LUẬN VĂN:
Tăng cường quản lý Nhà nước
bằng pháp luật về xuất bản ở
Việt Nam hiện nay Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Xuất bản có vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội nói chung,
văn hóa nói riêng. Các quan hệ xã hội về xuất bản rất đa dạng, phong phú và phức
tạp. Nó đan xen giữa văn hóa - tư tưởng với kinh tế, giữa lao động sáng tạo của tư
Từ những hạn chế trên đòi hỏi chúng ta phải tăng cường QLNN đối với
xuất bản. Tăng cường QLNN đối với xuất bản được tiến hành trên nhiều phương
diện. Pháp luật xuất bản là công cụ quan trọng nhất trong QLNN về xuất bản. Tuy
nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy: Bên cạnh những mặt ưu điểm, tích cực, pháp
luật xuất bản còn chung chung, mang tính nguyên tắc, lạc hậu, không phù hợp với
thực tiễn hoạt động xuất bản hiện nay. Văn bản pháp luật ban hành nhiều, nhưng
một số quy định còn chồng chứo, khác biệt nhau; Chính vì vậy, tăng cường
QLNN bằng pháp luật về xuất bản là một đòi hỏi khách quan, vừa có ý nghĩa cấp
thiết vừa mang ý nghĩa lâu dài. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Tăng
cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay" để
nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, số công trình nghiên cứu được công bố về quản lý xuất
bản không nhiều. Hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ do Phân viện Báo chí và
tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì tiếp cận từ góc
độ quản lý chung. Đó là đề tài: "Đổi mới phương thức xuất bản sách trong điều kiện
kinh tế thị trường" và đề tài: "Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt
động xuất bản sách ở nước ta hiện nay". Luận án phó tiến sĩ của nghiên cứu sinh
Đường Vinh Sường về: "Đổi mới quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các nhà
xuất bản trong bước chuyển sang cơ chế thị trường". Tiến sĩ Vũ Mạnh Chu với đề
tài: "Pháp luật về xuất bản ở Việt Nam, quá trình thực hiện và đổi mới trong điều
kiện cơ chế thị trường định hướng XHCN".
Các công trình trên chỉ mới nghiên cứu những khía cạnh có liên quan tới
QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách đầy đủ cả về mặt lý luận và thực tiễn về QLNN bằng pháp luật đối với xuất
bản. Có thể nói, luận văn này là công trình đầu tiên được nghiên cứu tương đối hệ
thống và toàn diện vấn đề tăng cường QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt
đối với văn hóa nói chung và hoạt động xuất bản nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện bằng phương pháp
nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; những phương pháp
kết hợp lý luận và thực tiễn; phân tích và tổng hợp lịch sử cụ thể; cùng một số
phương pháp khác của khoa học quản lý.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn nghiên cứu toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản của quản lý
Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản. Từ đó, luận văn xác định
những nội dung cụ thể trong lĩnh vực xuất bản cần có sự QLNN bằng pháp luật.
Trên cơ sở đó, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng QLNN bằng pháp
luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay và đưa ra những đề xuất nhằm tăng cường
hơn nữa việc QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở
khoa học cho hoạt động nghiên cứu lý luận về QLNN bằng pháp luật về xuất bản.
Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, học tập trong hệ
thống các trường chính trị. Đặc biệt, những kết quả đó có ý nghĩa góp phần tăng
cường QLNN về xuất bản ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chương, 8 tiết.
Chương 1
Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam
hiện nay
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước bằng pháp luật
Thứ hai, yếu tố chính trị. Là việc một người, nhiều người, hay một cơ
quan, một tổ chức đặt ra các mục tiêu, đường lối và tạo ra một môi trường chính
trị nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra.
Thứ ba, yếu tố quyền uy. Đó là tổng thể của quyền lực và uy tín.
Quyền lực là công cụ để quản lý, nó bao gồm hệ thống pháp luật, điều lệ,
kỷ luật, kỷ cương; hoạt động theo một nguyên tắc nhất định, có sự phân công
rõ ràng trên cơ sở khoa học quản lý; uy tín là phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính
trị, kiến thức, năng lực của người quản lý.
Thứ tư, yếu tố thông tin. Trong công tác quản lý, thông tin là căn cứ để
ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định có hiệu quả.
Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu QLNN: "là sự tác động, tổ
chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và
hành vi hoạt động của con người; duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và
trật tự pháp luật để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa".
QLNN có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng: QLNN là hoạt động của toàn thể bộ máy nhà nước
nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại. Như vậy, hoạt động của tất cả
các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội
đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các
cấp) đều là hoạt động QLNN.
Theo nghĩa hẹp: QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng
quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người do các cơ quan hành chính Nhà nước (còn gọi là cơ quan quản lý Nhà
nước) thực hiên để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp
luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhà nước.
- Phải tiến hành cuộc đấu tranh cương quyết, không khoan nhượng chống
các hành vi vi phạm pháp luật ở bất cứ cấp nào, cương vị nào.
- Phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ ba loại biện pháp là: hành chính, kinh
tế, giáo dục.
Pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước. Vì vậy, để QLNN đối với xã
hội có hiệu quả thì pháp luật phải đúng đắn. Nghĩa là pháp luật phải xuất phát từ
đường lối chính trị trong từng thời kỳ, phải phù hợp với các quy luật khách quan,
phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước.
Hai là: QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh là chủ yếu. Tổ chức là
một khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ xã hội giữa con người, giữa các tập
thể để thực hiện một quá trình quản lý xã hội. Tổ chức được hình thành do nhu
cầu quản lý, nó phải hoạt động và hoạt động có hiệu quả. Trong QLNN chức
năng tổ chức là quan trọng, vì không có tổ chức thì không quản lý được. Nhà
nước phải tổ chức hợp lý để mỗi người đều có một vị trí tích cực và đóng góp
đối với xã hội. Lênin đã từng viết: "Để quản lý tốt cần phải biết tổ chức về mặt
thực tiễn" [18, tr.101].
QLNN nhằm tác động, điều chỉnh bằng pháp luật và các quyết định, quản
lý dưới hình thức các quy chế, tiêu chuẩn, biện pháp; nhằm tạo sự phù hợp
giữa các chủ thể và khách thể quản lý, tạo sự cân bằng, cân đối giữa các mặt hoạt
động của các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người.
Ba là: QLNN mang tính khoa học, kế hoạch. Hoạt động QLNN là hoạt
động mang tính chủ quan của con người, nhưng dựa trên những yêu cầu khách
quan. Vì vậy, QLNN phải mang tính khoa học, chủ động, sáng tạo trong việc
điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để tổ
chức lại nền sản xuất xã hội và cuộc sống của con người trên địa bàn mình theo
sự phân công, phân cấp, đúng thẩm quyền, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
sở pháp luật, Nhà nước phát huy quyền lực, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của
các tổ chức, cơ quan, nhân viên nhà nước và mọi công dân. Pháp luật còn quy
định nguyên tắc tổ chức, hoạt động, quyền hạn và nghĩa vụ của các cơ quan,
nhân viên nhà nước, trên cơ sở đó Nhà nước tự hoàn thiện mình. Chủ tịch Hồ
Chí Minh cũng đã khẳng định: "Trăm điều phải có thần linh pháp quyền" [34,
tr.438].
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng: pháp luật là công cụ quan
trọng nhất của QLNN. Quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước gắn
liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của pháp luật. Điều 12 - Hiến pháp 1992
của nước ta khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật" [35, tr.17].
Để dùng pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội, Nhà nước phải xây
dựng, ban hành ra pháp luật. Có thể nói, xây dựng pháp luật là: "mắt khâu đầu
tiên của cơ chế QLNN bằng pháp luật" [22, tr.301]. Sau đó, Nhà nước phải tổ
chức thực hiện pháp luật, tức là các cơ quan Nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật
để điều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, của công dân nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội mà
Nhà nước đề ra. Và cuối cùng, Nhà nước phải tiến hành các hoạt động bảo vệ
pháp luật, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực
hiện nghiêm minh trong đời sống, nhằm giữ gìn an ninh, trật tự xã hội.
QLNN bằng pháp luật được thực hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống.
Trong mỗi một lĩnh vực quản lý, Nhà nước tác động vào những nhóm quan hệ xã
hội cơ bản bằng hệ thống pháp luật tương ứng. Bởi vậy, QLNN bằng pháp luật
về xuất bản cũng chỉ là một nội dung của QLNN bằng pháp luật về xuất bản
được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp.
Theo nghĩa rộng: QLNN bằng pháp luật về xuất bản và toàn bộ hoạt
động của bộ máy nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật xuất bản để điều chỉnh mọi
động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật xuất bản
để điều chỉnh hoạt động xuất bản, giữ gìn trật tự, kỷ cương trong hoạt động xuất
bản, bảo vệ pháp luật xuất bản, nhằm đạt được các mục tiêu trong hoạt động xuất
bản mà Nhà nước đã đề ra.
- Theo nghĩa hẹp: QLNN bằng pháp luật về xuất bản là hoạt động của
Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và các cơ quan quản
lý chuyên môn về xuất bản trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
xuất bản (văn bản dưới luật), dựa trên cơ sở pháp luật để quản lý hoạt động xuất
bản như: đăng ký kế hoạch xuất bản; nhận, đọc, kiểm tra nội dung xuất bản phẩm
lưu chiểu; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự
nghiệp xuất bản đồng thời thực hiện kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố
cáo và xử lý vi phạmpl trong hoạt động xuất bản.
Như vậy, trong QLNN bằng pháp luật về xuất bản theo nghĩa hẹp thì chủ
thể quản lý hẹp hơn nhiều so với QLNN bằng pháp luật về xuất bản theo nghĩa
rộng. Để nghiên cứu và đưa ra các giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật
về xuất bản một cách toàn diện dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp
luật, khái niệm QLNN bằng pháp luật về xuất bản xin được hiểu theo nghĩa rộng.
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất
bản ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là mở đường cho hoạt động
sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học để công bố dưới hình
thức xuất bản.
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ xuất bản rất đa dạng, phong
phú và phức tạp. Nhu cầu về tự do, sáng tạo ra các giá trị khoa học, văn học,
nghệ thuật là nhu cầu tự nhiên. Các sản phẩm sáng tạo có giá trị chỉ được thực
hiện khi tư duy trong tình trạng hưng phấn cao. Mọi sự gò bó và khống chế là
ngăn chặn hoạt động sáng tạo. Nhưng sự an toàn của tự do ngôn luận, của tự do
tư duy sáng tạo, của bình đẳng trong việc công bố và phổ biến tác phẩm phải
được bảo đảm bằng pháp luật. Đòi hỏi này bắt nguồn từ quyền con người, với tư
cho tự do sáng tạo, bảo vệ, kiểm soát các hoạt động tự do sáng tạo, đồng thời
ngăn chặn những hành vi xâm hại tới quyền tự do sáng tạo, đồng thời ngăn chặn
những hành vi xâm hại tới quyền tự do sáng tạo.
Thứ hai, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là bảo tồn, phát triển nền văn
hóa dân tộc, hiện đại, nhân văn; tiếp thu tinh hoa văn hóa và tiến bộ và tiến bộ về
khoa học - công nghệ của nhân loại.
Văn minh của loài người được nhân loại đánh giá ở các nền văn hóa có
bản sắc, ở các cuộc cách mạng khoa học đã diễn ra trong lịch sử. Mỗi dân tộc có
cội nguồn, có truyền thống riêng, được phản chiếu lên tấm gương văn hóa. Nó là
gia sản quá khứ, tạo nên dòng chảy cho hiện tại và tương lai dân tộc. Đảng và
Nhà nước ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội. Vì vậy, việc bảo tồn, kế thừa, phát triển những giá trị trong di sản
văn hóa dân tộc là quốc sách, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp 1946,
1959, 1980 và 1992.
Nhà nước khuyến khích và bồi dưỡng tài năng nghiên cứu, sáng tạo ra
các giá trị tinh thần mới, làm giàu vốn văn hóa dân tộc. Đồng thời, trao vào tay
họ các quyền cao cả mang tính nhân văn sâu sắc trong hoạt động văn hóa nói
chung, xuất bản nói riêng. Và cũng vì vậy, QLNN bằng pháp luật về xuất bản đã
đưa ra các chế tài nghiêm khắc đối với những hành vi truyền bá xuất bản phẩm
có nội dung trái với thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp
của dân tộc, nhằm bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.
Nhu cầu giao lưu văn hóa, tiếp thu tinh hoa từ các nền văn hóa của nhân
loại là nhu cầu của bản thân nền văn hóa dân tộc. Mặt khác, trong thời đại bùng
nổ thông tin hiện nay, với sự phát triển nhảy vọt của Internet, của khoa học và
công nghệ, thì việc nhận thức và ứng dụng các tiến bộ mới của khoa học là đòi
hỏi bức thiết. Mỗi dân tộc phải biết làm giàu bởi trí thức của nhân loại. Điều đó
điều kiện kinh tế thị trường.
Có thể nói, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là quản lý hoạt động kinh
tế trong văn hóa, tư tưởng, đồng thời quản lý hoạt động văn hóa, tư tưởng trong
cơ chế thị trường. Đó là hai mặt của một số vấn đề phải được quản lý một cách
hài hòa, đảm bảo cho xuất bản hoạt động đúng quy luật, phát triển theo trật tự
của pháp luật.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở
Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong
QLNN đối với xuất bản.
QLNN bằng pháp luật luôn luôn là phương tiện triển khai thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng trong QLNN đối với bất kỳ lĩnh vực nào. QLNN
bằng pháp luật về xuất bản triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng
trong QLNN về xuất bản.
Tương ứng với từng thời kỳ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
của đất nước, Đảng ta có những chủ trương, đường lối trong QLNN bằng pháp
luật đối với xuất bản. Sau khi những chủ trương, đường lối ra đời, các văn bản
pháp luật của Nhà nước sẽ thể chế hóa và ghi nhận các chủ trương, đường lối đó
vào trong các chế định, các quy định pháp luật. Khi các chủ trương, đường lối
của Đảng đã thể chế hóa vào pháp luật, một mặt, các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền tổ chức thực hiện chúng trong thực tế bằng các hoạt động chuyên môn.
Mặt khác, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ các quy định của pháp
luật đó thông qua các hoạt động thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố
cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản. Như vậy, các chủ
trương, đường lối của Đảng trước hết được cụ thể hóa, ghi nhận vào pháp luật,
rồi được tổ chức thực hiện trong thực tế, đồng thời được bảo vệ bằng các hoạt
không khí lập pháp đó, Luật xuất bản đầu tiên đã được Quốc hội khóa IX kỳ họp
thứ 3 thông qua ngày 07-7-1993.
Việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới, đặc biệt là tin học đã
dẫn đến sự phát triển nhảy vọt trong ngành in và xuất bản với sự đa dạng của loại
hình xuất bản phẩm, nhiều quan hệ xã hội mới được hình thành trong hoạt động
xuất bản. Sách xấu xuất hiện và lưu hành tràn lan trên thị trường, tình trạng
thương mại hóa đã trở thành xu thế trong hoạt động xuất bản, gây tác hại không
nhỏ tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm và đời sống tinh thần của nhân dân. Trong
khi đó các cơ quan Nhà nước liên quan buông lỏng quản lý, thiếu những biện
pháp hữu hiệu để ngăn chặn và lập lại trật tự. Để thể chế hóa các quan điểm chỉ
đạo của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động xuất bản thể hiện trong Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Chỉ
thị 22 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý
công tác báo chí, xuất bản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất bản
phát triển đúng định hướng chính trị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng
thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý xuất bản và chất lượng xuất bản phẩm.
Bên cạnh đó, trong xu thế giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay, việc giao lưu
văn hóa giữa các quốc gia, các dân tộc là rất cần thiết. Đó là những đòi hỏi đã
được đáp ứng từ việc ban hành Luật xuất bản 2004.
Triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng trong QLNN về
xuất bản có vai trò rất quan trọng, làm tiền đề để thực hiện các vai trò khác trong
hoạt động QLNN bằng pháp luật về xuất bản. Vai trò này không được thực hiện
tốt thì hoạt động QLNN về xuất bản cũng không thể triển khai tốt các vai trò
khác. Để quản lý hoạt động xuất bản có hiệu quả, trước hết các chủ trương, chính
sách phải phản ánh được những đòi hỏi của thực tiễn khách quan, của xu thế phát
hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ra đời từ năm 1886 (là tổ chức của Liên hợp quốc từ
1974) để bảo vệ quyền tác giả thuộc gần 100 nước thành viên.
ở Việt Nam, pháp luật là phương tiện bảo vệ lợi ích hợp pháp của những
người bằng lao động của mình đã sáng tạo ra tác phẩm. Các quy định về quyền
của người sáng tạo, người quản lý và cá nghĩa vụ tương ứng phát sinh từ các
quyền đó, cùng với các quy định về cơ chế đảm bảo thực hiện, là cơ sở pháp lý
cho việc bảo hộ quyền sở hữu tác phẩm. Các tác giả được Nhà nước tạo phương
tiện để đấu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Các tranh chấp về quyền
tác giả, các hành vi xâm hại lợi ích vật chất và tinh thần của tác giả được xét xử
tại Tòa án dân sự. Như vậy, thông qua việc bảo hộ quyền tác giả, Nhà nước tiếp
tục khuyến khích năng lực sáng tạo của văn nghệ sĩ, trí thức để có nhiều sản
phẩm văn hóa tinh thần có giá trị phục vụ xã hội.
Thứ tư, QLNN bằng pháp luật về xuất bản chống thương mại hóa xuất
bản, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng xuất bản phẩm.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, hoạt động xuất bản đã khởi sắc và
có một diện mạo mới, phục vụ tốt đời sống tinh thần của nhân dân với những
xuất bản phẩm phong phú về nội dung và hình thức. Tuy nhiên, mặt trái của cơ
chế thị trường đã thúc ép các chủ thể xuất bản chỉ chú ý tới các xuất bản phẩm
có khả năng thanh toán, đẩy hoạt động xuất bản tìm kiếm các khả năng thanh
toán có lợi nhuận cao, không lường đến hậu quả chính trị, xã hội có thể xảy ra.
QLNN bằng pháp luật về xuất bản là phải hạn chế đến mức tối đa các hoạt động
xuất bản chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, đặc biệt là phải ngăn chặn xu
hướng thương mại hóa hoạt động xuất bản. Nếu chúng ta quản lý tốt hoạt động
xuất bản, ngăn chặn được xu hướng thương mại hóa sẽ bảo vệ được lợi ích của
người tiêu dùng xuất bản phẩm. Họ được hưởng thụ các xuất bản phẩm có chất
lượng cao trong nội dung và hình thức. Như vậy, pháp luật phải quy định cụ thể,
và cách tìm hiểu đạt hiệu quả cao và phổ biến là trao đổi các xuất bản phẩm cho
nhau. QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam có vai trò giải quyết vấn đề
này thông qua việc xác định rõ các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài được
xuất bản các tài liệu, tác phẩm tại Việt Nam; điều kiện để các nhà xuất bản nước
ngoài đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam; quy định rõ các thủ tục về xuất nhập
khẩu và xuất bản phẩm.
Nhằm giới thiệu văn hóa Việt Nam với thế giới, góp phần tuyên truyền
đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, Nhà nước ta khuyến khích các
nhà xuất bản, các cơ sở phát hành xuất bản phẩm xuất khẩu xuất bản phẩm ra
nước ngoài. Việc xuất khẩu các xuất bản phẩm hợp pháp ra nước ngoài không
phải xin phép các cơ quan QLNN về hoạt động xuất bản. Đây là một điểm mới
cơ bản nhằm đưa hoạt động xuất bản phát triển, góp phần thúc đẩy quá trình hợp
tác và hội nhập quốc tế.
Như vậy, QLNN bằng pháp luật về xuất bản vừa có vai trò tạo điều kiện
thuận lợi cho các nhà xuất bản, các tổ chức, cá nhân nước ngoài làm thủ tục đặt
văn phòng đại diện, xuất bản các tài liệu, tác phẩm tại Việt Nam, đồng thời giảm
bớt các thủ tục hành chính để việc xuất khẩu các xuất bản phẩm của Việt Nam ra
nước ngoài đạt hiệu quả cao. Điều đó có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy quá trình
hội nhập, hợp tác quốc tế của Việt Nam diễn ra thuận lợi.
1.2. Nội dung và các nguyên tắc của quản lý nhà nước bằng pháp
luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
1.2.1. Nội dung của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản
Nội dung của QLNN bằng pháp luật về xuất bản là cơ sở lý luận quan
trọng để đánh giá thực trạng QLNN bằng pháp luật về xuất bản. Vì vậy, nghiên
cứu lý luận về QLNN bằng pháp luật về xuất bản không thể không nghiên cứu
nội dung này. Nội dung của QLNN bằng pháp luật về xuất bản bao gồm nhiều
quan Nhà nước có thẩm quyền, trước hết, phải nói đến hoạt động ban hành các
Luật, các Nghị quyết về tổ chức và hoạt động xuất bản của Quốc hội và ủy ban
thường vụ Quốc hội, như: Luật xuất bản 1993; Luật xuất bản 2004. Tiếp theo là
việc ban hành các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ; các Quyết định, Chỉ thị
của Thủ tướng Chính phủ nhằm cụ thể hóa các quy định trong các luật về tổ chức
và hoạt động xuất bản. Sau đó các bộ, các cơ quan ngang bộ ban hành các thông
tư, bộ trưởng ban hành các quyết định, chỉ thị để điều chỉnh các quan hệ cụ thể
trong lĩnh vực xuất bản. Ngoài ra, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
ban hành các Nghị quyết, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân ban hành các
quyết định để giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực xuất bản.
Thứ hai, các cơ quan Nhà nước tổ chức thực hiện các quy định của pháp
luật xuất bản. Các cơ quan này bao gồm:
+ Hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định và thực hiện quyền
giám sát tối cao đối với mọi hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước.
+ Hoạt động của Chính phủ, UBND cấp tỉnh, Bộ Văn hóa thông tin; Sở
Văn hóa thông tin trong: quản lý, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự
nghiệp xuất bản; quản lý việc thực hiện kế hoạch xuất bản; lưu chiểu, kiểm tra
lưu chiểu; tổ chức nhân sự
Có thể nói, trong QLNN bằng pháp luật về xuất bản, hoạt động xây dựng
pháp luật là hết sức cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là
pháp luật xuất bản được thực hiện trong thực tế đời sống xã hội có đạt hiệu quả
cao hay không. Lênin từng khẳng định: "Sự quan trọng của pháp luật không phải
ở chỗ chúng được ghi trên giấy, mà là ở chỗ được đem ra thi hành [32, tr.31].
Pháp luật được thi hành là một trong những yêu cầu cơ bản của việc xây dựng
một nền pháp chế, vì một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng một
nền pháp chế là pháp luật phải được thực hiện hóa trong đời sống xã hội.
nhân dân; Tòa án nhân dân, cơ quan công an, thanh tra Hoạt động của các cơ
quan này nhằm đấu tranh, ngăn ngừa, loại trừ các hành vi vi phạm pháp luật, bảo
vệ lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
Trong QLNN bằng pháp luật về xuất bản, hoạt động bảo vệ pháp luật
được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: Bảo vệ pháp luật là hoạt động nhằm phát hiện, đấu
tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật xuất bản của các cơ quan nói
trên.
Theo nghĩa hẹp: Là hoạt động thanh tra việc xuất bản, in, phát hành;
thanh tra việc thi hành Luật xuất bản; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật xuất bản do các cơ quan quản lý hành chính
trong lĩnh vực này tiến hành.
Để đảm bảo chức năng bảo vệ pháp luật trong QLNN bằng pháp luật về
xuất bản, các hoạt động thanh tra, xử lý các vi phạm pháp luật xuất bản phải
được tiến hành thường xuyên, liên tục, làm sáng tỏ và xử lý nghiêm minh, kịp
thời những hành vi vi phạm pháp luật đó.
Như vậy, thanh tra việc xuất bản, in và phát hành, giải quyết tranh chấp,
khiếu nại, tố cáo các vi phạm pháp luật xuất bản được quy định tại Điều 9 Luật
xuất bản hiện hành là hoạt động nhằm củng cố, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của
xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật xuất bản. Đó là một nội dung của
QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản ở nước ta.
1.2.2. Các nguyên tắc các quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất
bản ở Việt Nam hiện nay
Qua nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Hiến pháp và các văn bản pháp
luật xuất bản, chúng tôi thấy QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện
nay phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau: