LATS Hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay - Pdf 33

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN TUYẾT ÁNH

hoµn thiÖn ph¸p luËt
vÒ gia ®×nh ë viÖt nam hiÖn nay

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP
LUẬT

Mã số: 62 38 01 01

HÀ NỘI - 2015


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Minh Tâm

Phản biện 1:..........................................................
..........................................................

Phản biện 2:..........................................................
..........................................................

Phản biện 3:..........................................................
..........................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện

đình vẫn còn nặng tư tưởng trọng nam, khinh nữ, chưa bảo đảm bình đẳng giới trong
gia đình. Hiện tượng các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, HIV/AID xâm nhập vào
gia đình chưa thuyên giảm... Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình nói trên, trong
đó có một số nguyên nhân như: Sự nhận thức về vị trí, vai trò của gia đình và công tác
gia đình, công tác quản lý nhà nước về gia đình còn một số bất cập, chưa huy động sự
tham gia của xã hội và cộng đồng. Pháp luật về gia đình đã được sửa đổi, bổ sung
nhưng chưa theo kịp sự phát triển của gia đình trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường, hội nhập quốc tế. Các quy định pháp luật về gia đình tồn tại rải rác trong nhiều
văn bản khác nhau. Nhiều quy phạm chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu minh bạch, không phù
hợp điều kiện thực tế khách quan nên tính khả thi còn hạn chế. Nhiều vấn đề phát sinh
trong lĩnh vực gia đình chưa được phản ánh và xử lý kịp thời; chính sách, pháp luật về
gia đình chưa đồng bộ; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về gia đình và trang bị
các kiến thức, kỹ năng ứng xử trong các quan hệ về gia đình chưa được coi trọng…
Việc tổng kết thực hiện pháp luật về gia đình, nghiên cứu chính sách, pháp luật về gia


2

đình chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức, vì vậy, cho đến nay chưa có cơ sở khoa
học và thực tiễn đúng đắn phục vụ cho công tác hoạch định chính sách, xây dựng và
hoàn thiện pháp luật về gia đình.
Do vậy, nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện pháp luật về gia đình, xây dựng
cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về gia đình, hướng tới mục tiêu
xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững là cần thiết và có
ý nghĩa hết sức quan trọng ở nước ta hiện nay.
Xuất phát lý do trên, Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về
gia đình ở Việt Nam hiện nay” làm Luận án tiến sĩ của mình tại Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài

bình đẳng giới trong gia đình; 2/ quan hệ về phòng, chống bạo lực gia đình; 3/ quan hệ
về trách nhiệm của gia đình trong ngăn chặn tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình; 4/
quan hệ dịch vụ gia đình; 5/ quan hệ hỗ trợ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn; 6/
quan hệ phát triển kinh tế gia đình; 7/ quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý nhà
nước đối với gia đình.
Trong các quan hệ xã hội nói trên, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu 4 nhóm pháp
luật điều chỉnh các nhóm quan hệ 1, 2, 3, 7 bởi vì việc hoàn thiện các nhóm quy phạm
pháp luật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu
hàng đầu được nêu trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn 2030, đó là: “Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và
cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn
nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn
xã hội xâm nhập vào gia đình”.
Về không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về gia đình ở Việt
Nam từ năm 1945 nhưng tập trung vào giai đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà
nước và pháp luật nói chung, về gia đình và pháp luật về gia đình nói riêng. Bên cạnh
đó, đề tài chú trọng những quan điểm, tri thức khoa học có tính phổ biến ở trong nước
và nước ngoài về gia đình và pháp luật về gia đình để tham khảo và phục vụ cho việc
tiếp cận và giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án.
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tác giả luận án sử dụng những phương
pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp được sử dụng trong chương 2,
3, 4 để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn
thiện pháp luật về gia đình.
- Phương pháp hệ thống được sử dụng trong các chương 2,3,4 để làm rõ nội
dung, vai trò, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình,

đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam, khẳng định những bước phát
triển, những ưu điểm cần phát huy, đồng thời chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế đó. Từ đó, luận án đề xuất 4 quan điểm và 6 nhóm giải pháp hoàn thiện
pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và làm giàu thêm những kiến
thức lý luận về gia đình và pháp luật về gia đình; xây dựng cơ sở khoa học cho việc
phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình; xây dựng và hoàn thiện pháp luật
về gia đình và tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về gia đình trong thực tiễn.


5

Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy luật học và
văn hóa pháp lý chuyên sâu về gia đình và pháp luật về gia đình. Luận án cũng là tài
liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và trách nhiệm xã hội
trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các chính sách, pháp luật về gia đình; xây dựng
và thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể tổ chức thực hiện có hiệu quả
pháp luật về gia đình ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây
dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả liên
quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 11 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA ĐÌNH,
PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về gia đình

đó rút ra những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo và tiếp thu; đánh giá thực
trạng pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam, đề xuất và luận chứng các quan điểm và
giải pháp thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

1.2.1. Nhóm công trình liên quan đến pháp luật gia đình ở nước ngoài
Các công trình đã nghiên cứu về những thay đổi của pháp luật về gia đình trên
thế giới trong thế kỷ XX, việc quản lý nhà nước về gia đình trong các văn bản pháp
luật; phân tích các nội dung của pháp luật gia đình quốc tế trong mối tương quan so
sánh với pháp luật gia đình trong nước.
1.2.2. Nhóm công trình nước ngoài nghiên cứu các nội dung pháp luật về
gia đình của Việt Nam
Một số công trình đã giới thiệu chính sách, pháp luật về bình đẳng giới để phụ
nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự
phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới…
1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành mục tiêu của đề tài, luận án còn phải tiếp tục nghiên cứu
những vấn đề mà các công trình nghiên cứu khoa học nói trên chưa có điều kiện
làm rõ sau đây:
1.3.1. Về mặt lý luận
- Xây dựng khái niệm pháp luật về gia đình; phân tích nội dung và những đặc
điểm của pháp luật về gia đình Việt Nam; làm rõ vai trò của pháp luật về gia đình ở
Việt Nam.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí làm cơ sở để xác định mức độ hoàn thiện của pháp
luật về gia đình ở Việt Nam.


7

- Phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia

thần của mỗi cá nhân và của cả gia đình.
2.1.1.2. Đặc trưng của gia đình Việt Nam
Gia đình Việt Nam có các đặc trưng cơ bản: Gia đình phải sống chung một mái
nhà; trong một gia đình phải có giới tính (nam, nữ); quan hệ trong gia đình phải là quan


8

hệ ruột thịt, huyết thống nghĩa là có quan hệ tái sản xuất con người; các thành viên
trong gia đình phải gắn bó với nhau về đặc điểm tâm sinh lý; gia đình phải có ngân
sách chung. Do đó gia đình phải là một nhóm xã hội ít nhất có từ 02 người trở lên.
Trong xã hội hiện đại, sự tác động của các yếu tố khách quan như nền kinh tế thị
trường, quá trình giao lưu hợp tác quốc tế, sự thâm nhập của những giá trị mới, cùng
với việc bản thân giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam chưa có những cơ chế
vững chắc để có thể tự bảo lưu, tiếp tục phát triển là những nguyên nhân dẫn đến sự
biến đổi của gia đình truyền thống. Sự bảo lưu phải vừa tích cực, giữ lại được những
tinh hoa của giá trị gia đình truyền thống, vừa phải biết bổ sung thêm những giá trị tích
cực của thời đại mới.
Tóm lại, đặc trưng của gia đình Việt Nam có quy luật phát triển mang tính chất
và đặc thù riêng với tư cách là một thể thống nhất, một tế bào hoàn chỉnh và là một đơn
vị cơ sở của một xã hội cụ thể.
2.1.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về gia đình ở Việt Nam
2.1.2.1. Khái niệm pháp luật về gia đình
Pháp luật về gia đình là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật chứa
đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định và các tập quán tốt đẹp được nhà
nước thừa nhận, thể hiện bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, không trái với những
nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình và các điều cấm của Hiến pháp và
pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về gia đình, hướng tới xây dựng gia
đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

Pháp luật về gia đình là một bộ phận trong hệ thống pháp luật nói chung, nhưng
đồng thời với vị trí, vai trò là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, có những đặc điểm
riêng, có đối tượng và phương pháp điều chỉnh đặc thù, đến lượt mình, pháp luật về gia
đình cũng là một hệ thống có hình thức biểu hiện khá phong phú với những bộ phận
hợp thành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm:
Thứ nhất: Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về gia đình.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về gia đình là những nguyên lý, tư tưởng
chỉ đạo quán xuyến và xuyên suốt trong tổng thể hệ thống quy phạm pháp luật về
gia đình.
Thứ hai: Các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ về gia đình.
Xét ở góc độ chung, hệ thống các quy phạm pháp luật về gia đình bao gồm các
nhóm lớn để điều chỉnh các nhóm quan hệ tương ứng là: các quan hệ nhân thân và
quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và các con và giữa những người thân
thích, ruột thịt khác trong gia đình; và nhóm quan hệ xã hội mà gia đình là chủ thể.
Xét ở mức độ cụ thể, hệ thống các quy phạm pháp luật về gia đình bao gồm các
nhóm quy phạm sau:
- Các quy định của Hiến pháp. Hiến pháp là đạo luật cơ bản có giá trị pháp lý
cao nhất, những quy định của Hiến pháp là cơ sở để hình thành và phát triển hệ thống
pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về gia đình nói riêng. Các Hiến pháp của
nước ta đều có các quy định chung về những nguyên tắc, những giá trị mà Hiến pháp
và pháp luật bảo vệ và bảo đảm thực hiện, về các quyền cơ bản của con người, quyền


10

công dân và những quy định trực tiếp về gia đình là cơ sở cho việc xây dựng và phát
triển gia đình. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 có rất nhiều quy định cụ thể về các
nguyên tắc và về những quyền cơ bản của của con người, công dân làm cơ sở cho việc
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về gia đình.
- Các quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Đây là hệ thống các quy phạm


11

Nhóm 5: Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hỗ trợ các gia đình có
hoàn cảnh khó khăn.
Nhóm 6: Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phát triển kinh tế gia đình.
Nhóm 7: Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình
quản lý nhà nước về gia đình.
Như trong phần phạm vi nghiên cứu đã nêu, Luận án tập trung nghiên cứu 4
nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ 1,2,3,7 bởi vì việc hoàn thiện
pháp luật điều chỉnh 4 nhóm quan hệ này trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu quan
trọng hàng đầu được nêu trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn 2030, đó là: “Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia
đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật
về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các
tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình”.
2.1.4. Vai trò của pháp luật về gia đình
Một là: Pháp luật về gia đình là phương tiện để thể chế hoá quan điểm, chủ
trương của Đảng về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam.
Hai là: Pháp luật về gia đình là phương tiện bảo đảm hiệu lực và hiệu quả quản
lý nhà nước về gia đình.
Ba là: Pháp luật về gia đình là phương tiện góp phần xây dựng gia đình no ấm,
hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ, làm nền tảng cho cộng đồng xã hội văn minh.
Bốn là: Pháp luật về gia đình có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền
con người, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của các thành viên gia đình; đảm
bảo sự phát triển lành mạnh của trẻ em; đồng thời đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.
2.2. KHÁI NIỆM VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM

2.2.1. Khái niệm về tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về

năng lực xây dựng pháp luật. Trước hết, các cơ quan xây dựng pháp luật về gia đình
phải nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng về gia đình. Trên cơ sở đó, xác định rõ
ràng mục tiêu của văn bản, phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của văn bản quy
phạm pháp luật mà mình có trách nhiệm xây dựng. Đặc biệt, năng lực phân tích chính
sách, xây dựng báo cáo tác động của văn bản pháp luật về gia đình tới đời sống có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật.
Việc xây dựng các phương án điều chỉnh, phân tích, so sánh các phương án, cung cấp
số liệu, dữ liệu cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân đóng góp ý kiến cho dự thảo văn
bản pháp luật cũng lý văn bản là khâu cần thiết để bảo đảm tính phù hợp và khả thi của
văn bản pháp luật về gia đình. Tiếp đó, trình độ, kỹ năng tiếp thu, chỉnh lý văn bản, kỹ
thuật trình bày các quy phạm pháp luật sao cho hợp lý, khoa học, lô gic là yếu tố chi
phối chất lượng pháp luật về gia đình.
2.3.3. Yếu tố về ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý
Ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật, là nhân tố thúc đẩy việc thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội, là cơ sở
bảo đảm áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật.


13

Văn hóa pháp lý (còn gọi là văn hóa pháp luật) được hiểu “là sự hiểu biết và
chuyển hóa các quy phạm pháp luật vào hành vi ứng xử của con người”.
Ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của các chủ thể có tác động ảnh hưởng tích
cực hoặc tiêu cực đến hoàn thiện pháp luật về gia đình.
2.3.4. Vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan, tổ chức xã
hội tham gia cong tác gia đình
Pháp luật về gia đình hiện hành quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà
nước và một số cơ quan, tổ chức khác trực tiếp liên quan đến gia đình. Đó là các cơ
quan: Bộ LĐTB&XH, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Hội LHPN Việt Nam,
UBVCVĐXH của Quốc hội, UBQGVSTBCPN Việt Nam...

thực chất hơn.
3.1.2. Giai đoạn sau đổi mới
Pháp luật về gia đình ở Việt Nam giai đoạn sau đổi mới đã có những quy định
tương đối rõ về vị trí và vai trò của gia đình, quản lý nhà nước về gia đình, bình đẳng
giới, phòng chống bạo lực gia đình. Những quy định đó được thể hiện trong Hiến
pháp, luật và các văn bản dưới luật.
Tuy nhiên, pháp luật về gia đình giai đoạn này còn nhiều bất cập: Nhiều quy
định của pháp luật về gia đình chưa phù hợp điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Một
số quy định thể hiện sự nóng vội, tính duy ý chí, tính bao cấp của Nhà nước trong
nhiều lĩnh vực. Pháp luật về gia đình chưa phát huy được tiềm năng, sự đóng góp và
trách nhiệm của gia đình trong xây dựng và thực hiện pháp luật về gia đình; Nhiều quy
định không khả thi, quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Điều kiện bảo
đảm cho việc thực hiện pháp luật về gia đình, đặc biệt là pháp luật về bình đẳng nam,
nữ trong giai đoạn này là rất khó khăn nên kết quả thực hiện pháp luật về bình đẳng
giới còn hạn chế.
Mặt khác, trình độ năng lực quản lý nhà nước, điều hành kinh tế, xã hội của
nhiều cán bộ các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị còn hạn chế, lúng túng, nặng theo
Nghị quyết, mang tính phong trào, chưa tuân theo pháp luật; những vi phạm pháp luật
về gia đình trên các lĩnh vực chưa được thống kê, xem xét, xử lý đúng pháp luật. Đặc
biệt, về mặt nhận thức, định kiến giới, “trọng nam khinh nữ” vẫn tồn tại trong suy nghĩ
và thói quen của nhiều cán bộ, nhân dân, kể cả đối với không ít phụ nữ. Nhìn chung
pháp luật về gia đình giai đoạn này vẫn còn thiếu tính hệ thống, thiếu đầy đủ và toàn
diện. Chẳng hạn như thiếu các quy phạm pháp luật quy định cụ thể, chi tiết về các chức
năng của gia đình và chế độ pháp lý của việc thực hiện các chức năng của gia đình.
Những quy phạm pháp luật về vị trí và vai trò của gia đình thường được quy định đơn
lẻ, rải rác trong các văn bản điều chỉnh những quan hệ xã hội khác nhau mà chưa được
quy định độc lập, tập trung trong văn bản riêng.
3.2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY


đắn, toàn diện của Nhà nước về bình đẳng giới:
Thứ ba: Pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình quy định rõ ràng, đầy đủ các
nội dung bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình, phù hợp Hiến pháp, tương thích với
các công ước, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Thứ tư: Pháp luật hiện hành đã quy định rõ ràng, cụ thể về các hành vi vi phạm
pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình.
3.2.1.4. Pháp luật về vai trò và trách nhiệm của gia đình trong phòng chống
tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình
Thứ nhất: Pháp luật về gia đình đã đề cao vai trò của gia đình trong phòng,


16

chống tệ nạn ma tuý
Thứ hai: Về vai trò và trách nhiệm của gia đình trong đấu tranh phòng chống tệ
nạn mại dâm
Thứ ba: Pháp luật về gia đình đề cao vai trò và trách nhiệm của gia đình trong
đấu tranh phòng chống HIV/AID
3.2.2. Hạn chế của pháp luật về gia đình.
Thứ nhất: Một số quy định pháp luật về gia đình còn thiếu rõ
ràng, minh bạch.
Pháp luật về gia đình còn tồn tại một số quy định chưa rõ ràng về các hành vi
bạo lực gia đình và đối tượng của bạo lực gia đình.
Chưa có sự tổng hợp những hành vi bị coi là “bạo lực gia đình” được quy định
tại những văn bản pháp luật khác nhau để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật về
PCBLGĐ.
Thứ hai: Pháp luật về gia đình còn tồ tại một số quy định thiếu hợp lý.
Ví dụ: Quy định về nguồn ngân sách Nhà nước cho công tác quản lý nhà nước
về gia đình chưa hợp lý và chưa được quan tâm đúng mức; quy định về hình thức phạt
tiền trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình

Công văn, Hướng dẫn, Quy chế… nên giá trị pháp lý thấp. Một số quy định trong các
văn bản luật chỉ dừng ở mức độ nguyên tắc chung, mang tính luật khung, thiếu các quy
định cụ thể và tính quy phạm chưa cao.
3.2.3. Đánh giá kết quả và hạn chế trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về
gia đình
3.2.3.1. Những kết quả đạt được
- Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về gia đình được quan
tâm với nhiều hình thức phong phú, đa dạng.
- Việc tổ chức, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác gia đình được tăng cường.
- Hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về gia đình được
chú trọng.
3.2.3.2. Một số hạn chế trong thực hiện pháp luật về gia đình
Thứ nhất: Công tác tổng kết báo cáo đánh giá của Chính phủ, Bộ, ngành cũng
như chính quyền địa phương về công tác quản lý nhà nước về gia đình, về công tác gia
đình chưa được coi trọng đúng mức.
Thứ hai: Việc thực hiện các quy định pháp luật về bình đẳng giới còn nhiều
bất cập.
Thứ ba: Thực hiện pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình chưa có sự
chuyển biến mạnh mẽ.
Những hạn chế trên là do các nguyên nhân sau đây:
Một là: Một số đơn vị, địa phương chưa quan tâm thúc đẩy công tác gia đình,
chưa thực sự gắn công tác này với hoạt động quản lý của các cấp, ngành.


18

Hai là: Các cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp không thường xuyên kiểm tra,
phát hiện, chấn chỉnh, xử lý kịp thời đối với những vi phạm pháp luật về gia đình. Đặc
biệt, chế tài đối với hành vi bạo lực gia đình, bất bình đẳng giới và vi phạm pháp luật
PCBLGĐ và bình đẳng giới về gia đình khác chưa mạnh, chưa đủ mức nghiêm minh

19

Ba là: Hoạt động nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật về
gia đình chưa được quan tâm đúng mức. Việc tham khảo, lấy ý kiến của các tầng lớp
nhân dân đối với pháp luật về gia đình chưa được tiến hành thường xuyên, chưa hiệu
quả; một số cơ quan chủ trì soạn thảo chưa chủ động nghiên cứu xây dựng chính sách;
thiếu nguồn thông tin và cơ sở dữ liệu xây dựng pháp luật. Đặc biệt, kiến thức và kỹ
năng về lồng ghép giới của đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng và hoạch định chính
sách, pháp luật về gia đình còn hạn chế.
Chương 4
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY

4.1.1. Quán triệt đầy đủ các quan điểm của Đảng trong việc hoàn thiện
pháp luật về gia đình
Pháp luật về gia đình ở Việt Nam là sự thể chế hóa quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về gia đình. Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về gia đình phải
quán triệt đầy đủ, kịp thời quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về gia đình. Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương, quan điểm rất sâu sắc và toàn diện về gia
đình. Trong quá trình hoàn thiện pháp luật về gia đình, các cơ quan có thẩm quyền xây
dựng pháp luật cần quán triệt một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời những quan điểm
nêu trên nhằm sớm hoàn thành mục tiêu xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh
phúc, tiến bộ.
4.1.2. Tăng cường tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật về gia đình trong
hệ thống pháp luật, đồng thời nâng cao kỹ năng lập pháp, lập qui trong việc hoàn
thiện pháp luật về gia đình.
Tính thống nhất là đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy
phạm pháp luật về gia đình không mâu thuẫn, chồng chéo, triệt tiêu lẫn nhau, bảo đảm

quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Công ước CEDAW, Công ước về quyền con
người, Công ước quyền trẻ em…) trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
gia đình
Trong xu thế toàn cầu hóa, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về gia đình
phải đảm bảo cho pháp luật trong nước tương đồng với pháp luật quốc tế. Quá trình đó
đòi hỏi phải dựa trên những nội dung và nguyên tắc của pháp luật quốc tế, để từ đó có
sự so sánh, lựa chọn những qui phạm nào phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế
chính trị, văn hóa; những quy phạm pháp luật nào khắc phục được sự khác biệt về
truyền thống, phong tục tập quán, khác biệt về chế độ chính trị giữa các nước. Việc
hoàn thiện pháp luật về gia đình trong bối cảnh hội nhập quốc tế phải bảo đảm hài hòa
lợi ích, chủ quyền quốc gia và nghĩa vụ quốc tế đốivới các công ước quốc tế mà Việt
Nam đã tham gia ký kết và phê chuẩn.
4.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY

4.2.1. Tổng kết thực tiễn thực hiện pháp luật về gia đình


21

Định kỳ tổng kết thực trạng, kết quả thực hiện các văn bản hiện hành của Đảng,
Nhà nước liên quan đến gia đình và công tác gia đình để trên cơ sở đó tiếp tục hoàn
thiện hệ thống chính sách, pháp luật về gia đình và công tác gia đình, tạo cơ sở cho
việc bảo đảm, tác động, hỗ trợ, thúc đẩy việc xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến
bộ, hạnh phúc.
Việc tổng kết phải đảm bảo đánh giá một cách khách quan, toàn diện đầy đủ,
chính xác quá trình thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam trên cơ sở bám
sát mục tiêu, yêu cầu, nội dung của Chiến lược; bảo đảm sự chỉ đạo chặt chẽ của các
cấp ủy đảng, sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan; việc
đánh giá kết quả thực hiện cần căn cứ vào quan điểm chỉ đạo được xác định trong

Hai là: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về PCBLGĐ
- Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về khái niệm, phân loại bạo lực
gia đình và đối tượng của hành vi bạo lực gia đình.
-Cần xác định rõ các đối tượng của hành vi bạo lực gia đình, từ đó có thể bảo vệ
các nạn nhân bạo lực gia đình một cách triệt để.
- Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm đối với hành vi bạo lực gia đình.
Sửa đổi một số quy định về hình thức phạt tiền, bổ sung hình thức phạt lao động
công ích để xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình.
Ba là: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình.
- Sửa đổi quy định về giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.
- Sửa đổi, bổ sung quy định trong Nghị định 70/2009/NĐ - CP quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới.
- Sửa đổi, bổ sung quy định trong Nghị định 48/2009/NĐ - CP quy định về các
biện pháp bảo đảm bình đẳng giới.
Bốn là: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với gia đình,
ngăn chặn tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình.
Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan
tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Luật Hôn nhân
và gia đình (2014), Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; Nghị định số
08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày
12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an
toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo
lực gia đình; Nghị định số 02/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013 quy định về công tác gia
đình... Vụ Gia đình, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trung ương Hội
Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, các cơ quan, đơn vị liên quan thuộc Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch tiến hành xây dựng và ban hành Thông tư của Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch hướng dẫn xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình hạnh phúc, phát
triển bền vững.
Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch cần chủ động trong chủ trì, phối hợp với các

trị thực hiện pháp luật về gia đình.
Ba là: Tăng cường công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về
gia đình.
Bốn là: Đẩy mạnh xã hội hóa công tác gia đình.
Năm là: Tăng cường các nguồn lực và các điều kiện đảm bảo phục vụ việc tổ
chức thực hiện pháp luật về gia đình.
KẾT LUẬN
Pháp luật về gia đình là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật chứa đựng
trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status