LUẬN VĂN: Hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở
Việt Nam hiện nay
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan
trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các
quyền của công dân. Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể


Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng nền kinh tế thị trường và xây dựng
nhà nước pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú,
thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp. Hàng năm Toà án
nhân dân các cấp đã thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ án thừa kế. Nhiều vụ tranh
chấp thừa kế phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục không cao. Có những bản
án quyết định của toà án vẫn bị coi là chưa "thấu tình đạt lý" Sở dĩ còn tồn tại
những bất cập đó là do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến là do các quy định
của PLVTK chưa đồng bộ, cụ thể Chính vì điều đó, nên trong thời gian gần đây
nhiều văn kiện của Đảng như Nghị quyết 48 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật đến năm 2010, Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định rõ nhiệm
vụ, mục tiêu, sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời kỳ đổi mới,
trong đó có pháp luật về thừa kế.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: "Hoàn thiện pháp luật
về thừa kế ở Việt Nam hiện nay" để làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học. Đây là
một đề tài có ý nghĩa quan trọng cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực
tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thừa kế di sản là vấn đề rộng và phức tạp, vừa có lịch sử hình thành và phát
triển khá phong phú. Do vậy, thừa kế đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan
tâm nghiên cứu.
Trước khi BLDS được ban hành, đã có một số sách nghiên cứu về thừa kế
dưới góc độ sách pháp luật thường thức như: "Câu hỏi và giải đáp PLTK" năm
1994 của Luật sư Lê Kim Quế; "Hỏi đáp về PLTK" năm 1995 của Trần Hữu Bền
và TS. Đinh Văn Thành.
Các công trình kể trên được thực hiện khi nhà nước ta chưa ban hành BLDS nên
tất cả đều dựa chủ yếu vào pháp lệnh thừa kế. Các công trình này chưa giải quyết
được bản chất pháp lý về thừa kế, các loại thừa kế, hậu quả pháp lý của nó. Về cơ bản
chỉ dừng lại ở mức độ tìm hiểu pháp luật.

được lịch sử hình thành và phát triển các quy định này qua các thời kỳ. Hơn nữa, đa số
các đầu sách này viết trước năm 2003, nên có rất nhiều điểm thay đổi cả về mặt pháp
luật thực định và thực tiễn cuộc sống.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên, đã nêu ra nhiều vấn đề cơ bản cả
về lý luận và thực tiễn áp dụng PLVTK trên nhiều góc độ. Tuy nhiên, các công
trình này được thực hiện khi Nhà nước ta chưa ban hành BLDS 2005 và nghiên
cứu chủ yếu dưới góc độ luật thực định. Các công trình nghiên cứu dưới góc độ lý
luận hoàn thiện PLVTK còn ít, chưa có tính chất hệ thống, khái quát. Vì vậy, có
thể khẳng định rằng, luận văn này là một công trình khoa học đầu tiên, nghiên cứu
chuyên sâu hoàn thiện PLVTK là một đề tài hoàn toàn độc lập, không có sự trùng
lắp với bất kỳ một công trình nào của người khác.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích: Phân tích cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về thừa kế và
đánh giá thực trạng PLVTK ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, nêu lên những quan
điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện PLVTK ở nước ta hiện nay.
* Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về hoàn thiện PLTK ở Việt Nam như: khái
niệm, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của PLVTK cũng như tiêu chí hoàn thiện
PLVTK. Đồng thời có tìm hiểu PLVTK của một số nước trên thế giới.
- Phân tích quá trình phát triển và thực trạng PLVTK ở Việt Nam. Qua đó,
nhận xét, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của PLVTK hiện hành, rút ra các
nguyên nhân của hạn chế.
- Nêu sự cần thiết khách quan, quan điểm, tiêu chí cũng như giải pháp cụ thể
có tính khả thi nhằm hoàn thiện PLVTK.
* Phạm vi nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy phạm PLVTK
ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử. Nhưng đặc biệt tập trung nghiên cứu các quy

phục vụ công việc nghiên cứu giảng dạy và học tập của cán bộ, giáo viên và sinh
viên chuyên Luật và không chuyên Luật cũng như việc giảng dạy học tập môn Nhà
nước pháp luật trong hệ thống các trường chính trị.
- Về thực tiễn: Luận văn đề ra các giải pháp cụ thể hoàn thiện PLVTK sẽ có ý
nghĩa thiết thực góp phần giúp cho những người có thẩm quyền áp dụng luật để
giải quyết tranh chấp thừa kế. Ngoài ra luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ cho
việc để lại di sản thừa kế, lập di chúc cũng như trong quá trình thực hiện quyền và
nghĩa vụ dân sự của mình về lĩnh vực thừa kế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục,
luận văn được bố cục 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
Cơ sở lý luận của hoàn thiện pháp luật
về thừa kế ở Việt Nam

1.1. Khái niệm đặc điểm và nguyên tắc pháp luật Về thừa kế ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về thừa kế
* Khái niệm:
Thừa kế theo nghĩa chung nhất, là việc chuyển dịch tài sản của người chết cho
người còn sống. Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm móng và xuất
hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người. ở thời kỳ này việc thừa kế
nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được tiến hành
dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục, tập quán riêng của từng bộ lạc,
thị tộc quyết định. Ph.Ăngghen viết:
Theo chế độ mẫu quyền nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên
mẹ theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những
người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại

quan đến việc thừa kế tài sản.
Như vậy, thừa kế được hình thành từ khi xã hội chưa phân chia giai cấp,
nhưng khái niệm PLVTK thì chỉ ra đời và tồn tại trong những xã hội đã phân chia
giai cấp và có nhà nước. Tuy nhiên, mỗi một xã hội khác nhau sẽ có sự khác nhau
trong quy định về thừa kế. Thậm chí, trong cùng một chế độ xã hội của một nhà
nước, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, thì PLVTK cũng được quy định khác
nhau cho phù hợp với sự phát triển.
ở Việt Nam, trong các triều đại phong kiến trước đây, PLVTK đã được hình
thành và dựa trên cơ sở lễ giáo phong kiến. Các quy định về thừa kế trong Bộ luật
Hồng Đức của thời Lê và Bộ luật HVLL của thời Nguyễn đều nhằm mục đích duy
trì, bảo vệ những truyền thống chế độ gia đình phụ quyền và hiếu nghĩa của con
cháu trong dòng tộc. Những quan niệm về gia đình lễ giáo, tín ngưỡng và chuẩn
mực đạo đức thờ cúng tổ tiên thời phong kiến đều có sự tác động mạnh lên quan hệ
thừa kế. Vì vậy, thừa kế ở thời kỳ này thể hiện rõ nét sự bất bình đẳng giữa vợ và
chồng, giữa nam và nữ. Đối với tài sản của cha mẹ, con trai con gái đều có quyền
được chia, nhưng đất hương hoả thì nhất quyết phải dành cho con trưởng nam và
cháu đích tôn.
Cha mẹ với tư cách là người chủ sở hữu cũng không có quyền làm khác,
không thể để cho một người con gái hưởng hoa lợi, hương hoả dù người con
gái ấy sống độc thân đến khi chết Đối với tài sản vợ chồng, nếu vợ chết
trước, chồng tiếp tục làm chủ tài sản ấy với tư cách là chủ sở hữu. Nhưng
trong trường hợp chồng chết trước người vợ không được quyền thừa kế, chỉ
tiếp tục hưởng hoa lợi trên tài sản của chồng. Nếu người vợ tái giá thì người
goá phụ mất hết quyền hưởng hoa lợi, bị bên chồng trưng bằng cớ để lấy lại
ruộng đất [73, tr.24].
Khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, chế độ phong kiến ở Việt Nam
hoàn toàn sụp đổ, cùng với chế độ thực dân Pháp, những quan niệm lạc hậu về chế

Như vậy có thể nói rằng, PLVTK là tổng thể các quy phạm pháp luật do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh việc
chuyển dịch tài sản của người chết cho cá nhân, tổ chức theo di chúc hoặc theo
pháp luật, cũng như quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ, phương thức bảo vệ các
quyền và nghĩa vụ của người thừa kế và được thực hiện theo những trình tự thủ tục
nhất định.
Tóm lại, PLVTK ở Việt Nam được cấu thành bởi nhiều quy phạm, trong
nhiều văn bản khác nhau. Lịch sử hình thành và phát triển của PLVTK ở Việt Nam
có sự biến đổi theo hướng ngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào thành quả
phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ. Các quy định PLVTK ở nước ta luôn
bảo đảm quyền tự do cá nhân trong việc thể hiện ý chí của mình và kết hợp hài hoà
với truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Không ngừng cũng cố, mở rộng phù hợp với
đời sống thực tế, nhằm bảo vệ có hiệu quả hơn quyền thừa kế công dân.
* Đặc điểm:
Từ những phân tích nêu trên về nội dung và qua nghiên cứu PLVTK Việt
Nam từ khi hình thành cho đến nay, chúng tôi rút ra một số đặc điểm cơ bản
PLVTK như sau:
Thứ nhất: Pháp luật về thừa kế ra đời rất sớm.
Ngay từ thời kỳ La Mã Cổ Đại đã có pháp luật về thừa kế, PLVTK thời kỳ
này được khắc trên phiến đá để mọi người cùng hiểu mà làm theo. Khi nghiên cứu
về vấn đề này các nhà khoa học pháp lý đã nhận định: “thừa kế là sự di chuyển tài
sản của người chết cho một hoặc một số người sống khác. Quyền thừa kế với tư
cách là một chế định pháp luật của Nhà nước, xuất hiện trên cơ sở chấm dứt quyền
sở hữu của một người đã chết và sự chuyển giao mang tính tổng thể tài sản của
người đó cho những người còn sống …[35, tr.158].
ở nước ta, trong gần 10 thế kỷ đô hộ, nhà nước phong kiến Trung Hoa luôn
tìm cách xoá những truyền thống của dân tộc ta để thể hiện mưu đồ đồng hoá rất

gắn bó chặt chẽ với nhau mỗi phạm trù là tiền đề và cũng chính là hệ quả đối với
nhau. Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để từ đó làm xuất hiện thừa kế thì đến lượt
mình thừa kế lại là phương tiện để duy trì, củng cố và xác định quan hệ sở hữu.
Nếu sở hữu và thừa kế là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau song song
tồn tại bên nhau thì pháp luật về thừa kế với pháp luật về quyền sở hữu cũng có mối
quan hệ hết sức mật thiết với nhau. Thông qua việc quy định hình thức sở hữu về tài
sản của cá nhân và theo đó pháp luật quy định cho họ các quyền năng trong lĩnh vực
thừa kế. Hay nói cách khác, pháp luật về sở hữu là cơ sở cho việc ban hành các văn
bản pháp luật về thừa kế. Vì vậy, pháp luật về thừa kế luôn mang một bản chất giai
cấp sâu sắc, nó luôn là phương tiện để duy trì, củng cố quyền sở hữu ở những xã hội
mà chính bản thân nó đang tồn tại.
Trong xã hội phong kiến hoặc trong xã hội chủ nô, những xã hội dựa trên
chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thì pháp luật về thừa kế là một trong
những công cụ pháp lý quan trọng để duy trì sự bóc lột sức lao động người khác và
củng cố địa vị xã hội của những người thừa kế. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, một
chế độ dựa trên nền tảng công hữu hoá tư liệu sản xuất. Thừa kế là sự kế thừa thành
quả lao động của cá nhân gia đình và các giá trị văn hoá của thế hệ này đối với thế
hệ khác, nên pháp luật về thừa kế, trước hết nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao
động, thành quả lao động của họ được chuyển sang cho những người thừa kế của
họ. Mặt khác, pháp luật về thừa kế còn là một trong những phương tiện để củng cố
và phát triển các quan hệ hôn nhân gia đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các
chủ thể trong lĩnh vực thừa kế, qua đó góp phần bảo đảm quyền sở hữu chính đáng
mọi cá nhân trong xã hội.
Như vậy, cùng với sự hình thành và phát triển Nhà nước và pháp luật của chế
độ tư hữu thì sở hữu và thừa kế đều là những phạm trù pháp luật và giữa chúng có
mối quan hệ mật thiết với nhau.
Thứ ba: Pháp luật về thừa kế tập trung chủ yếu trong BLDS, ngoài ra còn

Thứ năm: Pháp luật về thừa kế được quy định tương đối toàn diện và có kết
cấu chặt chẽ.
Khi xây dựng PLVTK chúng ta đã học tập nhiều kinh nghiệm của cha ông
và các nước tiên tiến trên thế giới như Pháp, Đức, Nga vì vậy, pháp luật về thừa
kế ở Việt Nam tương đối toàn diện có cấu trúc chặt chẽ. Pháp luật về thừa kế được
chia thành 5 nhóm. Ngoài nhóm (1) quy định vấn đề chung về thừa kế, làm cơ sở để
dẫn chiếu các nhóm quy định cụ thể. Trong mỗi nhóm cụ thể đều có các quy định
chung quy định các vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc của phần đó, sau đó mới quy
định các vấn đề chi tiết, các cấu trúc này thuận tiện cho việc tra cứu và áp dụng
pháp luật về thừa kế.
1.1.2. Những nguyên tắc pháp luật về thừa kế ở Việt Nam
Nguyên tắc PLVTK là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong
quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện PLVTK. Thông qua đó góp phần phản ánh
bản chất cũng như đặc trưng cơ bản của PLVTK ở nước ta. Vì vậy, từ khi hình
thành đến nay, những nguyên tắc PLVTK ở nước ta có sự thay đổi phù hợp với
bản chất của nhà nước ở từng giai đoạn lịch sử. Kể từ 1945 đến nay PLVTK ở
nước ta có những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân:
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được nhà
nước bảo hộ. Quy định này đã được khẳng định tại Điều 58 Hiến pháp 1992 "Nhà
nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân". Trên cơ sở
đó Điều 631 BLDS 2005 đã xác định rõ nội dung của quyền này. Trước hết đảm
bảo cho mọi cá nhân đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình" đều
có quyền để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật. Điều quan trọng
là mỗi cá nhân đều có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật". Thậm
chí là quyền từ chối di sản thừa kế. Mặt khác nhà nước còn bảo hộ quyền thừa kế,
thể hiện trong việc đảm bảo cho mọi công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp

Tóm lại, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế, là một nguyên tắc cơ
bản trong PLVTK ở Việt Nam. Nó không những phản ánh chế độ chính trị nói
chung mà điều quan trọng là nhằm đảm bảo sự bình đẳng của mọi công dân trong
lĩnh vực về thừa kế, tạo được sự đoàn kết tốt giữa các thành viên trong gia đình, góp
phần xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững.
Thứ ba, nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của người có tài sản, người
hưởng di sản
Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng, một mặt đã ghi nhận sự bảo hộ của
pháp luật đối với quyền về thừa kế, mặt khác nó còn thể hiện một cách đầy đủ nhất
các quyền dân sự chủ quan của mỗi cá nhân trong việc định đoạt toàn bộ tài sản
của mình.
Nội dung của nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt được ghi nhận khá
đầy đủ trong BLDS 2005. Trước hết đối với cá nhân người để lại tài sản với tư
cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền
lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết. Pháp
luật không cho phép bất kỳ ai có hành vi cản trở, cưỡng ép, đe doạ người lập
di chúc. Người để lại thừa kế có thể thực hiện quyền định đoạt thông qua hình
thức di chúc viết hoặc di chúc miệng, có thể nhờ người làm chứng cho việc lập
di chúc, có thể yêu cầu công chứng viên đến chỗ ở của mình để lập di chúc.
Khi thực hiện quyền định đoạt trong di chúc, người lập di chúc có quyền
chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân
định phần di sản cho từng người thừa kế, dành một phần tài sản trong khối di
sản để di tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ
di chúc; người quản lý di sản, người phân chia di sản [13, Điều 648].
Trong trường hợp di chúc đã được xác lập, nếu cần có sự thay đổi "ý nguyện"
cũng như nội dung, người lập di chúc còn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc
huỷ bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào" [13, Điều 662].

nói riêng mới được bảo đảm một cách thực tế. Nội dung các nguyên tắc tôn trọng
quyền tự định đoạt của người để lại di sản và người hưởng di sản ngày càng được
bảo đảm, mở rộng cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và phát huy vai trò làm
chủ của nhân dân.
Thứ tư, nguyên tắc củng cố, giữ vững tình thương yêu và đoàn kết trong gia
đình
Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc chung trong quan hệ dân sự, đó là:
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn
bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán truyền thống tốt
đẹp, tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng
đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức tốt đẹp của các dân tộc cùng sinh
sống trên đất nước Việt Nam [17, Điều 8].
Từ truyền thống đoàn kết trong gia đình, từ mục đích của chế độ hôn nhân và
gia đình nước ta nhằm "xây dựng những gia đình dân chủ hoà thuận, hạnh phúc
trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ". Tinh thần đoàn
kết tương trợ giữa những người trong gia đình cần được giữ vững ngay cả khi
những người trong gia đình chết và vấn đề thừa kế được đặt ra. Nguyên tắc này có
ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định diện và hàng thừa kế theo pháp luật dựa
trên cơ sở huyết thống gần gũi, quan hệ hôn nhân trong việc bảo vệ quyền lợi của
người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Bằng các nguyên tắc cơ
bản được ghi nhận trong BLDS, PLVTK ở nước ta đã bảo vệ lợi ích hợp pháp của
mọi người lao động trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, xoá bỏ tàn tích
mà chế độ thừa kế của thực dân phong kiến đã để lại hàng bao đời nay, nâng cao ý
thức pháp luật cho mọi người dân trong lĩnh vực thừa kế nói riêng cũng như trong
đời sống xã hội nói chung.

1.2. Vai trò và tiêu chí hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam
1.2.1. Vai trò của pháp luật về thừa kế ở Việt Nam
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nhà nước
pháp quyền, hội nhập quốc tế, ở nước ta hiện nay hệ thống pháp luật nói chung và

Điều 50 Hiến pháp 1992 đã quy định "ở nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt
nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn
trọng thể hiện ở các quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và pháp luật",
điều 58 Hiến pháp 1992 còn quy định "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp
và quyền thừa kế công dân".
Xuất phát từ nguyên tắc hiến định trên BLDS năm 1995, 2005 đảm bảo cho
"Chủ sở hữu có quyền bán, tặng, cho để thừa kế tài sản" [13, Điều 248] "Công dân
có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư
liệu sản xuất". Đặc biệt BLDS còn đảm bảo cho mọi công dân đều có quyền "lập
di chúc để định đoạt tài sản của mình", đều có quyền "để lại tài sản của mình cho
người thừa kế theo pháp luật". Đồng thời mỗi công dân đều có quyền "hưởng di
sản theo di chúc hoặc theo pháp luật", thậm chí là quyền từ chối nhận di sản thừa
kế.
Hai là, PLVTK là phương thức quan trọng trong việc xác lập, củng cố, bảo
vệ quyền sở hữu.
Thừa kế là một quan hệ xã hội có mầm mống và xuất hiện từ thời sơ khai
của xã hội loài người. Cũng chính từ thời sơ khai đó, sở hữu và thừa kế đã xuất
hiện như một tất yếu khách quan và mang tính chất là một phạm trù kinh tế, giữa
chúng có mối liên quan qua lại ràng buộc với nhau.
Khi xã hội phân chia thành giai cấp, nhà nước xuất hiện thì PLVTK đã có
vai trò rất quan trọng trong việc duy trì, cũng cố quyền sở hữu, từ chổ pháp luật
quy định chế độ sở hữu về tài sản của cá nhân, và cá nhân có các quyền năng đối
với tài sản của mình thì dựa theo đó, pháp luật quy định cho họ có những quyền
năng trong lĩnh vực thừa kế, công nhận quyền sở hữu được để lại thừa kế sẽ có tác
dụng kích thích cổ vũ sự quản lý năng động của mỗi người, bởi họ tin rằng sự
nghiệp của mình sẽ được kế tục bởi những người mình yêu thương. Quyền sở hữu
chỉ hoàn thành được vai trò động lực phát triển kinh tế nếu nó chuyển giao bằng

số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày càng đa dạng, phong phú và trị giá ngày
càng lớn thì vấn đề thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp. Hàng năm có
hàng ngàn vụ án kiện về thừa kế mà TAND các cấp phải giải quyết nhiều vụ tranh
chấp về thừa kế phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục không cao. Nhiều bản án
quyết định của toà án vẫn được coi là "chưa thấu tình đạt lý". Điều đó đã phá vỡ cả
hệ thống tiêu chí đạo đức, mỹ tục, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, gây bất ổn cho
mỗi gia đình, cộng đồng, xã hội. Chính vì lẽ đó nhà nước cần phải tăng cường sự
điều chỉnh của pháp luật, đối với quan hệ thừa kế là một yêu cầu tất yếu khách
quan. Thông qua các quy phạm PLVTK, các bên tham gia quan hệ thừa kế thấy rõ
được các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như trình tự thủ tục cách thức để thực
hiện quyền đó. Trên cơ sở đó, các chủ thể để lại di sản cũng như nhận di sản thừa
kế tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với các chuẩn mực pháp lý, tạo lập
được một hệ thống các quan hệ tốt đẹp giữa người với người, sau khi người để lại
di sản chết, góp phần vào việc củng cố sự đoàn kết và thúc đẩy sản xuất xã hội
phát triển.
Bốn là, PLVTK có vai trò to lớn trong việc giữ gìn, phát huy các phong tục,
tập quán tốt đẹp của dân tộc
Đạo đức, các phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp là nét văn hoá mang
bản sắc của mỗi dân tộc, được hình thành từ lâu đời và luôn được mọi người tôn
trọng. Đó chính là tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau với phong tục, tập
quán tốt đẹp "lá lành đùm lá rách". Một nền pháp luật chỉ tồn tại và bền vững khi
phù hợp với đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Phong tục tập quán có
vai trò rất quan trọng cùng với pháp luật nhà nước tham gia quản lý xã hội. Nhận
thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến việc giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi chúng
ta thực hiện chính sách mở cửa giao lưu và hội nhập "trong điều kiện kinh tế thị
trường và mở rộng giao lưu quốc tế phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản

di chúc có quyền dành một khối di sản để thờ cúng". Đây là phong tục, tập quán có
từ lâu đời và hiện nay vẫn được coi trọng. Việc thờ cúng tổ tiên được thực hiện
trên cơ sở của quan niệm mang tính chất đạo đức và văn hoá, tôn trọng và biết ơn
công sinh thành, dưỡng dục, con người có nguồn cội, tổ tông cho nên con cháu
phải tôn trọng và biết ơn những thế hệ trước mình. Trong thờ cúng tổ tiên, di sản
thờ cúng có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất
mà còn có giá trị về mặt tinh thần. Vì vậy, từ các Bộ cổ luật xa xưa đến Bộ dân
luật Bắc kỳ 1931, Bộ dân luật Trung kỳ 1936 cũng như BLDS 1995, 2005 đều quy
định hết sức tỷ mỉ và chặt chẽ về di sản dùng vào thờ cúng. Phải nói rằng, đây là
nét đặc thù trong pháp luật Việt Nam, điều mà khó tìm thấy trong các nền luật
pháp phương Tây. Như vậy có thể nói một số quy phạm PLVTK là các quy phạm
đạo đức được nâng lên thành luật. Quy phạm đạo đức này gắn chặt với phong tục
tập quán của người Việt Nam trong mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong
gia đình với nhau. Vì lẽ đó giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán ấy trong
đời sống xã hội là một đảm bảo quan trọng để các quy định pháp luật đi vào thực
tế cuộc sống.
1.2.2. Các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam
Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng,
hay nói cách khác, pháp luật phản ánh hiện tại khách quan của đời sống kinh tế, xã
hội của đất nước. Mà thực tại khách quan luôn vận động biến đổi không ngừng.
Chính vì thế, pháp luật cũng luôn phải được hoàn thiện để kịp thời đáp ứng nhu
cầu của xã hội, xây dựng hoàn thiện pháp luật là một trong những hoạt động quan
trọng của nhà nước, nhất là trong điều kiện hội nhập WTO, cải cách pháp luật, xây
dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.
"Một hệ thống pháp luật hoàn thiện sẽ có khả năng tạo lập được các cơ sở pháp lý
vững chắc cho toàn bộ sự vận động khách quan của đời sống" [58, tr.28]. “Để đánh giá
tính hoàn thiện của hệ thống pháp luật có nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó có 4
tiêu chí cơ bản, đó là tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật
pháp lý” 75, tr.60. Trên cơ sở đó, tiêu chí hoàn thiện PLVTK ở Việt Nam có thể
tập trung 4 nội dung sau:

kế thế vị, thừa kế thế vị có nhân tố con nuôi, con sinh ra bằng phương pháp khoa
học.
Hai là, tính đồng bộ, thống nhất:
Tính đồng bộ thống nhất là yêu cầu khách quan, là tiêu chí đánh giá
mức độ hoàn thiện và chất lượng của hệ thống pháp luật. Điều này có nghĩa
là, khi xem xét mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật thì cần phải
xem xét giữa các bộ phận, quy phạm pháp luật có trùng lắp, chồng chéo hay
mâu thuẫn với nhau không [72, tr.30].
Tính đồng bộ thống nhất của hệ thống pháp luật, giáo trình lý luận chung về
nhà nước và pháp luật được thể hiện những điểm sau:
Thứ nhất, đó là sự đồng bộ giữa Hiến pháp và các đạo luật và giữa các
đạo luật với nhau.
Thứ hai, thể hiện sự thống nhất, không mâu thuẫn, không trùng lắp,
chồng chéo trong mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa các quy
phạm pháp luật với nhau [37, tr.407-408].
Chính vì vậy, khi xây dựng và hoàn thiện PLVTK phải xem xét mối tương
quan giữa các quy phạm pháp luật khác, đảm bảo sự thống nhất của toàn bộ hệ
thống pháp luật nói chung và trong bản thân nó nói riêng.
Nghĩa là, PLVTK phải loại bỏ mọi mâu thuẫn, trùng lắp, chồng chéo giữa
các quy phạm của lĩnh vực này. Chẳng hạn, vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất
được quy định trong nhiều văn bản khác nhau, nhưng các văn bản phải đều thống
nhất về nội dung, không được để tình trạng điều luật này mâu thuẫn với điều luật
kia, gây khó khăn cho việc thực hiện và áp dụng. Khi xây dựng PLVTK, các nhà
làm luật cần quán triệt tinh thần của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đó
là văn bản của cấp dưới không được trái với văn bản của cấp trên, kể cả về nội
dung và hình thức. Đặc biệt cần nhấn mạnh đến tính tối cao của Hiến pháp. Mặt
khác, cũng thấy rằng, PLVTK là một phận của hệ thống pháp luật, có mối liên

thì mới đảm bảo sự vận động và phát triển đúng định hướng.
Mặt khác khi xây dựng mỗi quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thừa kế, cũng
phải luôn bám sát điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Nội dung phải phù hợp
không qua cao hay quá thấp so với thực trạng đời sống vật chất và ý thức xã hội.
Thực tế cho thấy rằng, sự điều chỉnh các quan hệ xã hội của pháp luật sẽ không có
hiệu quả nếu pháp luật đó không gắn với thực tiễn, không phù hợp với điều kiện
khách quan và nhân tố chủ quan của xã hội. Và như vậy, nó sẽ không thúc đẩy các
quan hệ kinh tế xã hội phát triển, thậm chí kìm hãm sự phát triển của xã hội. Cho
nên để pháp luật thực sự có ý nghĩa trong cuộc sống, thực sự phát huy chức năng,
vai trò của mình, pháp luật phải bắt nguồn từ chính cuộc sống, chính thực tại khách
quan.
Hơn nữa, trong điều kiện mở rộng quan hệ ngoại giao hội nhập kinh tế quốc
tế, pháp luật Việt Nam không thể xa rời với xu thế chung của thời đại. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định Việt Nam sẽ "Thực hiện tốt đường lối, chính
sách đối ngoại của Đảng và nhà nước, chủ động tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn,
đầy đủ hơn với khu vực và thế giới hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi
ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế" [29, tr.204]. Do vậy,
PLVTK cũng phải có những quy định hài hoà, tương thích với pháp luật quốc tế,
đặc biệt là các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, thừa kế con sinh ra bằng
phương pháp khoa học Điều đó đòi hỏi khi xây dựng pháp luật các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phải nghiên cứu, tham khảo, chọn lọc những kinh nghiệm của
PLVTK các nước, trên cơ sở đó vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam cho
phù hợp. Như thế chúng ta mới có thể xây dựng được một hệ thống PLVTK có
tính khả thi cao, bởi nó sát với thực tế và được quốc tế thừa nhận.
Thứ tư, về trình độ kỹ thuật pháp lý:
Một hệ thống pháp luật hoàn thiện phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật
pháp lý cao. Kỹ thuật pháp lý là một vấn đề rộng lớn, phức tạp trong đó có ba điểm

sau đó được thừa nhận ở hệ thống pháp luật phương Tây như Nhật Bản, Thái

Trích đoạn Những hạn chế về pháp luật về thừa kế và nguyên nhân của nó Yêu cầu khách quan và những quan điểm hoàn thiện pháp luật về thừa kế Quan điểm hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam hiện nay 1 Rà soát, hệ thống hoá thường xuyên và có chất lượng các văn bản Sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp của pháp luật về thừa kế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status