năng dự báo về
tình hình giá cả và biến động của thị trường đối với hàng nông sản.
Thứ sáu, Hiệp định nông nghiệp yêu cầu cắt giảm trợ cấp cho sản xuất và xuất
khẩu nông sản sẽ làm giảm khối lượng lương thực dư thừa cần thiết cho viện trợ và
chi phí cho viện trợ lương thực chính thức sẽ gia tăng đáng kể, từ đó viên trợ lương
thực sẽ giảm bởi chính phủ các nước sẽ giảm bớt kho dự trữ. Mặt khác, do sức ép về
chính trị ở trong nước ngày càng tăng để có lương thực viện trợ cho các trường hợp
khẩn cấp và viện trợ nhân đạo, nên sẽ có ít lương thực hơn để viện trợ thay thế cho
việc nhập khẩu mang tính chất thương mại mà các nước có thu nhập thấp vẫn phải
24
nhập khẩu. Vì lý do trên, Việt Nam có thể thúc đẩy tiến trình hợp tác ba bên: giữa
Việt Nam, một nước châu Phi và các tổ chức quốc tế tiến hành hoạt động sản xuất
lương thực tại một nước đang phát triển (châu Phi) theo quy trình sản xuất củae Việt
Nam.
Thứ bảy, đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh chính sách trong nước (hỗ trợ sản
xuất và xuất khẩu) phù hợp với Hiệp định nông nghiệp. Hiệp định cho phép hỗ trợ
trực tiếp cho người sản xuất (nông dân), tuy nhiên để việc hỗ trợ này phù hợp với
những điều đã cam kết với WTO, phải xây dựng thành các “chương trình phát triển”
với tiêu chí rõ rang. Trong khi đó, do nguồn tài chính có hạn, số lao động trong lĩnh
vực nông nghiệp lại quá đông (chiếm trên 70% dân số cả nước”), nên các chính sách
của ta hiện nay, nhất là những chính sách can thiệp thị trường lúc kho khăn lại hướng
chủ yếu vào hỗ trợ nhà kinh doanh chứ không phải cho người sản xuất. Nhiều chính
sách được ban hành mang tính chất tình thế, giải quyết khó khăn trước mắt, chưa có
tính chiến lược lâu dài. Do vậy, việc chuyển đổi chính sách phù hợp với yêu cầu của
Hiệp định nông nghiệp là không đơn giản, phải có thời gian và điều kiện nhất định
mới có thể khắc phục được tình trạng này.
Thứ tám, nền nông nghiệp nước ta vốn có trình độ phát triển thấp, chất lượng
nhiều loại nông sản, đặc biệt nông sản qua chế biến còn chưa cao, trọnghi đó gia