NhỮng đẶc trưng cơ bẢn cỦa quẢn lý Nhà nưỚc bẰng pháp luẬt vỀ xuẤt bẢn - Pdf 17

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động xuất bản vừa là hoạt động văn hoá, tư tưởng, vừa là hoạt
động sản xuất vật chất. Nó là kết quả lao động sáng tạo của con người, là
phương tiện quan trọng phản ánh đời sống tinh thần, bộ mặt văn hoá của mỗi
dân tộc ở mọi thời đại.
Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Đảng và Nhà nước ta
luôn thực thi chính sách nhất quán, đặc biệt coi trọng quyền tự do, dân chủ
của nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản. Hiến pháp Nhà nước Việt
Nam và một loạt các điều luật, hệ thống văn bản dưới luật lần lượt ra đời
nhằm xây dựng một hành lang pháp lý hoàn chỉnh, tạo môi trường thuận lợi
cho hoạt động xuất bản phát triển đúng hướng, trên nền táng luật pháp. Tuy
nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, hệ thống
pháp luật nhiều năm tồn tại đã dần dần bộc lộ những thiếu sót, bất cập, chưa
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới.
Thực tiễn đã chứng minh việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh hoạt
động xuất bản là điều chỉnh hoạt động kinh tế trong lĩnh vực văn hoá - tư
tưởng, đồng thời cũng chính là điều chỉnh hoạt động văn hoá - tư tưởng trong
cơ chế thị trường. Bài viết sau đây có thể phần nào khái quát về pháp luật xuất
bản ở Việt Nam, một lĩnh vực hoạt động đa dạng và hết sức phong phú.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Khoa học quản lý,
đặc biệt xin cảm ơn thầy giáo TS.Bùi Đức Thọ đã chỉ bảo tận tình và giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do khả năng và kinh nghiệm có hạn
nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp và phê bình của các thầy cô.1
CHƯƠNG I

không phải là hoạt động đơn thuần kinh doanh.
Hoạt động xuất bản nhằm mục đích:
- Phổ biến những tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa
học, công nghệ, văn học, nghệ thuật; giới thiệu những di sản văn hoá dân tộc,
tinh hoa văn hoá thế giới; nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh
thần của nhân dân, mở rộng giao lưu văn hoá với các nước, góp phần vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia,
phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam.
1.2. Vai trò của xuất bản
- xuất bản - “bà đỡ” của các tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình
khoa học công bố dưới hình thức xuất bản phẩm.
- xuất bản - Phương tiện phản ánh đời sống tinh thần của nhân loại, và
mỗi quốc gia, bảo tồn và lưu truyền các sản phẩm văn hoá
Ngày nay trong điều kiện tiến bộ không ngừng của khoa học và
công nghệ, đã kéo theo sự phát triển không ngừng của văn hoá. Với sự đa
dạng về phương thức, phương tiện, loại hình và sản phẩm văn hoá, việc phổ
biến nhanh nhạy của các phương tiện thông tin đại chúng, đã làm cho không ít
người băn khoăn về việc tồn vong của xuất bản. Nhưng với vai trò như trình
bày trên, xuất bản vẫn sẽ tồn tại và phát triển cùng xã hội loài người. Nó sẽ
tiếp nhận các tiến bộ của khoa học và công nghệ, đa dạng hoá xuất bản phẩm,
đa năng hoá xuất bản phẩm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của
bạn đọc.

3
1.3. Đặc điểm của xuất bản
Phần này chỉ trình bày những đặc điểm cơ bản liên quan đến việc điều
chỉnh của pháp luật.
- xuất bản vừa là hoạt động văn hoá tư tưởng vừa là hoạt động kinh tế
Xét về phương diện mục đích và hiệu quả thì xuất bản hướng tới việc

công chúng các ý tưởng cao cả của giai cấp công nhân, về việc xây dựng một
xã hội tưong lai, với bộ máy chính quyền vững mạnh, xã hội công bằng văn
minh và thịnh vượng. Thông tin, và giải đáp kịp thời các vấn đề của quốc gia
và quốc tế. Vì vậy xuất bản góp phần giữ vững ổn định chính trị, định hướng
xã hội chủ nghiã.
* Hiệu quả kinh tế của việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật về xuất
bản.
Đối với xuất bản, hiệu quả kinh tế thể hiện trên các mặt sau: Quản lý
xuất bản bằng pháp luật là giải phóng lực lượng sản xuất trong ngành xuất
bản. Bởi vì bằng pháp luật đã tách biệt chức năng quản lý Nhà nước và chức
năng quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Sự tách biệt này tạo
quyền chủ động cho các cơ sở sản xuất kinh doanh xuất bản khai thác các
nguồn lực để mở rộng và nâng cao hiệu quả.
* Hiệu quả xã hội của việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật về xuất
bản.
Quản lý Nhà nước bằng pháp luật là tiền đề quan trọng dẫn đến hiệu
quả chính trị, kinh tế, xã hội nói chung và trong xuất bản nói riêng. Hiệu quả
chính trị là cơ sở dẫn đến hiệu quả kinh tế xã hội. Vì nền chính trị xó vững
vàng, hệ thống chính trị ổn định, thì xã hội mới phát triển, kinh tế mới tăng
trưởng. Mọi tiềm năng được phát huy trong không khí thanh bình, triển vọng.
Trong trường hợp đó không loại trừ khả năng xảy ra các cuộc ẩu đả, các cuộc

5
chiến huynh đệ tương tàn. Cũng có thể nói hiệu quả chính trị là nguyên nhân
quan trọng dẫn đến các hiệu quả kinh tế, xã hội. Nhưng chính sự ổn định của
kinh tế, kinh tế tăng trưởng, và sự ổn định của các giá trị xã hội, sẽ củng cố và
tăng cường sự ổn định chính trị, chế độ chính trị và hệ thống chính trị. Đó là
sự tác động tích cực trở lại của hiệu quả kinh tế, xã hội đối với hiệu quả chính
trị.
2.2. Những đặc trưng cơ bản của quản lý Nhà nước bằng pháp luật về

Nhà nước quản lý hoạt động của tư duy sáng tạo trong xuất bản bằng
pháp luật, không kìm hãm và khống chế các ý tưởng sáng tạo; khuyến khích
tài năng và đề cao các tác phẩm có giá trị về khoa học và nghệ thuật. Chính từ
cơ chế thị trường được pháp luật thừa nhận, là nơi đánh giá công minh các tác
phẩm. ở đó, công chúng với tư cách là người tiêu dùng, họ là thước đo về
năng lực sáng tạo của tác giả qua tác phẩm.
Như vậy, Nhà nước với công cụ hàng đầu để quản lý xã hội là pháp
luật, đã tạo ra cơ chế và thiết chế nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá, khoa học và công nghệ mới, tiến bộ của
nhân loại. Các chủ thể xuất bản, chủ thể quản lý với địa vị pháp lý, với các
quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định, góp phần đảm bảo cho ý chí của
Nhà nước được thực hiện trong thực tế về việc xây dựng một nền văn hoá
mới, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; loại trừ và ngăn chặn những độc hại về
văn hoá. Là phương tiện điều chỉnh có hiệu lực, pháp luật tạo môi trường
thuận lợi cho các hoạt động văn hoá phát triển theo định hưỡng xã hội, loại
trừ khả năng hoà tan và đổi mầu trong quá trình hoà nhập.
Như vậy, việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh hoạt động xuất bản là
điều chỉnh hoạt động kinh tế trong văn hoá - tư tưởng, đồng thời điều chỉnh
hoạt động văn hoá- tư tưởng trong cơ chế thị trường. Đó là hai mặt của một

7
vấn đề phải được thể chế hoá phù hợp, đảm bảo cho xuất bản hoạt động đúng
quy luật, phát triển theo trật tự của pháp luật.

8
II. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XUẤT BẢN
1. Pháp luật - phương tiện quản lý Nhà nước về xuất bản
1.1. Pháp luật - phương tiện tạo lập môi trường tự do sáng tạo, bình
đẳng cho các chủ thể trong hoạt động xuất bản

1.3. Pháp luật đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong hoạt động
xuất bản
Với vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội, cùng với báo chí, xuất bản
luôn gắn với lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia. Là một bộ phần của kinh tế thị
trường, xuất bản phát triển trong năng động, sáng tạo. Nhưng mặt trái của cơ
chế thị trường sẽ đẩy hoạt động xuất bản vào tình trạng vô chính phủ, không
chỉ tác hại trong kinh tế mà nghiêm trọng hơn là sự tác động tiêu cực về chính
trị, tới các giá trị đạo đức, xã hội, truyền thống tốt đẹp.
Như vậy, xuất bản trong cơ chế thị trường, tình huống chưa có tiền lệ ở
nước ta, càng phải có pháp luật để ngăn ngừa mặt trái, mặt tiêu cực tác động.
Nhà nước phải phòng ngừa và ngăn chặn những hoạt động bất chấp hậu quả
xấu về chính trị và xã hội. Các điều cấm trong pháp luật xuất bản, đặc biệt về
nội dung là mệnh lệnh của Nhà nước, phải được các thủ thể xuất bản thi hành
nghiêm chỉnh
2. Nội dung điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản
2.1. Hoạch định chiến lược phát triển xuất bản theo định hướng xã hội
chủ nghĩa
Đối với các quốc gia, việc xác lập các mục tiêu phát triển trên từng lĩnh
vực của đời sống kinh tế xã hội được đặt ra như một tất yếu. Các mục tiêu đó
được xây dựng trên cơ sở thực trạng kinh tế - xã hội và xu thế phát triển của
thời đại. Nếu không làm được vấn đề này thì không khác người đi đường

10
không có đích. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, sự hoà nhập trong cộng đồng
quốc tế ở đó có nhiều mô hình phát triển khác nhau, thì việc lựa chọn mô
hình, bước đi, mục tiêu phát triển phù hợp càng đòi hỏi cấp thiết hơn. Hoạt
động xuất bản cũng nằm trong sự đòi hỏi phát triển có mục tiêu. Đây là nội
dung quan trọng đầu tiên, định hướng cho việc hình thành hành lang pháp
luật, đảm bảo cho hoạt động xuất bản phát triển. Với ý nghĩa đó, mục này
trình bầy những nội dung cần phải điều chỉnh bằng pháp luật.

phẩm trước khi xuất bản thì tình thế và hoàn cảnh kiểm duyệt phải xác định rõ
ràng.
- điều kiện để trở thành chủ thể xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm.
Việc ra đời các tổ chức trong mọi Nhà nước, đặc biệt ở Nhà nước pháp
quyền phải thoả mãn các điều kiện cần và đủ. Vì vậy, việc ra đời các chủ thể
về xuất bản, in và phát hành cũng phải được Nhà nước qui định cụ thể về điều
kiện.
Về lĩnh vực xuất bản:
Với tính chất hoạt động chuyên nghiệp, và vị trí vai trò của nó trong
đời sống xã hội, các điều kiện ra đời phải bao gồm nội dung sau:
+ Điều kiện về pháp nhân: pháp luật phải quy định được các loại pháp
nhân thuộc đối tượng có thể đứng tên xin lập nhà xuất bản.
+ Điều kiện về sự phù hợp giữa tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ
của nhà xuất bản với chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân đứng tên xin thành
lập;
Về lính vực in và phát hành:
Các điều kiện thành lập cơ sở in và phát hành cần chú ý nhiều đến vón
hoạt động, và các yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật, việc ứng dụng công
nghệ và thiết bị, sản phẩm in. Tuy nhiên phải có điều kiện về mục tiêu, ngành

12
nghề kinh doanh. Các điều kiện này rất quan trọng, nhằm ngăn ngừa việc in
nhân bản các sản phẩm độc hại.
- các quy định về hoạt động xuất bản
Quyền tự do và quyền chủ động của nhà xuất bản, cơ sở in và phát
hành là quyền được làm tất cả những gì pháp luật xuất bản không cấm. Đó là
mục đích của hoạt động lập pháp. Vì như vậy mới phát huy được các nguồn
lực của cơ sở xuất bản. Đồng thời cho phép các cơ quan quyền lực Nhà nước
chỉ được làm những gì pháp luật qui định, nếu không pháp luật không còn là
phương tiện, mà trở thành mục đích của các cơ quan quản lý Nhà nước.

1957), ngày 18/6/1957 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc luật số
003/SLt, về chế độ xuất bản, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự phát triển nền
xuất bản Việt Nam. Điều 1 Sắc luật đã ghi: “Quyền tự do xuất bản của nhân
dân được tôn trọng và bảo đảm, tất cả xuất bản phẩm đều không phải kiểm
duyệt trước khi xuất bản, trừ tình thế khẩn cấp, nếu Chính phủ xét cần”.
Nhà Xuất Bản Y Học được thành lập ngày 31 tháng 10 năm 1959. Trụ sở
chính đặt tại 352 Đội Cấn - Ba Đình - Hà Nội và chi nhánh tại 699 Trần Hưng
Đạo - TP Hồ Chí Minh. Từ đó đến nay, qua các giai đoạn cách mạng, Nhà
Xuất Bản Y Học với chức năng và nhiệm vụ xuất bản các loại sách y dược và
các biểu mẫu giấy tờ quản lý y tế...đã đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đẩy mạnh
sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Thời kì từ năm 1959 đến 1985 Nhà Xuất Bản Y Học là đơn vị hành chính sự
nghiệp, hoạt động xuất bản theo kế hoạch nhà nước giao. Chi phí xuất bản do

14
ngân sách nhà nước đài thọ, lấy việc hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch xuất bản
hàng năm làm nhiệm vụ trung tâm của đơn vị.
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Nhà Xuất Bản Y Học tiếp
nhận bộ phận xuất bản sách y học tại TP.HCM trở thành chi nhánh của mình.
Từ năm 1976 - 1985 đơn vị hoạt động theo chế độ bao cấp, đã xuất bản nhiều
bộ sách có giá trị, sách giáo khoa, sách chuyên đề, sách chuyên khảo...phục
vụ đắc lực cho công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức y học, đào tạo cán bộ
y, dược ở các trường đại học, trung học và sơ học, phòng bệnh, chữa bệnh
phục vụ công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân.Với những thành tích đã đạt được,
năm 1984 Nhà Xuất Bản Y Học được Đảng và Nhà Nước tặng thưởng Huân
chương Lao động hạng Ba.
Từ năm 1986 đến1996 đơn vị hoạt động theo cơ chế sự nghiệp có thu, hoạt
động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, được nhà nước bù lỗ. Thời kì này đơn vị
gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho
công tác xuất bản. Nhà xuất bản đã thực hiện hạch toán trong sản xuất kinh

khảo chuyên sâu có giá trị cao.
Từ chỗ cơ sở vật chất ban đầu của doanh nghiệp còn rất nghèo nàn, phương
tiện làm việc thiếu thốn... đến nay qua 46 năm hoạt động, Nhà Xuất Bản Y
Học đã củng cố và phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị mới, nhà xưởng,
dây chuyền sản xuất được khép kín, máy móc hiện đại. Vì vậy sản xuất kinh
doanh liên tục ổn định và phát triển, đời sống CBCNV ngày một nâng cao.
Ghi nhận những thành tựu đó, nhân dịp kỉ niệm 45 năm thành lập
(31/10/2005) Nhà Xuất Bản Y Học vinh dự đón nhận tặng thưởng Huân
chương Lao động hạng Nhất của Đảng và Nhà nước trao tặng.

16
Như vậy, từ tháng 7/1993 ở Việt Nam hoạt động xuất bản đã có những
quy tắc xử sự trong các quan hệ xã hội về xuất bản ghi tại Luật xuất bản mới.
Những cơ sở pháp lý, hành lang pháp luật đã được hình thành, tạo điều kiện
cho hoạt động xuất bản phát triển, việc điều hành của cơ quan quản lý Nhà
nước, kiểm soát và xử lý của các cơ quan tư pháp. Luật xuất bản ngày
7/7/1993 là đỉnh cao của pháp luật về xuất bản ở Việt Nam, nó đã kế thừa
được những giá trị tinh hoa của Sắc luật số 003/SLt, ngày 18/6/1957, tổng kết
được thực tiễn lãnh đạo và quản lý xuất bản trong 36 năm (1957-1993) của
Đảng và Nhà nước ta, đón nhận được những đòi hỏi mới của cơ chế kinh tế
thị trường ở Việt Nam và nhu cầu hoà nhập cộng đồng quốc tế.
2. Thực trạng pháp luật trong quản lý Nhà nước về xuất bản ở Việt
Nam
Những kết quả đã đạt được:
Trong hơn 10 năm qua, hoạt động xuất bản đã từng bước thích ứng với
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững định hướng chính trị
trong quá trình phát triển, ổn định hệ thống tổ chức, có bước phát triển đáng
kể về lực lượng và năng lực hoạt động, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đa dạng
ngày càng cao về xuất bản phẩm của toàn xã hội, góp phần làm ổn định chính
trị - xã hội, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá của đất nước.

còn nhỏ bé, trình độ công nghệ còn lạc hậu, chưa theo kịp các nước tiên tiến
trong khu vực.
- Khuynh hướng thương mại hoá tiếp tục tác động xấu đến hoạt động
của một số nhà xuất bản, đặc biệt đối với những nhà xuất bản có quy mô nhỏ,
năng lực yếu kém, bị tư nhân thao túng, dẫn đến xuất bản những loại sách
"hàng chợ", chất lượng thấp. Tình trạng vi phạm các quy định về pháp luật

18
xuất bản và không thực hiện đúng quy trình biên tập dẫn đến sai phạm về nội
dung vẫn chưa được khắc phục.
- Rất nhiều người sống ở đô thị được tặng sách, thừa sách nhưng không
có nhu cầu đọc. Sách đâu chỉ để dành phục vụ các học giả, nhà trí thức nhưng
nhiều khi những người công tác trong lĩnh vực xuất bản vẫn quên mất đối
tượng độc giả khá lớn cần quan tâm là người nghèo.
Theo Cục Xuất bản, năm 2007, toàn ngành Xuất bản được 26.609 cuốn,
276,447 triệu bản, đạt 106,4% về cuốn, 122% về bản so với năm 2006.
Hiện nay, cả nước có khoảng 13.200 nhà sách, hiệu sách, trung tâm
sách, 65 công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh xuất bản phẩm. Tuy nhiên,
phần lớn sách mới chỉ được tập trung phát hành tại các khu trung tâm, các
thành phố lớn, rất ít đến được với đồng bào miền núi, vùng sâu vùng xa.
Qua trên có thể thấy rằng, mặc dù lượng sách xuất bản thời gian qua
tăng tương đối cao, nội dung phong phú hơn nhưng mới chỉ phục vụ cho
khoảng 30% dân số, 70% còn lại là đồng bào ở các vùng nông thôn, miền núi,
vùng sâu, vùng xa chưa có sách, thậm chí là những sách cơ bản tối thiểu, hỗ
trợ họ ngay trong công việc hàng ngày cũng không có để đọc.
- Do công tác quy hoạch và quản lý ngành in thiếu chặt chẽ, nên số
lượng cơ sở in quá nhiều, gây ra tình trạng "cung vượt cầu", cạnh tranh thiếu
lành mạnh với hình thức hạ giá công in, in lậu, trốn thuế, vi phạm những quy
định pháp luật về xuất bản. Đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật
lành nghề thiếu về số lượng và không đáp ứng được yêu cầu của công nghệ in

chủ nghĩa. Trong 3 năm (2004 - 2007) tốc độ phát triển của toàn ngành xuất
bản không ngừng tăng. Năm 2004, xuất bản được 19.695 tên sách với
242,700 triệu bản; năm 2007 với 26.609 tên sách (tăng 146% so với năm

20
2004), đạt 276,447 triệu bản, mức hưởng thụ bình quân 3,3 bản sách/người/
năm.
Cơ quan chỉ đạo của Đảng và cơ quan quản lý nhà nước đã chú trọng
xây dựng quy hoạch ngành xuất bản và xác định lại chức năng, nhiệm vụ của
các nhà xuất bản. Trong 3 năm qua đã ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật quan trọng theo tinh thần của Chỉ thị 42. Đó là: Luật Xuất bản (2004),
Nghị định 111 (2005), về hỗ trợ mua bản quyền tác giả trong hoạt động xuất
bản. Việc áp dụng các tiến độ khoa học kỹ thuật trong ngành in được chú
trọng, chất lượng các sản phẩm in bảo đảm tốt hơn
- Hoạt động các nguồn lực cho ngành xuất bản; phát triển nhu cầu văn
hóa đọc của nhân dân đã có chuyển biến rõ nét, việc đổi mới, sắp xếp một số
nhà xuất bản chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp và đẩy nhanh
quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp in và phát hành sách nhà nước đã tạo
động lực cho toàn ngành xuất bản phát triển. Cổ phần hóa doanh nghiệp phát
hành sách nhà nước đã làm thay đổi nhận thức, tạo thế chủ động cho doanh
nghiệp. Đến tháng 12 năm 2007, đã có 36 doanh nghiệp cổ phần hóa.
Một số nhà xuất bản thu hút tư nhân góp trên 50% vốn tham gia xuất
bản sách và độc quyền phát hành một số tên sách. Hệ thống phát hành sách
thuộc thành phần kinh tế tư nhân năng động và phát triển khá nhanh. Xuất
hiện nhiều nhà sách có năng lực và tiềm lực lớn, có tâm huyết và kinh nghiệm
trong liên kết xuất bản và phát hành. Ngành xuất bản đã chủ động hội nhập
quốc tế và tham gia các hoạt động quốc tế về xuất bản.
- Đào tạo nguồn nhân lực gắn liền với thực tiễn sản xuất kinh doanh,
lực lượng lao động của các nhà xuất bản tăng nhanh, trình độ đại học và trên
đại học chiếm hơn 70%. Các cơ sở đào tạo đã chủ động hơn trong xây dựng

điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhưng mọi dự án luật đều được ban hành

22
trong một thời điểm nhất định, trong khi cuộc sống muôn hình muôn vẻ, ở đó
các quan hệ xã hội nhằm trong quá trình chuyển dịch theo các quy luật phát
triển của xã hội, đặc biệt trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường. Vì
vậy, việc hoàn thiện pháp luật về xuất bản được đặt ra như một tất yếu. Có thể
xem xét các yêu cầu hoàn thiện pháp luật xuất bản về phương diện lý luận và
thực tiễn sau:
1. Về mặt lý luận
Trong hoạt động xuất bản, các quan hệ xã hội rất đa dạng, phong phú
và phức tạp. Nó đan xen giữa văn hoá - tư tưởng với kinh tế, giữa lao động
sáng tạo của tư duy với lao động sản xuất vật chất, nó xuyên suốt quá trình
sản xuất - lưu thông và tiêu dùng xuất bản phẩm. Việc nhận thức đúng và đủ
các quan hệ xã hội trong xuất bản để từ đó đề ra được các quy phạm pháp luật
phù hợp để điều chỉnh cũng phải trải qua một quá trình.
Việt Nam sau khi chuyển sang cơ chế thị trường các doanh nghiệp mọc
lên như nấm với đủ loại ngành nghề khác nhau và ngày càng tạo ra môi
trường cạnh tranh gay gắt. Lực lượng lao động dồi dào và chi phí lao động rẻ,
môi trường kinh tế, chính trị ổn định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát
triển.
Định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước đề ra là mở cửa nền kinh tế,
tăng cường hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, về cơ bản đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp phát triển vào
những năm 2020. Phấn đấu năm 2005-2010 Việt Nam đạt mức tăng trưởng
GDP là 7,5%.
Cơ chế kinh tế thị trường bắt buộc các doanh nghiệp phải đứng vững
trên thị trường bằng chính đôi chân, năng lực thực sự của mình, nhất là phải
tự điều chỉnh sản xuất kinh doanh theo sự thay đổi của thị trường, chuyển
những gì mình có sang những gì thị trường cần.

24

Trích đoạn Pháp luật bảo đảm quyền tự do sáng tạo, công bố, phổ biến xuất bản phẩm Pháp luật bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa đối với xuất bản trong điều kiện cơ chế thị trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status