LUẬN VĂN:
Hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua một thế kỷ, dân tộc ta chìm trong chế độ nô lệ. Nhân dân ta sống trong
cuộc đời lầm than khổ nhục bởi áp bức, đè nén và bóc lột của thực dân và nữa phong kiến.
Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Con đường cách mạng mà Bác
Hồ và nhân dân ta đã chọn dẫn đến Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Đảng đã lãnh đạo
nhân dân giành chính quyền lập nên Nhà nước dân chủ kiểu mới. Ngay những ngày đầu
khó khăn ấy, bản luận cương chính trị của Đảng đã nêu khẩu hiệu: “Người cày có ruộng”
cùng với “ nam nữ bình đẳng”. Người phụ nữ Việt Nam đổi đời toàn diện cả về vật chất
và tinh thần. Vị thế xã hội và chính trị của người phụ nữ từng bước được nâng lên. Tài
năng và nhân phẩm được tôn trọng và phát huy.
Ở thời kỳ hòa bình, xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo di huấn của Bác Hồ, Đảng ta
khởi xướng chủ trương đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập quốc tế. Phụ nữ Việt Nam
đã đóng góp quan trọng vào lực lượng sản xuất nói chung và nền kinh tế tri thức nói riêng,
góp phần làm tăng trưởng kinh tế và thay đổi diện mạo đất nước.
Từ đó đến nay, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm trong các văn kiện qua các kỳ
Đại hội. Nghị quyết đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ:
Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần,
thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người
công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi
dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội,
các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp. Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ,
trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội,
thai sản, chế độ đối với lao động nữ. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội,
các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ [16, tr.120].
về bình đẳng giới là rất cần thiết.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài này là rất quan trọng, nhằm đưa ra những quan điểm, giải
pháp về vấn đề này góp phần giúp các cơ quan, tổ chức cá nhân trong và ngoài nước quan
tâm hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới, khắc phục những bất cập, tồn
tại trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bình đẳng giới là một trong những nội dung quan trọng nhất của mục tiêu tiến bộ,
công bằng xã hội. Bởi đây không chỉ là vấn đề nhận được sự quan tâm chung của cộng
đồng thế giới mà còn xuất phát từ đặc điểm Việt Nam là một nước Châu Á, những hậu quả
nặng nề của “trọng nam khinh nữ” của chế độ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nhiều trong
cuộc sống xã hội.
Ngày nay, phụ nữ chiếm hơn một nữa dân số cả nước, đang ngày càng khẳng định
vị trí, vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy,
bình đẳng giới luôn là nguyên tắc Hiến định trong pháp luật nước ta: Điều 63 Hiến pháp
1992 qui định “công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội và gia đình", “nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ. Xúc
phạm nhân phẩm phụ nữ…”. Vấn đề bình đẳng giới càng có ý nghĩa quan trọng khi nước
ta đang bước vào giai đoạn mới của tiến trình đổi mới, khi chúng ta thực hiện mục tiêu mở
rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Vì vậy, việc nghiên cứu về bình đẳng
giới tiếp tục là đề taì được nhiều nhà khoa học quan tâm, đi sâu nghiên cứu nhằm khẳng
định địa vị của người phụ nữ và tạo cơ hội cho phụ nữ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
đóng góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước. Nhiều công trình, đề tài được công bố là cơ sở
cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp lụât, chính sách dành cho phụ nữ, vì sự tiến bộ của
phụ nữ, phòng, chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ…
Một số công trình, đề tài nghiên cứu tiêu biểu là: Lê Ngọc Hùng: “Xã hội học về
giới và phát triển”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000; TS Ngô Bá Thành: “Sự bình
đẳng về cơ hội kinh tế của phụ nữ trong pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt
Nam”, xuất bản năm 2001; “Đưa vấn đề giới vào phát triển: thông qua sự bình đẳng giới
sách và pháp luật về bình đẳng giới. Công trình này xuất bản năm 2004, đến nay thực
trạng pháp luật về bình đẳng giới đã có nhiều thay đổi. Vì vậy, đây là công trình mới
nghiên cứu có hệ thống về thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật
về bình đẳng giới.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bình đẳng giới, hoàn thiện pháp luật về bình đẳng
giới.
- Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới; vì sự tiến bộ của phụ
nữ; nhận xét, đánh giá những thành tựu; những hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về bình đẳng giới và nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới ở
Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới, một số
khái niệm về bình đẳng giới, pháp luật về bình đẳng giới, nghiên cứu thực trạng của quyền
bình đẳng nam, nữ trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử và quan điểm, giải
pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam qua các giai
đoạn và thực trạng pháp luật về bình đẳng giới hiện nay nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện
pháp luật về bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
được kết cấu làm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT
VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
1.1.1. Khái niệm pháp luật về bình đẳng giới
Bất bình đẳng giới, có nghĩa là muốn nói đến địa vị thấp kém của phụ nữ so với
nam giới đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử xã hội loài người. Do đó, cuộc đấu tranh của phụ
nữ giành quyền bình đẳng đối với nam giới, phong trào vận động ủng hộ phụ nữ trong cuộc
đấu tranh đó đã xuất hiện và phát triển cũng đã rất lâu. Thực tiễn đó làm nảy sinh các lý thuyết
nữ quyền và lý thuyết giới. Các lý thuyết đó đã phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác
nhau.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu lý thuyết nữ quyền, lý thuyết giới chỉ mới xuất hiện
những năm gần đây. Khoa học về phụ nữ và giới chính là sản phẩm của phong trào đấu
tranh của phụ nữ. Nó ra đời từ chính phong trào, thừa kế những di sản văn hoá, tinh thần
tiến bộ của loài người và đến lượt mình nó lại tạo cơ sở lý lụân, làm phong phú thêm cho
chính phong trào phụ nữ cũng như cho chính kho tàng kiến thức của nhân loại. Nó đã gây
được ảnh hưởng lớn, thậm chí làm đảo lộn nhiều nhận thức và quan niệm của một số
ngành khoa học. Ngành khoa học nghiên cứu về phụ nữ mới được hình thành từ những
năm 80. Mặc dù là một ngành khoa học còn rất non trẻ nhưng nó đã trưởng thành nhanh
chống, đạt được nhiếu thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu phụ nữ học và triển khai các đề
tài nghiên cứu ứng dụng về người phụ nữ ở Việt Nam cũng như vấn đề về bình đẳng nam
nữ, góp phần quan trọng vào công việc quản lý xã hội trong thời kỳ đổi mới đất nước ta.
Thời gian gần đây, vấn đề giới đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các
cấp, các ngành và các lĩnh vực khác nhau. Nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết về giới
cũng như việc vận dụng lý thuyết giới vào thực tiễn đang tăng lên không chỉ ở những nơi
mực của nền văn hoá.
Như vậy, khi nói giới tính là nói đặc điểm của con người do tự nhiên qui định. Nó
ổn định, thậm chí, hầu như bất biến đối với cả nam và nữ, xét cả về mặt không gian và thời
gian. Chẳng hạn phụ nữ trong mọi thời đại, mọi chế độ chính trị, mọi nền văn hoá đều giống
nhau ở khả năng mang thai và sinh con; nam giới ở mọi nơi, mọi thời đại đều giống nhau ở
chức năng sinh sản là làm cho phụ nữ mang thai. Còn nói đến giới là nói đến địa vị xã hội, thái
độ và hành vi ứng xử giữa nam giới và phụ nữ do hoàn cảnh, điều kiện xã hội, văn hoá… tạo
nên. Địa vị thái độ và hành vi đó không bất biến mà thay đổi do sự thay đổi của hoàn cảnh,
điều kiện xã hội, văn hoá. Ví dụ: so với cách đây 50 năm về trước, đặc điểm về giới tính của
phụ nữ nước ta hiện nay không có sự thay đổi, thế nhưng đặc điểm về giới-tức là địa vị xã hội,
tương quan về mặt xã hội so với nam giới-đã có sự thay đổi căn bản, bởi vì kể từ cách mạng
tháng tám 1945, hoàn cảnh, điều kiện xã hội, văn hoá nước ta đã thay đổi toàn diện và sâu
sắc.
Từ những phân tích trên đây ta có khái niệm: giới là thuật ngữ dùng để chỉ vai trò
và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và nữ giới, mối quan hệ này được quyết định và có
thể thay đổi tuỳ thuộc vào bối cảnh xã hội và văn hoá.
1.1.1.2. Vai trò giới
Vai trò giới là những hành vi ứng xử được dạy dỗ về mặt xã hội mà xã hội mong
đợi ở nữ giới và nam giới trong xã hội hay một nền văn hoá cụ thể. Đó là mối quan hệ
giữa phụ nữ và nam giới: ai làm gì, ai là người ra quyết định, tiếp cận nguồn lực và các
lợi ích.
Vai trò giới được chia làm ba nhóm cơ bản: vai trò sản xuất; vai trò tái sản xuất và
vai trò cộng đồng.
Vai trò sản xuất, thực hiện những hoạt động bao gồm sản xuất hàng hoá và dịch vụ
để tiêu dùng và trao đổi thương mại như làm ruộng, đánh cá, thuê mướng hoặc tự sử dụng
lao động. những hoạt động này được trả công và tạo ra thu nhập, cả nam và nữ có thể tham
gia vào các hoạt động sản xuất, nhưng nhìn chung các chức năng và trách nhiệm của họ
cũng khác nhau do sự phân công lao động theo giới truyền thống. Những việc do phụ nữ
xã hội. Phụ nữ vừa là người lao động, người công dân, vừa là người mẹ, người thầy đầu
tiên của con người. Mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống
vật chất tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam nữ bình
đẳng… Sự nghiệp giải phóng phụ nữ là công tác của phụ nữ, là trách nhiệm của Đảng,
nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và của từng gia đình”.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những định kiến từ chế độ phong kiến cùng với phong
tục tập quán lạc hậu lâu đời còn tồn tại, cũng như nhiều quốc gia khác, ở Việt Nam vẫn còn
tồn taị những bất bình giới, phụ nữ và trẻ em có vị thế thấp hơn nam giới; ở nhiều nơi phụ nữ và
trẻ em phải đối mặt với nhiều vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử liên quan đến giới và
bạo hành về giới…Trên thực tế, phụ nữ Việt Nam vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn sau:
Về mặt xã hội, quan niệm “trọng nam khinh nữ” tồn tại ở nhiều nơi trên cả nước,
đặc biệt là vùng nông thôn, tác động mạnh đến chất lượng cuộc sống bởi tình trạng đói
nghèo và phát triển kinh tế chậm ở nông thôn. Đây là những định kiến về giới và sự phân
biệt đối xử đối với phụ nữ và phần nào dẫn đến tình trạng thiếu cơ hội cho phụ nữ, địa vị
thấp kém của phụ nữ và thậm chí cả bạo lực đối với phụ nữ. Đây là sự thách thức trong
cuộc chiến của toàn xã hội để cải thiện mối quan hệ về giới, đảm bảo công bằng giới và
thực hiện việc trao quyền cho phụ nữ.
Trong lĩnh vực giáo dục, theo Luật Giáo dục Việt Nam, phụ nữ và trẻ em gái được
tiếp cận công bằng với các cơ hội học tập và thực tế là hiện nay số lượng trẻ em gái theo
học bậc tiểu học, trung học cơ sở đã bằng và gần bằng số trẻ em trai. Tuy nhiên, vẫn còn
có sự cách biệt về sồ lượng học sinh nữ và nam ở bậc học đại học. Bậc học càng cao, càng
có ít học sinh nữ. Trẻ em gái và phụ nữ thường có ít thời gian cho việc học hơn là trẻ em
trai và nam giới, vì họ phải dành nhiều thời gian cho việc nội trợ và một phần vì các quan
niệm truyền thống, họ có ít cơ hội đi học hơn các anh em trai của mình. Đặc biệt, nếu gia
đình phải đối mặt với những khó khăn về tài chính, trẻ em gái và phụ nữ phải bỏ học trước
để kiếm tiền hổ trợ gia đình. Trong các hoạt động kinh tế, hiện nay phụ nữ Việt Nam phải
đối mặt với những thách thức mới như khả năng cạnh tranh thấp kém của lao động nữ, ít
sơ hội việc làm hơn (đặc biệt là những công việc có thu nhập cao), nguy cơ mất việc cao
giảm nghèo cũng như quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội bền vững.
1.1.1.3. Bình đẳng giới
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác
nhau giữa nam giới và nữ giới, biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội đối với nam giới và
nữ giới, là trạng thái xã hội trong đó nam giới và nữ giới có vị trí như nhau, có các cơ hội
như nhau để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình, sử dụng nó cho sự phát triển của xã
hội và được hưởng lợi từ kết quả của sự phát triển đó.
Thực chất bình đẳng giới chính là nữ giới và nam giới cùng có điều kiện bình đẳng
để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để
tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển; được
hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi
lĩnh vực của xã hội.
Bình đẳng giới không chỉ đơn giản là nam giới và phụ nữ hay em trai và em gái có
số lượng tham gia như nhau trong mọi hoạt động mà bình đẳng giới có nghĩa là nam giới
và nữ giới được hưởng các vị thế xã hội ngang nhau. Bình đẳng giới không có nghĩa là
nam giới và nữ giới là giống nhau mà có nghĩa là sự tương đồng và khác biệt của họ được
thừa nhận và được coi trọng như nhau; có nghĩa là nam giới và nữ giới được tạo những điều
kiện ngang nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của bản thân và có cơ hội để tham gia đóng
góp và hưởng lợi như nhau từ các hoạt động phát triển của cộng đồng trên mọi mặt kinh tế,
chính trị, văn hoá và xã hội; điều quan trọng, bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và nữ giới
được thụ hưởng các thành quả một cách bình đẳng.
Cần phân tích rõ vị trí, vai trò và tác dụng của bình đẳng giới trong xây dựng con
người và phát triển kinh tế-xã hội, để ngày càng quan tâm hơn, nhận thức rõ hơn những
nội dung về bình đẳng giới, mọi người dù là nam giới hay phụ nữ, với tư cách cá nhân đều
có quyền bình đẳng và cần được tạo cơ hội để phát huy tiềm năng sẳn có của mình, có
quyền thụ hưởng bình đẳng trong quá trình phát triển chung như:
- Tiếp cận và sử dụng các nguồn lực (tài chính, đất đai, thời gian, cơ hội…)
- Tham gia quyết định những vấn đề liên quan đến việc sử dụng nguồn lực
vậy, ngoài những qui định chung về quyền con người, quyền công dân, pháp luật còn có quy
định riêng dành cho phụ nữ, đảm bảo cho phụ nữ có đủ điều kiện phát triển bắt kịp nam giới
(xuất phát điểm của phụ nữ rất thấp so với nam giới)
Như vậy, phụ nữ hoàn toàn có quyền tự do thực hiện quyền bình đẳng của mình
cùng với nam giới. Nhưng việc thực hiện quyền đó chỉ có hiệu lực và hiệu quả khi nó được
đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật và phù hợp với pháp luật. Do định kiến coi thường phụ nữ
còn nặng nề nên để bảo đảm cho phụ nữ thực hiện được quyền bình đẳng của mình trong
thực tế, Nhà nước phải ban hành nhiều qui định trong pháp luật, trong đó có cả những chế
tài nghiêm khắc xử lý những hành vi vi phạm quyền bình đẳng của phụ nữ. Như vậy, pháp
luật không chỉ ghi nhận, cụ thể hoá quyền bình đẳng của phụ nữ mà còn qui định những
thiết chế bảo đảm thực hiện những quyền đó trên thực tế.
Từ những phân tích trên, có thể khái niệm pháp luật về bình đẳng giới như sau:
Pháp luật về bình đẳng giới là hệ thống các qui phạm pháp luật do nhà nước ban
hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.1.2. Đặc điểm của pháp luật về bình đẳng giới
Bình đẳng giới hiện nay đang trở thành một trong những vấn đề toàn cầu và được
mọi cộng đồng quốc gia trên thế giới quan tâm. Thực tiễn cho thấy, phụ nữ được bình đẳng
cùng với nam giới tham gia vào mọi hoạt động của đời sống, đồng thời cùng được thừa
hưởng mọi thành quả của tiến bộ xã hội, đó chính là biểu hiện sinh động năng lực làm chủ
xã hội của một lực lượng lao động quan trọng, chiếm hơn nữa nhân loại toàn cầu. Chỉ trên
cơ sở bình đẳng mới đảm bảo cho mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội được thực hiện.
Trên thực tế, thực hiện mục tiêu bình đẳng giới là một nhiệm vụ khó khăn và phức tạp
không chỉ riêng một lĩnh vực nào mà nó đi liền với nhiều bức xúc của xã hội.
Xem xét vấn đề bình đẳng giới giữa nam và nữ trong mối tương quan với các vấn
đề chính trị-xã hội khác, chúng ta có thể rút ra các đặc điểm của pháp luật về bình đẳng
giới như sau:
- Thứ nhất, pháp luật bình đẳng giới bao gồm các qui định của pháp luật về quyền
phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm bảo vệ và bảo đảm quyền bình đẳng của
phụ nữ với nam giới được thực hiện có hiệu quả trên thực tế.
- Thứ ba, pháp luật về bình đẳng giới là sự kết hợp hài hoà giữa các qui phạm pháp
luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Thúc đẫy và bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới không chỉ là mối
quan tâm và trách nhiệm của riêng một quốc gia nào, mà nó đã trở thành nghĩa vụ và trách
nhiệm chung của cả cộng đồng quốc tế. Cộng đồng quốc tế đã thông qua nhiều văn kiện
pháp lý qui định về quyền bình đẳng của phụ nữ. Những văn kiện đó thể hiện tư tưởng tiến
bộ của nhân loại về giải phóng phụ nữ, bảo đảm sự bình đẳng và nâng cao địa vị của người
phụ nữ.
Trong các văn kiện pháp lý quốc tế qui định trực tiếp hoặc gián tiếp về quyền bình
đẳng của phụ nữ, Việt Nam đã gia nhập và phê chuẩn hai công ước quan trọng nhất có liên
quan là: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948 và Công ước Liên
hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1979.
Trong quá trình xây dựng pháp luật, Nhà nước luôn xem xét khả năng thể chế hoá những
qui định tiến bộ của pháp luật quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia. Đây cũng là một
phần trong trách nhiệm lập pháp của quốc gia khi gia nhập và phê chuẩn các công ước này.
Bên cạnh đó, Khi xây dựng pháp luật, chúng ta cũng dựa trên truyền thống văn hoá và
hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam để điều chỉnh và thông qua những qui phạm pháp luật
phù hợp. Chính vì thế, pháp luật Việt Nam thể hiện tư tưởng tiến bộ, có tính thuyết phục,
phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Các qui phạm pháp
luật về bình đẳng giới trong hệ thống pháp luật Việt Nam thể hiện rõ tư tưởng trên, trong
đó đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử.
1.1.3. Nội dung của pháp luật về bình đẳng giới
Bình đẳng giới là một trong những nội dung quan trọng nhất của mục tiêu tiến bộ,
công bằng xã hội. Bởi đây không chỉ là vấn đề nhận đươc sự quan tâm chung của cộng
đồng thế giới mà còn xuất phát từ đặc điểm Việt Nam là một nước châu Á, những hậu quả
nặng nề của tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của chế độ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng
quan trọng đối với việc hiện thực hoá các quyền con người của phụ nữ, công ước này xác
định cách thức, biện pháp nhằm loại trừ những sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong hưởng
thụ các quyền con người. Mục đích của công ước CEDAW là trao cho phụ nữ những
quyền con người đã được thừa nhận nhưng trên thực tế họ chưa được hưởng bởi những
phân biệt đối xử trong thực tế [63].
Ở Việt Nam, quyền bình đẳng của phụ nữ với tính cách là quyền công dân sớm
được xác lập bằng pháp luật cùng với sự ra đời của Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp 1946,
ngay từ lần đầu tiên đó, phụ nữ đã được công nhận có địa vị công dân bình đẳng so với đàn
ông:
“Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà.
Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt
giống nòi, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(Điều 1) “Tất cả công dân Việt Nam
đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá” (Điều 6).
“Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia
chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều 7).
“Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9).
Quyền bình đẳng nam nữ trong bầu cử, ứng cử đã trở thành qui tắc xuyên suốt trong
các bản Hiến pháp Việt Nam từ 1946 đến nay: Công dân, không phân biệt dân tộc, nam,
nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở
lên đều có quyền bầu cử và từ 21 tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng
nhân dân các cấp, trừ những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tuớc các quyền đó.
Phù hợp với tinh thần chung của các Công ước quốc tế Việt Nam tham gia ký kết,
Hiến pháp và pháp luật Việt Nam có những qui định xác lập quyền bình đẳng của phụ nữ
và nam giới trong việc tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách của Nhà nước, tham
gia các chức vụ của nhà nước và thực hiện chức năng công cộng ở mọi cấp. Cụ thể, Hiến
pháp 1992 sửa đổi nêu rõ: “ công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham
gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà
nước…” (Điều 53).
tưởng giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền của phụ nữ đã được ghi nhận, trở thành tuyên
ngôn đầu tiên về quyền bình đẳng nam nữ, phụ nữ được công nhận ngang quyền với nam
giới. Tiếp đó, Đảng còn ban hành nhiều chỉ thị và nghị quyết có tính chất định hướng và
chỉ đạo nhằm bảo đảm cho phụ nữ ngang quyền với nam giới như: Nghị quyết số 153/NQTW, 10/01/1967 về “công tác cán bộ nữ”; Chỉ thị số 44/CT-TW, 07/6/1984, về “ một số
vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ”; Nghị quyết 04/NQ-TW của bộ chính trị về “
tăng cường và đổi mới công tác vận động nữ trong tình hình mới”; Nghị quyết 04-NQ/TW
ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về “ đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ
trong tình hình mới”; Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 29/9/1993 củ Ban Bí thư Trung ương
Đảng về “thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về đổi mới, tăng cườngcông tác vận động
phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thỉ 37/CT-TW16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương về
“một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”; tiếp theo là nghị quyết Đại hội
IX của Đảng công sản Việt Nam v.v…Mọi văn bản đều nhất quán một quan điểm “thực
hiện tốt chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, bồi dưỡng đào tạo nghề nghiệp, nâng cao
trình độ học vấn, có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ
quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp…” [15, tr.126].
Tư tưởng trên đã trở thành nguyên tắc chung và được thể chế hoá trong Hiến pháp
và pháp luật của Nhà nước. Hay nói cách khác, pháp luật làm cho các chính sách có hiệu
lực thực thi và bắt buộc chung trên qui mô toàn xã hội. Pháp luật bình đẳng giới còn là
phương tiện để Đảng kiểm tra đường lối chính sách của mình về bình đẳng giới và về
quyền của phụ nữ trong thực tiễn đời sống xã hội. Ngay từ khi ra đời, Nhà nước dân chủ
đầu tiên ở Đông Nam Châu Á đã ghi nhận trong pháp luật quyền của phụ nữ và nam giới.
Tuy nhiên, một thực tế không thể không thừa nhận là pháp luật của chúng ta chưa thể chế
đầy đủ, cụ thể và thiếu những thiết chế đảm bảo thực hiện trên thực tế đường lối chủ
trương chính sách của Đảng về bình đẳng giới nói chung về quyền phụ nữ nói riêng. Điều
này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện bình đẳng giới trên thực tế.
- Thứ hai, pháp lụât bình đẳng giới ở Việt Nam tạo cơ sở pháp lý đấu tranh thực
hiện bình đẳng giới giữa phụ nữ và nam giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Với chức năng là công cụ để nhà nước quản lý, bảo vệ các gía trị xã hội và bảo đảm
phụ nữ mà phụ nữ có những cơ sở pháp lý cần thiết để đấu tranh cho việc cải thiện và nâng
cao vị thế thấp kém hiện thời của mình.
Pháp luật về bình đẳng giới không chỉ xác lập địa vị bình đẳng của phụ nữ trong đời
sống xã hội mà còn là những qui tắc xử sự được sử dụng như thước đo chuẩn mực chung,
đồng thời có tính chất bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội nhằm thực hiện bảo vệ
quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới. Chính vì lẽ đó, pháp luật về bình đẳng giới
được sử dụng như cơ sở dẫn chiếu đối với những hành vi trái pháp luật vi phạm quyền
bình đẳng giới, bên cạnh đó, những qui định của pháp luật bình đẳng giới có vai trò quan
trọng tạo tiền đề cho phụ nữ thực hiện các quyền chính đáng của họ mà pháp luật đã ghi
nhận. Hơn nữa, pháp luật bình đẳng giới còn là cơ sở pháp lý chắc chắn để phụ nữ đấu
tranh với những hành vi sai trái, phân biệt đối xử với phụ nữ, những định kiến lạc hậu cản
trở việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ so với nam giới. Nếu không có những qui
định của pháp luật về bình đẳng nam nữ thì những định kiến “hẹp hòi”, “trọng nam khinh
nữ” đang còn ảnh hưởng nặng nề trong xã hội, phụ nữ sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn
trong việc tham gia vào các hoạt chung của công động đồng xã hội đặc biệt là tham gia
quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tham gia ứng cử vào các chức danh lãnh đạo và vào quá
trình hoạch định chính sách trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, pháp luật về
bình đẳng giới có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm, bảo vệ và thực hiện quyền bình
đẳng của phụ nữ với nam giới nhằm cải thiện và nâng cao vị thế thấp kém hiện thời của
phụ nữ so với nam giới.
- Thứ tư, pháp lụât bình đẳng giới ở Việt Nam bảo đảm việc thực hiện có hiệu quả
quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
Bảo đảm quyền bình đẳng giới giữa nam và nữ chính là bảo đảm quyền con người
đã được pháp luật qui định và bảo vệ. Trong hệ thống quyền con người, về cơ bản, phụ nữ
cũng được hưởng các cơ hội bình đẳng như nam giới nhưng để có sự bình đẳng thực chất,
phụ nữ phải được bảo đảm thực hiện các quyền đó. Nói cách khác, họ phải được tham gia
trực tiếp và gián tiếp vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tham gia vào quá trình kinh tế,
xã hội của đất nước. Do đó, quyền bình đẳng của phụ nữ đối với nam giới là nền tảng, có
lý bình đẳng cho nam giới và nữ giới, bởi thông qua đó, phụ nữ và nam giới mới được
tham gia vào các quá trình ra quyết định một cách bình đẳng đối với những vấn đề gắn liền
với những lợi ích thiết thân của họ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó hạn chế và
tiến tới xoá bỏ hoàn toàn những phân biệt đối xử về giới mà phụ nữ thường là những nạn
nhân. Tuy nhiên, bình đẳng ở đây phải là bình đẳng về thực chất và chỉ có bình đẳng về
thực chất mới là cơ sở để bảo đảm bền vững địa vị pháp lý bình đẳng của nữ giới so với
nam giới. Đây là, mối quan hệ biện chứng giữa bình đẳng và pháp luật. Biểu hiện của bình
đẳng giới về thực chất là, phụ nữ và nam giới xác lập được địa vị pháp lý của mình, được
tham gia một cách dân chủ vào mọi hoạt động của đời sống chính trị-xã hội. Ngược lại,