LUẬN VĂN
Đề tài: thực trạng và giải pháp ngành
công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện
nay
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng năm …
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng năm …
MỤC LỤC
trang
Lời cảm ơn……………………………………………………….1
Lời mở đầu……………………………………………………….3
Nội dung
Chương I: Tổng quan về ngành công nghiệp phụ trợ…………5
1. khái niệm………………………………………………6
2. Vai trò và đặc điểm của ngành CNPT…………………9
a. Vai trò
b. Đặc điểm
Chương II: Thực trạng ngành CNPT……………………………14
1. Những nhân tố ảnh hưởng đến CNPT…………………15
2. Thực trạng ngành CNPT………………………………15
3. Ảnh hưởng của ngành CNPT đối với kinh tế việt nam…
4. Những ưu thế và hạn chế của ngành CNPT
a. Ưu thế
b. Hạn chế chung của ngành công nghiệp
chương III: Đảng và chính phủ có những nhìn nhận về CNPT…
1. Quan niệm của Đảng và Chính phủ về CNPT…………
2. Chính sách quan trọng…………………………………
Chương IV: giải pháp đưa ra cho ngành CNPT…………………
1. Đề xuất
Như chúng ta đã biết hiện nay Việt Nam đã mở rộng quan hệ
ngoại giao với hơn 200 quốc gia và đặt quan hệ thương mại với
hơn 150 nước, trong đó có hơn 60 quốc gia và tổ chức lãn thổ có
quan hệ đầu tư trực tiếp vào lãnh thổ việt nam. Là thành viên chính
thức của nhiều tổ chức ASEAN, APEC, WTO…Tăng cường quan
hệ với các nước phát triển, các nước Mỹ La Tinh, Trung Đông và
các nước khác. Việt nam đã có những bước tiến mạnh mẽ trong
mọi lĩnh vực văn hóa, giáo dục, kinh tế - chínhh trị…
Theo xu hướng chung của thế giới, Việt nam cũng đang từng bước
hội nhập nền kinh tế thế giới. việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế là vấn
đề quan trọng của công cuộc đổi mới.
Trong đó phải nhắc tới ngành công nghiệp nói chung và ngành
công nghiệp phụ trợ nói riêng đã góp phần vào tiến trình CNH-
HĐH của việt nam.việc giao lưu với nhiều nước sẽ mở rộng thị
trường và tạo cơ hội cho ngành công nghiệp phụ trợ, thu hút vốn
đầu tư nước ngoài,tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến
những kinh nghiệm quý baú của các nước kinh tế phát triển và tạo
được thuận lợi cho phát triển kinh tế nước ta.
Mặc dù công nghiệp phụ trợ là ngành non trẻ của việt nam
nhưng nó cũng là ngành kinh tế quan trọng, có ý nghĩa quyết định
đến thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa việt nam.
Để biết rõ hơn về thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ ở
việt nam trong những năm gần đây bên cạnh những thành công
không thể tránh khỏi hạn chế và những giải pháp mà chúng em đưa
ra cùng với những kiến nghị dành cho ngành công nghiệp phụ trợ
sẽ được trình bày một cách chi tiết nhất trong bài tiểu luận của
nhóm 4 chúng em với đề tài:
“ thực trạng và giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam
hiện nay”
Chúng em hy vọng thầy và các bạn sẽ đọc, tham khảo và cho
những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các mức độ khác
nhau về yếu tố phụ trợ.công nghiệp phụ trợ được chia thành các
ngành sản xuất:
- các ngành cứng như sản xuất nguyên liệu và linh kiện…
- các ngành mềm như thiết kế sản phẩm, mua sắm,
marketing quốc tế, viễn thông, vận tải, năng lượng, cấp
nước…
- các ngành phục vụ nhu cầu nội địa như thép, hóa chất,
giấy, xi măng…
2.Vai trò và đặc điểm của CNPT
a.Vai trò:
Công nghiệp phụ trợ đóng vai trò quan trọng quyết định đối
với khả năng cạnh tranh và có vai trò to lớn trong quá trình công
nghiệp hóa. Tuy nhiên ngành công nghiệp phụ trợ của nước ta
đang phải đối mặt với những khó khăn về nguồn vốn cũng như sức
cạnh tranh của ngành này đối với khu vực và thế giới.
Công nghiệp phụ trợ tạo nhiều công ăn việc làm, thu hút lao
động phù hợp với điều kiện việt nam. Công nghiệp phụ trợ đóng
vai trò quan trọng việc tăng sức mạnh cạnh tranh của sản phẩm
công nghiệp chính và đẩy nhanh công nghiệp hóa theo hướng mở
rộng và chuyên sâu.
Công nghiệp phụ trợ phát triển kéo theo các công ty lắp ráp
và sản xuất thành phẩm cuối cùng thóa khỏi cảnh phụ thuộc vào
nhập khẩu. giá nhập khẩu những sản phẩm nhưng chi phí đầu vào
tăng cao còn chưa kể rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập
khẩu
Công nghiệp phụ trợ phát triển có vai trò đặc biệt trong vấn
đề thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), nhất là FDI trong ngành sản
xuất các loại máy móc, thực tế cho thấy, tỷ lệ chi phí về công
nghiêp phụ trợ cao hơn nhiều so với lao động trong giá thành sản
lợi hơn so với đầu tư vào sản xuất nguồn (thường là lắp ráp): Suất
đầu tư lớn; công nghệ phức tạp; thời hạn đầu tư và hoàn vốn dài;
độ rủi ro trong đầu tư cao. Nguồn lực tài chính cho đầu tư phát
triển công nghiệp và chính sách huy động nguồn lực đóng vai trò
quan trọng trong việc bảo đảm các ngành công nghiệp phụ trợ phát
triển bền vững.
- Tiến bộ khoa học và công nghệ: Do yêu cầu cải tiến liên tục để
nâng cao năng lực cạnh tranh, việc thiết kế và chế tạo mới sản
phẩm nguồn yêu cầu công nghiệp phụ trợ phải thường xuyên đổi
mới, nghiên cứu và sản xuất phụ liệu, phụ tùng hay chi tiết phù
hợp.
- Bảo đảm yêu cầu nghiêm ngặt về (QCD) chất lượng, chi phí và
thời hạn cung ứng (các sản phẩm phụ trợ) nhằm đáp ứng những
cam kết với khách hàng của sản xuất nguồn. Nguồn linh kiện, phụ
kiện sản xuất trong nước phong phú, chất lượng cao sẽ tích cực hạ
giá thành sản phẩm nguồn.
- Sự phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử hiện nay
tạo điều kiện cung và cầu (sản phẩm phụ trợ và sản phẩm nguồn)
gần nhau hơn, giảm thời gian giao dịch, mở rộng phạm vi quan hệ
giữa hai khu vực.
- Quan hệ giữa sản phẩm phụ trợ và sản phẩm nguồn không chỉ
giới hạn trong phạm vi quốc gia, mà phải phát triển trong phạm vi
khu vực và toàn cầu để nâng cao hiệu quả.
- Hoạch định chiến lược phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ
là một phần của chính sách phát triển kinh tế quốc gia, thu hút đầu
tư nước ngoài và phân công lao động hiệu quả giữa sản xuất trong
nước và các tập đoàn đa quốc gia.
2.thực trạng công nghiệp phụ trợ
Ở việt nam,cho đến nay, chưa có một cuộc điều tra toàn diện nào
về ngành công nghiệp phụ trợ được tiến hành, song để đánh giá
kà các doanh nghiệp nhà nước, sản xuất ra những sản phẩm có chất
lượn kém và giá thành cao (do công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý
kém…) nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ các doanh nghiệp nhà
nước. trên thực tế luôn tồn tại một khoảng cách quá lớn với yêu
cầu về chất lượng sản phẩm, giá bán cũng như thời hạn giao hàng
của các doanh nghiệp nước ngoài so với khả năng đáp ứng của các
doanh nghiệp việt nam.Hiện cả nước có 450.000 doanh nghiệp,
trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 90%, đóng góp hơn 40%
GDP, hơn 50% lao động trong các doanh nghiệp.
Thực trạng phát triển CNPT có thể được đánh giá thông qua khả
năng cung cấp linh kiện và tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành
công nghiệp ở việt nam như sau:
Về ngành dệt may và dày da: Công nghiệp hỗ trợ của ngành dệt
may, da giày hiện đang yếu và thiếu, điều đó thể hiện rõ nhất ở giá
trị thặng dư của 2 ngành. Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu của
2 ngành đạt 16,6 tỷ USD nhưng chúng ta đã phải bỏ ra khoảng
11,5 tỷ USD để nhập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất.
Giá trị thu về của 2 ngành thực sự rất nhỏ so với hàng chục tỷ đồng
kim ngạch xuất khẩu đạt được hàng năm.
Cụ thể, năm 2010 ngành dệt may hiện chỉ chủ động được khoảng
30-40% nguồn nguyên phụ liệu, trong đó vải đáp ứng được 20-
30% nhu cầu, bông đáp ứng được 10%, sơ thì chúng ta phải nhập
khẩu hoàn toàn, chỉ có sợi là ngành dệt may chủ động được gần
như hoàn toàn nhu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu (xuất
khẩu khoảng 2 tỷ USD năm 2010). Với ngành da giày, công
nghiệp hỗ trợ của ngành này có khá hơn so với ngành dệt may,
bằng chứng là ngành da giày có thể chủ động được 40-50% nguồn
nguyên phụ liệu cho sản xuất. Tuy nhiên, chỉ có phụ liệu như đế,
vải bạt, chỉ… là ngành chủ động được khoảng 50%, còn da thuộc
và nguyên liệu giả da, ngành da giày hiện đang phải nhập khẩu gần
CNPT ngành cơ khí chế tạo phải đáp ứng được 50% nhu cầu nội
địa về phôi đúc, rèn và chi tiết quy chuẩn. chúng ta có một số công
ty và doanh nghiệp công nghệ đang sản xuất phụ tùng lắp ráp,
công nghệ chế tạo máy. Tuy nhiên có rất ít doanh nghiệp có khả
năng đáp ứng yêu cầu( đặc biệt là những lãnh đạo nước ngoài) do
chất lượng kém, độ chính xác thấp, không đảm bảo tiêu chuẩn
công tác. Theo thống kê của bộ công thương , hiện nay có trên 230
doanh nghiệp sản xuất linh kiện ,phụ tùng cung cấp cho công
nghiệp lắp ráp va chế tạo trong đó có hơn 80 doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, nhưng so sánh hơn cả thì chất lượng vẫn kém
hơn nhiều so với các sản phẩm của nhật bản, đài loan
Công nghiệp đúc nhựa có khoảng 200 doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực đúc nhựa nhưng chủ yếu là sản xuất hàng tiêu dùng
thông thường.trong các ngành công nghiệp điện lắp ráp như điện, ô
tô… thì rất ít doanh nghiệp có khả năng cung cấp linh kiện nhựa
đúc dùng trong sản phẩm công nghiệp, chúng ta vẫn phải nhập
khẩu sản phẩm chế tạo từ nước ngoài để sản xuất.
3.Ảnh hưởng của CNPT tới kinh tế Việt Nam
công nghiệp phụ trợ những năm gần đây chúng ta đã nói nhiều tới
sự phát triển chậm chạp của ngành CNPT ở nước ta hiện nay
nhưng xem ra thời điểm này nó trở nên bức thiết hơn bao giờ hết
bởi nó không đơn thuần phản ánh hiện trạng nước ta thiếu chiến
lược phat triển ngành CNPT mà nó còn đang có ảnh hưởng trực
tiếp đến việc thu hút đầu tư nước ngoài.
Đến thời điểm toàn cầu hóa đã có ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh
tế, môi trường đầu tư, giá công nhân, mặt bằng rẻ không còn là
“lợi thế” riêng của Việt Nam trong thu hút đầu tư nữa. giờ đây các
nhà đầu tư dặc biệt là các lãnh đạo nước ngoài họ đã chuyển
hướng nhắm tới những thị trường có thể đáp ứng tốt nhất cho việc
sản xuất các sản phẩm đặc biệt trong đó các sản phẩm cung cấp từ
a. ưu thế
Việt Nam đã gia nhập ASEAN, APEC, WTO, đã là thành viên
không thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.
- Đổi mới và cải cách mạnh mẽ: giảm tiêu cực trong quản lý hành
chánh, hứa hẹn nhiều thuận lợi cho nhà đầu tư trong hoạt động sản
xuất và kinh doanh.
- Chính trị ổn định: tạo tâm lý an toàn để nhà đầu tư hoạch định
lâu dài, sản xuất kinh doanh dài hạn.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với thông lệ và tập quán
quốc tế: đảm bảo quyền lợi nhà đầu tư, hạn chế các khó khăn do
khác biệt về luật lệ, quy định.
- Tạo cơ hội cho các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng trong
cơ chế thị trường.
- Chủ động và tích cực hội nhập, thực hiện đầy đủ các cam kết
quốc tế về tự do hóa, thuận lợi hóa đầu tư, tạo thị trường mới cho
nhà đầu tư.
b. hạn chế chung của ngành công nghiệp
công nghiệp việt nam còn quá yếu, hiện nay có quá ít ngành có sức
cạnh tranh trên thị trường quốc tế. nguyên nhân không có sức cạnh
tranh một phàn vì cơ cấu đầu tư nghiêng về những ngành việt nam
không có lợi thế so sánh( những ngành thuộc công nghiệp nặng
như sắt thép, xi măng, phân bón, luyện kim…) nên sản xuất chủ
yếu là cho thị trường nội địa, FDI cũng tập trung nhiều vào những
ngành thay thế nhập khẩu.công nghiệp phụ trợ đã và đang có
những ảnh hưởng rất lớn tới công nghiệp nói riêng và nền kinh tế
việt nam nói chung, dưới đây là những hạn chế cơ bản của công
nghiệp phụ trợ việt nam:
- Doanh nghiệp phụ trợ chưa xác định các chiến lược lâu dài:
Chiến lược phát triển 2011-2020 cũng chỉ nhắc đến CNPT trong
vỏn vẹn 7 từ: “phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ” chứ thực tế thì
- Hình thức sản xuất tích hợp theo chiều dọc, không chuyên môn
hoá.
- Quy mô thị trường trong nước còn hạn chế: thị trường ôtô Việt
Nam (do nhiều yếu tố chi phối như hạ tầng giao thông, chính sách
thuế nhằm hạn chế lượng xe lưu hành…) với khoảng 9xe/1.000
dân.
- Thông tin phối hợp giữa FDI và SME còn hạn chế.
- Chưa có hệ thống cung ứng có kiểm soát (Supplier Chain
Management): Ngành công nghiệp ôtô hình thành 5 cấp bậc sản
xuất với hàng nghìn các doanh nghiệp tham gia trong đó nhiều
nhất là các doanh nghiệp cung cấp nguyên vật liệu, kế đến là các
doanh nghiệp nhỏ, các doanh
CHƯƠNG III: Nhìn nhận của Đảng và Chính Phủ về CNPT
1. Quan niệm của Đảng và Chính phủ về CNPT
Ở Việt Nam, quan niệm về công nghiệp phụ trợ xuất hiện trong
các chương trình hợp tác kinh tế với Nhật Bản. Khái niệm này
được du nhập vào nước ta thông qua vai trò của Diễn đàn kinh tế
Việt Nam (VDF) và ảnh hưởng của các luồng FDI Nhật Bản, đặc
biệt gắn với việc chọn lựa địa điểm đặt các nhà máy 2004, chủ yếu
trong các chỉ thị, công văn chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ
thị số 47/2004/CT-TTg ngày 22/12/2004 về các giải pháp nâng cao
sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu có đề ra
nhiệm vụ trong năm 2005: “Tập trung phát triển các ngành công
nghiệp phụ trợ để tăng cường khả năng cung ứng nguyên vật liệu,
bán thành phẩm, phụ liệu đầu vào trong nước cho sản xuất hàng
công nghiệp xuất khẩu và thúc đẩy mối quan hệ bổ trợ liên ngành
giữa các ngành công nghiệp…”. Một vài công văn và chỉ thị sau
đó cũng lặp lại nội dung này (Chỉ thị 27/2006/CT-TTg ngày
07/08/2006). Đặc biệt, nội dung phát triển phát triển công nghiệp
đã được đề cập trong Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành
- Khuyến khích các viện nghiên cứu chuyên ngành triển khai
nghiên cứu, thực nghiệm các đề tài, dự án gắn với nhu cầu phát
triển sản xuất các chủng loại vật liệu, chi tiết, linh phụ kiện, phụ
tùng phục vụ phát triển công nghiệp phụ trợ.
- Thu hút sự hỗ trợ của Chính phủ các nước phát triển như Nhật
Bản, EU để đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp phụ trợ.
- Sử dụng vốn ODA để hỗ trợ đào tạo lao động, xây dựng thể chế
pháp lý và các chương trình phát triển công nghiệp phụ trợ, công
nghiệp vừa và nhỏ, chương trình hợp tác với các công ty đa quốc
gia đầu tư trực tiếp vào VN.
CHƯƠNG IV: giải pháp đưa ra cho ngành công nghiệp phụ trợ
CNPT Việt Nam hiện nay đang còn chậm phát triển đang còn
thua xa các nước Nhật Bản, Trung Quốc…có nhiều nguyên nhân
dẫn tới sự chậm trễ đó, sau đây là những giải pháp cho ngành
CNPT:
1.đề xuất
• chính sách hỗ trợ hợp lý từ nhà nước, phải có một bộ luật
chính thức về công nghiệp phụ trợ chứ không đơn thuần
là quyết định phê duyệt hay là xây dựng nghị định ưu đãi
công nghiệp phụ trợ.nhà nước cần phải có chính sách phát
triển học tập cac nước có nền kinh tế phát triển đặc biệt là
Nhật Bản thực hiện chính sách công nghiệp phụ trợ một
cách bài bản, có chủ đích và phù hợp với từng thời kỳ.
• giải pháp về khoa học công nghệ, nhà nước cần xây dựng
và ban hành một tiêu chuẩn kỹ thuật chất lượng sản phẩm
theo tiêu chuẩn quốc tế, làm căn cứ cho định hướng phát
triển. cần hoàn thiện nâng cấp các tổ chức kiểm định,
đánh giá chất lượng sản phẩm phụ trợ đạt trình độ quốc
tế. tạođiều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI có
các dự án chuyển giao công nghệ tiên tiến vào sản xuất
trọng điểm cần được mở rộng và xây dựng hiện đại hơn,
phù hợp hơn.
• Giải pháp về tài chính. DN vừa và nhỏ là đối tượng chủ
yếu trong lĩnh vực này nên cần tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp ấy tiếp cận được với nguồn vốn vay dài
hạn đầu tư cho phat triển, trong việc đầu tư và sản xút sản
phẩm phụ trợ cũng cần hỗ trợ kinh phí cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nghiên cứu và học tập công nghệ của
nước khác, hỗ trợ cho ngành phhats triển khoa học công
nghệ cho các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ.
• Để bắt nhịp làn sóng nội địa hóa Việt nam cần sớm xây
dựng các cơ sở dữ liệu hiệu quả. Một doanh nghiệp nên
có đủ các thông tin về chính sách, thành tích và kinh
nghiệm của công ty, hạn chế trong khu vực sản xuất,
tranh thiết bị sản xuất, độ chính xác, chứng chỉ chất
lượng, các khách hàng chính, doanh số bán, tổng vốn và
số vốn lưu động sử dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp sản xuất linh kiện trong nước.thiết lập
quan hệ với cac công ty sản xuất nước ngoài sản xuất tại
Việt Nam.
2.kiến nghị của ông Trần Văn Thọ trong bài viết: “phát triển
công nghiệp phụ trợ: mũi đột phá chiến lược”
a. Giảm hoặc bãi bỏ các loại thuế đánh vào linh kiện nhập khẩu để
giảm giá thành sản phẩm lắp ráp, để các sản phẩm này xuất khẩu
được. Mở rộng thị trường ra các nước khác để tăng quy mô sản
xuất thành phẩm cuối cùng mới kích thích các công ty nhỏ và vừa
nước ngoài đến đầu tư sản xuất sản phẩm công nghiệp phụ trợ.
Trong thời đại tự do thương mại không thể áp dụng chính sách nội
địa hoá như các nước chung quanh đã làm trong quá khứ. Mở rộng
thị trường sản phẩm lắp ráp và chủ động xây dựng công nghiệp
cần thiết, v.v., và đặt ra các đội chuyên trách thường xuyên theo
dõi hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài để phát hiện
ngay các vướng mắc và giải quyết ngay.
e. Lập chế độ tưởng thưởng đặc biệt (từ nay đến năm 2006 chẳng
hạn) cho những công ty (kể cả nhà nước, tư nhân và công ty có vốn
nước ngoài) có thành tích cao về xuất khẩu các mặt hàng thuộc các
ngành công nghiệp phụ trợ (kể cả thành tích cung cấp cho các công
ty nước ngoài đang đầu tư ở Việt Nam sản xuất cho xuất khẩu).
năm để chớp thời cơ đang có và tạo những tiền đề cần thiết hầu
làm đảo ngược lại tình hình bất lợi hiện nay về công nghiệp. Tôi
tin là với các biện pháp trình bày ở trên, bộ mặt công nghiệp Việt
Nam nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung sẽ có sự thay đổi lớn
vào khoảng cuối năm 2006 hoặc đầu năm 2007, khi ta thực hiện
hoàn toàn các cam kết với AFTA và chuẩn bị những bước đầu tiên
trong chương trình tự do hoá thương mại với Trung Quốc.
KẾT LUẬN
Việt nam đã và đang thu hút đầy tư trực tiếp của nước ngoài( FDI)
việc hấp thụ một lượng vốn FDI cho sản xuất linh kiện và phụ tùng
sẽ trực tiếp mở rộng các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam và
gián tiếp giúp các doanh nghiệp trong nước liên kết lại.phần lớn
nhà sản xuất linh kiện nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam chỉ
là những doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ. Để thu hút họ việc tạo ra
môi trường kinh doanh tự do và mở đặc biệt là một khuôn khổ
chính sách ổn định là điều kiện quan trọng nhất. bên cạnh những
yêu cầu thông thường như chất lượng lao động cao, cơ sở hạ tầng
và ưu đãi hơn về chính sách hỗ trợ.
Hiện nay Việt Nam đã và đang tăng cường quan hệ với các nước
phát triển, vừa tạo ra cơ hội mới, vừa đặt ngành công nghiệp nói
chung và ngành công nghiệp phụ trợ nói riêng của nước ta vào thế
cạnh tranh. Vị thế của sản phẩm trước thị trường mở rộng đòi hỏi