LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập
của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thùy Ninh
1
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự
hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong
suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở trường đến nay, em đã nhận được rất nhiều
sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc
nhất, em xin gửi đến quý thầy Cô ở Viện Đào tạo sau Đại học – Trường ĐHHH
Việt Nam lời cảm ơn chân thành nhất với tâm huyết truyền đạt kiến thức cho
chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Sơn đã tận tâm hướng dẫn
em để thực hiện nghiên cứu đề tài khóa luận. Nếu không có những lời hướng dẫn,
dạy bảo của thầy thì em nghĩ bài khóa luận này của em gặp rất nhiều khó khăn.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy.
Em xin chân thành cám ơn cán bộ, nhân viên ngân hàng TMCP Phương
Đông (OCB) - Chi nhánh Hải Phòng đã tạo điều kiện cho em. Đặc biệt, em xin gửi
lòng biết ơn sâu sắc tới giám đốc khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh anh
Nguyễn Bá Thanh đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình làm bài khóa luận.
Bài luận văn được thực hiện trong khoảng thời gian hạn hẹp, mặc dù đã cố
gắng hết sức nhưng do kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu
sót. Em mong nhận được những lời góp ý từ thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
KHDN
KHCN
WTO
GDP
CPI
VAMC
QHKH
DN
CN
DVKH
GDV
TCKT
SMS
SMEs
TNHH
PD
CV QHKH
QLRR
WB
CIC
CRM
Giải thích
Compounded Annual Growth rate
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Orient Commercial Joint Stock Bank
Thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng Nhà nước
Tổ chức tín dụng
DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số
hình
1.1
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
Tên hình
Quy trình hoạt động tín dụng tại NHTM
Sơ đồ cơ cấu tổ chức OCB Hải Phòng
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động tại OCB Hải Phòng
Tình hình huy động vốn (đơn vị: tỷ đồng)
Thu nhập & Chi phí (Đơn vị: Tỷ đồng)
Cơ cấu tín dụng tại OCB Hải Phòng
Tình hình phân loại nợ trong giai đoạn 2013-2015
Tình hình nợ xấu tại OCB Hải Phòng
Trang
37
52
54
55
57
59
57
Cơ cấu tín dụng tại OCB Hải Phòng
58
Cơ cấu tín dụng trong hoạt động cho vay của khách hàng
60
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại OCB Hải Phòng năm 2013 –
2015
Cơ cấu tín dụng theo ngành nghề
61
Tình hình phân loại nợ trong giai đoạn 2013 – 2015
62
Xếp hạng tín dụng tại OCB Hải Phòng
66
Trích lập dự phòng rủi ro tại OCB Hải Phòng năm 2013 –
68
2015
5
MỞ ĐẦU
1.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính
thực hiện các nghiệp vụ tập trung, phân phối lại vốn tiền tệ cũng như các dịch vụ
có liên quan đến tài chính - tiền tệ khác trong nền kinh tế quốc dân, được coi là
huyết mạch của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng nhất trong hệ thống trung gian
tài chính. Do vậy nền kinh tế muốn ổn định và phát triển thì phải có hệ thống ngân
của rủi ro và tìm ra các giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng là một trong những vấn
đề cấp thiết đang đặt ra đòi hỏi phải được giải quyết trong tình hình thị trường tài
chính đầy biến động khi những yếu tố và nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt
động cho vay ngày càng đa dạng và phức tạp.
Theo đánh giá của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI),
khu vực DNVVN chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Con số thống kê
cho hay, DNVVN chiếm trên 97% tổng số DN cả nước, đóng góp 50% GDP, 33%
thu ngân sách nhà nước (NSNN), tạo ra 62% việc làm cho người lao động, đóng
góp 49% vào việc tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế… Nhận thấy những đóng góp
quan trọng của khối DNVVN đối với nền kinh tế, Chính phủ đã có “Quyết định số
1231/QĐ-TTg” phê duyệt Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa lần hai
giai đoạn 2011-2015. Trong đó, mục tiêu đặt ra là số doanh nghiệp nhỏ và vừa
thành lập mới giai đoạn 2011-2015 dự kiến đạt 350,000 doanh nghiệp, đến ngày 31
tháng 12 năm 2015 cả nước có 600,000 doanh nghiệp đang hoạt động. Đi cùng với
con số này là lượng vốn lớn cần được đáp ứng cho các doanh nghiệp. Ước tính
80% lượng vốn cung ứng cho DNVVN là từ kênh ngân hàng. Trong hai năm gần
đây, số vốn mà các ngân hàng thương mại cho các DNVVN vay chiếm bình quân
40% tổng dư nợ; thậm chí có những trường hợp chiếm từ 60 – 70% tổng dư nợ, các
ngân hàng đã thay đổi cách nhìn về khối DNVVN, và việc tiếp cận vốn của
DNVVN ngày càng tăng vì điều kiện để ngân hàng và doanh nghiệp gặp nhau
đang ngày càng thuận lợi hơn, và đặc biệt là các DNVVN đang hoạt động ngày
một tốt.
7
Từ các góc độ đó, tác giả đã chọn đề tài “Biện pháp quản lý rủi ro tín
dụng trong hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông – Chi nhánh Hải Phòng (ORIENT
COMMERCIAL JOINT STOCK BANK)” để tìm hiểu và nghiên cứu.
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) –
Chi nhánh Hải Phòng.
3.2.
Phạm vi nghiên cứu
-
Không gian nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi Ngân hàng
TMCP Phương Đông (OCB) – Chi nhánh Hải Phòng.
-
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP
Phương Đông (OCB) – Chi nhánh Hải Phòng từ năm 2013 – 2015.
-
Nội dung nghiên cứu: Bài nghiên cứu tập trung tìm hiểu xác định rủi ro,
nguyên nhân và các giải pháp để hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay đối
với DNVVN tại OCB – Chi nhánh Hải Phòng.
4.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
-
Sử dụng các nguồn dữ liệu Internet và thông tin từ các kết quả nghiên cứu
khác.
-
Số liệu từ Báo cáo Kết quả kinh doanh của OCB Chi nhánh Hải Phòng các
năm từ 2013 – 2015.
-
Số liệu từ các Báo cáo tài chính của Ngân hàng TMCP Phương Đông được
cung cấp trên Website của Ngân hàng: />
-
Số liệu từ các Báo cáo thường niên, các tư liệu về hoạt động của Ngân hàng
TMCP Phương Đông qua các năm 2013 – 2015.
4.3. Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích được sử dụng trong việc phân tích kết quả hoạt động
kinh doanh và thực trạng quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của Ngân
hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Hải Phòng.
4.4. Phương pháp so sánh
-
So sánh cơ cấu doanh thu của ngân hàng OCB với một số ngân hàng tại các
nước phát triển và ngân hàng trong nước nhằm nhìn ra định hướng kinh
doanh từng ngân hàng.
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
1.1.1. Khái niệm
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển
của nền sản xuất hàng hóa. Nghề ngân hàng bắt đầu với nhiệm vụ đổi tiền hoặc
đúc tiền. Những người làm nghề đúc, đổi tiền thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng
cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại qua đó thu được lợi nhuận là sự chênh
lệch giá mua bán. Những người làm nghề đổi tiền thường có két tốt và thực hiện
cất trữ hộ, điều này tạo điều kiện thanh toán hộ và thanh toán không dùng tiền mặt.
Ngân hàng của những người vừa đổi tiền, thanh toán hộ vừa đúc tiền gọi là “ngân
hàng của những người thợ vàng”. Nghề ngân hàng này cũng bắt đầu từ người cho
vay nặng lãi, họ đồng thời thực hiện luôn cả nghiệp vụ đổi tiền, giữ hộ và thanh
toán hộ. Từ chỗ dùng vốn tự có để cho vay, các chủ ngân hàng nhận thấy luôn có
số dư thường xuyên tại ngân hàng vì tất cả những người gửi tiền không rút tiền
cùng một lúc. Do tính chất vô danh của tiền, chủ ngân hàng có thể sử dụng một
phần tiền gửi của khách để thu lợi nhuận. Vì vậy các ngân hàng đều tìm cách mở
rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền cũng như
cung cấp các tiện ích khác nhau nhằm thu lợi nhuận ngày càng lớn.
Ban đầu chủ yếu là cho vay cá nhân (chủ yếu là người giàu), với hình thức
chủ yếu là thấu chi, phát hành chứng chỉ tiền gửi khống để cho vay vì vậy mà
nhiều ngân hàng gặp khó khăn và phá sản.
Do sự sụp đổ của nhiều ngân hàng và do lãi suất cao nên nhiều nhà buôn tự
thành lập ngân hàng, gọi là ngân hàng thương mại (NHTM). Ngân hàng thương
mại xuất phát và gắn liền với tư bản thương nghiệp. Nó thực hiện các nghiệp vụ
truyền thống của ngân hàng như huy động tiền gửi, thanh toán, cất giữ hộ và cho
vay. Tuy nhiên có một điểm khác biệt là NHTM chủ yếu cho các nhà buôn vay
11
dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và để đảm bảo an toàn, NHTM ban đầu
Cũng tại điều 4, khoản 14 trong Luật các tổ chức tín dụng có nêu: “ Cho vay
là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất
định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.”
Như vậy, cho vay theo quy định của pháp luật chính là một trong các hình
thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại, đây là hoạt động mang tính chất kinh
doanh nghề nghiệp. Khi thực hiện hoạt động cho vay tới khách hàng, ngân hàng sẽ
giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền nhất định để sử dụng theo
hợp đồng tín dụng hai bên đã kí kết, khách hàng sẽ phải sử dụng khoản tiền đó
theo đúng mục đích vay và đảm bảo hoản trả gốc và lãi theo đúng thỏa thuận.
Như vậy tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng. Đó
là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng tới khách hàng theo
những điều kiện ràng buộc nhất định. Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng
ngân hàng chứa đựng 03 nội dung:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử
dụng.
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn cụ thể.
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
1.1.2. Phân loại:
Căn cứ vào các cách tiếp cận khác nhau cũng như các tiêu chí khác nhau và
tùy vào yêu cầu quản lý khác nhau mà tín dụng có thể phân loại theo nhiều cách
khác nhau. Theo đó, qua việc phân loại này giúp cho ngân hàng thiết lập các tiêu
chí thẩm định riêng biệt và quản trị rủi ro hợp lý nhằm tăng hiệu quả trong quá
trình hoạt động
1.1.2.1. Căn cứ vào mục đích
Cho vay bất động sản: bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn và
Cho vay khác: gồm các khoản cho vay không được xếp ở trên và các khoản
cho vay kinh doanh chứng khoán.
Tài trợ thuê mua: ngân hàng mua thiết bị máy móc hay phương tiện và cho
khách hàng thuê.
1.1.2.2. Căn cứ vào kỳ hạn tín dụng
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời
gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả
năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được phân thành:
Cho vay ngắn hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống.
Các khoản tín dụng này thường được cấp cho khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn
lưu động trong kinh doanh hay bù đắp tạm thời các nhu cầu tiêu dùng trong thời
gian ngắn.
Cho vay trung hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến
60 tháng. Các khoản tín dụng này thường được cấp cho khách hàng có nhu cầu đầu
tư, cải tạo, sửa chữa tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh có thời gian thu
hồi vốn nhanh. Các nhu cầu tiêu dùng trung hạn có nguồn trả dần từ thu nhập
nhưng không quá dài như mua sắm ô tô, du học ...
14
Tín dụng có bảo đảm: là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng nắm
giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở hữu của
người bảo lãnh. Các hình thức bảo đảm thường gặp là: thế chấp, cầm cố, hoặc bảo
lãnh. Mục đích của việc này là khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng ngân hàng có
quyền xử lý các tài sản đó để thu hồi tiền cho vay. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp
lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ
nhất (từ quá trình sản xuất kinh doanh) thiếu chắc chắn. Các tài sản bảo đảm ở đây
15
thường là các bất động sản, động sản thuộc quyền sở hữu của bên đi vay hoặc bên
thứ ba bảo lãnh, được phép giao dịch, không có tranh chấp, tài sản được bảo hiểm
theo quy định của pháp luật.
1.1.2.4. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
Tín dụng bằng tiền: là loại hình tín dụng được cung cấp bằng tiền. Đây là
hình thức cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng và được thực hiện bằng các kỹ thuật
khác nhau như: tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp.
Tín dụng bằng tài sản: là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và đa
dạng, mà điển hình nhất là tài trợ thuê mua. Theo phương thức này ngân hàng hoặc
công ty thuê mua (công ty con của Ngân hàng) cung cấp trực tiếp tài sản cho khách
hàng và theo định kỳ khách hàng hoàn trả nợ vay gồm cả gốc và lãi.
16
Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời
sống.
Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ chức tín
dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Ngoài ra cho
vay hợp vốn còn phải thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng
do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành. Cho vay hợp vốn có ưu điểm là san
sẻ được rủi ro song nhược điểm là nới lỏng việc kiểm soát tiền vay khách hàng.
Cho vay trả góp: khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc chưa được chia ra để trả nợ theo
nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm
bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng
Để khoản vay được ngân hàng chấp nhận, doanh nghiệp phải cam kết thực
hiện đầy đủ ba nguyên tắc. Các nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro cho khoản vay
đem lại lòng tin cho ngân hàng về phía khách hàng.
1.1.3.1. Vốn vay phải có mục đích và sử dụng đúng mục đích đã ghi trong
hợp đồng tín dụng
Trước bất cứ một hồ sơ vay vốn nào, ngân hàng thương mại đều yêu cầu
khách hàng trình bày mục đích vay vốn. Đây là một câu hỏi bắt buộc trong quá
trình thẩm định hồ sơ. Thông qua câu trả lời của khách hàng, ngân hàng có thể
điều tra, tìm hiểu khả năng sinh lời, tính thực thi từ mục đích đầu tư vốn của khách
hàng. Đây là một trong các yếu tố giúp ngân hàng xác định khả năng hoàn trả nợ từ
khách hàng, hạn chế rủi ro vỡ nợ, tăng cường hiệu quả cho vay trong hệ thống.
Từ khi tiếp nhận hồ sơ và sau khi giải ngân, ngân hàng luôn kiểm tra giám
sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng với mục đích đã trình bày trước
đó. Một khoản vay có thể được giải ngân thông qua một hồ sơ vay vốn với mục
đích hợp lý và bản kế hoạch kinh doanh chi tiết, thực thi. Tuy nhiên, khi được giải
ngân, trong nhiều trường hợp khách hàng không sử dụng vốn theo đúng bản kế
hoạch kinh doanh đã kê khai với ngân hàng mà dùng vào đầu tư ngành nghề khác
đem lại rủi ro cao. Chính vì vậy, nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích là yêu
cầu bắt buộc mà ngân hàng có quyền yêu cầu khách hàng làm theo nhằm đảm bảo
khả năng hoàn trả vốn vay và hiệu quả sinh lời của đồng vốn.
1.1.3.2. Hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn quy định trong hợp đồng
tín dụng.
Đây là môt yêu cầu bắt buộc đối với bất kì khoản vay nào. Một khoản vay
luôn được xác định thời hạn trả gốc, lãi và phương thức trả rõ ràng tại hợp đồng tín
dụng. Để đảm bảo cân bằng cung - cầu nguồn vốn và hiệu quả kinh doanh của
18
ngân hàng, việc xác định thời hạn trả nợ là việc hết sức cần thiết. Trong đó, theo
hợp đồng, ngân hàng sẽ cho khách hàng vay một khoản tiền có thể giải ngân một
đảm tiền vay. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp nào đối với mỗi khoản vay lại
phụ thuộc vào các yếu tố như kinh nghiệm của TCTD trong việc đánh giá rủi ro
đối với khoản vay và đánh giá tài sản bảo đảm, khả năng trả nợ của khách hàng…
Tất cả các biện pháp bảo đảm đều có ý nghĩa nếu nó dẫn đến hệ quả là khách hàng
trả nợ đầy đủ đúng hạn theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo
đảm tiền vay.
Điều kiện tài sản đảm bảo trong hoạt động cho vay:
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là hình thức bảo đảm mà ngân hàng áp dụng
đối với khách hàng vay vốn, trong đó ngân hàng đóng vai trò chủ nợ được hưởng
một số quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách hàng là con nợ. Như vậy,
việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản giúp cho ngân hàng tránh được rủi ro mất hoàn
toàn vốn, đồng thời đem lại cho ngân hàng quyền ưu tiên khi phát mại tài sản so
với các chủ nợ khác của khách hàng nếu khách hàng vay không có khả năng trả
được các khoản nợ đã vay. Thực tiễn cho thấy, không phải bất kỳ tài sản nào cũng
có thể dùng làm bảo đảm tiền vay được ngân hàng chấp nhận. Theo pháp luật về
bảo đảm tiền vay, tài sản dùng để bảo đảm tiền vay phải đáp ứng đủ bốn điều kiện
sau:
-
Thuộc quyền sở hữu, quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay hoặc
bên bảo lãnh.
Để chứng minh được điều kiện này, khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh phải
xuất trình Giấy chứng nhận sở hữu, quyền quản lý sử dụng tài sản. Trường hợp thế
chấp quyền sử dùng đất, khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh phải có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và được thế chấp theo quy định của pháp luật về đất đai.
Đối với tài sản mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp nhà nước quản lý, sử dụng,
vốn có thể tập trung tại các ngành nghề kinh doanh có lợi suất cao và tính rủi ro
thấp góp phần thúc đẩy phát triển của nền kinh tế. Dựa vào các chính sách điều tiết
vĩ mô, thông qua trần lãi suất hoặc một số công cụ khác nhà nước có thể điều chỉnh
cơ cấu kinh tế tập trung tại các ngành nghề lĩnh vực kinh doanh ưu tiên như công
nghiệp và dịch vụ.
Cân bằng cung – cầu vốn trong xã hội: Với bất kì một trạng thái kinh tế
nào luôn có tình trạng nơi dư thừa nguồn vốn và nơi có nhu cầu vốn. Đặc biệt, với
sự đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh mà mùa vụ kinh doanh, vòng quay
vốn lưu động, …tạo cho các doanh nghiệp các khoảng thời gian chênh lệch về nhu
cầu vốn. Chính điều này đã tạo cho ngân hàng cơ hội kinh doanh khi thực hiện
chức năng phân phối nguồn vốn dư thừa trong xã hội tới các khu vực kinh tế có
nhu cầu và có khả năng hoàn trả, góp phần nâng cao hiệu quả đồng vốn và tính ổn
định, hoạt động liên tục của nền kinh tế.
Là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước: Thông qua trần lãi suất cho vay
NHTW có thể thực hiện nhiệm vụ ổn định thị trường tài chính khi điều chỉnh cung,
cầu tín dụng. Như ta đã biết cơ cấu kinh tế được quyết định bởi cơ cấu đầu tư mà
21
tín dụng lại quyết định đến cơ cấu đầu tư thông qua lãi suất. Nhà nước thông qua
hoạt động của các Ngân hàng thương mại, chủ yếu là hoạt động tín dụng để điều
chỉnh cơ cấu kinh tế.
1.1.4.2. Đối với Ngân hàng
diễn ra thường xuyên liên tục: Như ta đã biết các doanh nghiệp khác nhau về điều
kiện sản xuất kinh doanh dẫn đến tuần hoàn luân chuyển vốn khác nhau. Đồng thời
mỗi doanh nghiệp lại là một thực thể sở hữu khác nhau cho nên luôn tồn tại hai
nhóm, doanh nghiệp này thừa vốn thì doanh nghiệp khác thiếu vốn vì chưa bán
được hàng, chưa thu được tiền nhưng đã đến thời hạn phải thanh toán các khoản nợ
, phải trả lương ... Dẫn đến các doanh nghiệp có nhu cầu được vay vốn. Nhờ hoạt
động cho vay trung gian của NHTM mà cả hai nhóm doanh nghiệp đều được thoả
mãn về vốn và dẫn đến quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thương
xuyên, liên tục, nguồn vốn được sử dụng một cách tối đa.
22
Tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng, đầu tư cơ sở vật chất, trang
thiết bị công nghệ hiện đại: Vốn, kĩ thuật và lao động là ba yếu tố đầu vào cơ bản
trong hoạt động của doanh nghiệp. Qua thời gian, sự phát triển của tiến bộ khoa
học công nghệ đã chứng minh tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ hiện đại
vào hiệu quả sản xuất. Chính vì vậy, thông qua vốn vay ngân hàng các doanh
nghiệp có cơ hội tiếp cận và sử dụng các ứng dụng công nghệ cao vào dây chuyền
sản xuất nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và năng lực doanh nghiệp.
1.2.
RỦI RO TÍN DỤNG.
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng.
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng rất đa dạng, phong phú. Vì vậy rủi ro
đe dọa nó cũng có nhiều hình thái khác nhau và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
do khách hàng vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được
nợ vay (gồm gốc và/hoặc lãi). Rủi ro tín dụng có thể gây tổn thất về tài chính cho
NHTM đó là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn; trong trường
hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản ngân hàng.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào các cách tiếp cận khác nhau cũng như các tiêu chí khác nhau và
tùy vào yêu cầu quản lý khác nhau mà rủi ro tín dụng có thể phân loại theo nhiều
cách khác nhau. Theo những tiêu chí và cách tiếp cận cơ bản nhất chúng ta có thể
phân loại rủi ro tín dụng NHTM theo các cách sau:
Rủi ro đối với tín dụng ngắn hạn:
Mục đích của tín dụng ngắn hạn là nhằm bổ sung vốn lưu động tạm thời
thiếu cho các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh với thời hạn ngắn (thường dưới
1 năm). Các khoản tín dụng ngắn hạn thường được kiểm tra qua tính toán hiệu quả
đầu tư giản đơn và nhanh chóng, lãi suất cho vay thấp, phương pháp này dễ xảy ra
tình trạng khách hàng sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư trung và dài hạn, sử dụng
sai mục đích, gây thiệt hại cho ngân hàng.
Rủi ro đối với tín dụng trung và dài hạn:
Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn là thời hạn thu hồi vốn dài, có khối
lượng lớn, vòng quay vốn chậm (từ một năm trở lên) chủ yếu cấp vốn để mua tài
sản cố định, cải tiến mở rộng sản xuất, đầu tư cho các công trình và dự án lớn mà
hiệu quả của công việc đầu tư này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như biến động về
chính trị, xã hội, thiên tai địch hoạ... Những yếu tố có thể tác động tích cực hoặc
tiêu cực đến hiệu quả đầu tư. Những hoạt động tiêu cực gây ra sự đình trệ, thất
thoát vốn của doanh nghiệp, trì hoãn thời gian thu vốn của dự án gây ảnh hưởng
gây ra, có thể do khách hàng gây ra như kinh doanh kém hiệu quả hoặc quản lý yếu
kém, có thể do nguyên nhân từ phía ngân hàng như không tuân thủ nguyên tắc
cũng như quy trình thẩm định, năng lực, đạo đức cán bộ tín dụng…Thông thường
là do khách hàng gây ra rủi ro này.
Rủi ro tín dụng không kiểm soát được:
Đây là loại rủi ro mà ngân hàng không thể dự đoán trước được, không biết
chúng sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng như không thể tính toán một cách chính
xác được những ảnh hưởng thiệt hại mà chúng gây ra. Những rủi ro này chủ yếu do
những bất lợi về yếu tố tự nhiên như hạn hán, lũ lụt, mất mùa, hoả hoạn…Ngoài ra
rủi ro này còn do những thay đổi cơ chế cũng như chính sách của nhà nước.
1.2.3. Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng.
1.2.3.1. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
25