Mục lụcTrang
Mở đầu
1
Chơng 1: cơ sở lý luận của hoàn thiện pháp luật về thừa
kế ở Việt Nam
6
1.1. Khái niệm đặc điểm và nguyên tắc pháp luật về thừa kế ở Việt Nam 6
1.2. Vai trò và tiêu chí hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam 17
1.3. Pháp luật về thừa kế một số nớc trên thế giới và kinh nghiệm có
thể vận dụng 26
Chơng 2: quá trình phát triển và thực trạng pháp luật
về thừa kế ở Việt Nam
39
2.1. Khái quát quá trình phát triển của pháp luật về thừa kế ở Việt Nam 39
2.2. Thực trạng pháp luật về thừa kế ở Việt Nam hiện nay 59
Chơng 3: quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật Về
thừa kế ở Việt Nam
80
3.1. Yêu cầu khách quan và những quan điểm hoàn thiện pháp luật về
thừa kế 80
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam hiện nay 91
Kết luận
107
Danh mục tài liệu tham khảo
109
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn
BLDS : Bộ luật Dân sự
HVLL : Hoàng việt luật lệ
Tuy nhiên về thực tiễn, do sự phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ của
đời sống kinh tế - xã hội của đất nớc, nên pháp luật về thừa kế hiện hành vẫn cha
thể trù liệu hết những trờng hợp, tình huống xảy ra trên thực tế. Còn một số quy
định pháp luật về thừa kế chung chung, mang tính chất khung, cha chi tiết, cha
rõ ràng, lại cha có văn bản hớng dẫn thi hành cho từng vấn đề cụ thể. Vì vậy, còn
nhiều quan điểm trái ngợc nhau, nên khi áp dụng vào thực tế sẽ xảy ra tình trạng
không nhất quán trong cách hiểu cũng nh cách giải quyết. Điều đó đã xâm phạm
quyền thừa kế của công dân, đôi khi còn gây bất ổn trong đời sống sinh hoạt của
mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội.
Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng nền kinh tế thị trờng và xây
dựng nhà nớc pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng
phong phú, thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp.
Hàng năm Toà án nhân dân các cấp đã thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ án
thừa kế. Nhiều vụ tranh chấp thừa kế phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết
3
phục không cao. Có những bản án quyết định của toà án vẫn bị coi là cha
"thấu tình đạt lý" Sở dĩ còn tồn tại những bất cập đó là do nhiều nguyên
nhân trong đó phải kể đến là do các quy định của PLVTK cha đồng bộ, cụ
thể Chính vì điều đó, nên trong thời gian gần đây nhiều văn kiện của Đảng
nh Nghị quyết 48 về chiến lợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến
năm 2010, Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
của công tác t pháp trong thời gian tới đã xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu, sự
cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời kỳ đổi mới, trong đó
có pháp luật về thừa kế.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: "Hoàn thiện
pháp luật về thừa kế ở Việt Nam hiện nay" để làm đề tài luận văn thạc sĩ
Luật học. Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng cấp bách cả về phơng diện
lý luận cũng nh thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thừa kế di sản là vấn đề rộng và phức tạp, vừa có lịch sử hình thành và
tâm khoa học xã hội nhân văn Th.S Trần Thị Huệ; "Di sản thừa kế trong pháp
luật dân sự của một số nớc trên thế giới", Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, số 10
năm 2006; Thái Công Khanh "Những khó khăn, vớng mắc trong việc thực hiện
điều 679 BLDS về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dợng, mẹ kế", Tạp chí
Toà án nhân dân, số 16 năm 2006; Thái Công Khanh "Phơng pháp giải quyết
xung đột pháp luật về thừa kế", Tạp chí Toà án nhân dân, số 20 năm 2006
Trong các công trình khoa học này, các tác giả đã phân tích những vấn đề lý
luận cơ bản về thừa kế: nh quy định chung về thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa
kế theo pháp luật, phân chia di sản thừa kế. Tuy vậy, các tác giả không khái quát
đợc lịch sử hình thành và phát triển các quy định này qua các thời kỳ. Hơn nữa,
đa số các đầu sách này viết trớc năm 2003, nên có rất nhiều điểm thay đổi cả về
mặt pháp luật thực định và thực tiễn cuộc sống.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên, đã nêu ra nhiều vấn đề cơ
bản cả về lý luận và thực tiễn áp dụng PLVTK trên nhiều góc độ. Tuy nhiên,
các công trình này đợc thực hiện khi Nhà nớc ta cha ban hành BLDS 2005 và
nghiên cứu chủ yếu dới góc độ luật thực định. Các công trình nghiên cứu dới
góc độ lý luận hoàn thiện PLVTK còn ít, cha có tính chất hệ thống, khái quát.
Vì vậy, có thể khẳng định rằng, luận văn này là một công trình khoa học đầu
tiên, nghiên cứu chuyên sâu hoàn thiện PLVTK là một đề tài hoàn toàn độc
lập, không có sự trùng lắp với bất kỳ một công trình nào của ngời khác.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích: Phân tích cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về thừa
kế và đánh giá thực trạng PLVTK ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, nêu lên
những quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện PLVTK ở nớc ta hiện nay.
* Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về hoàn thiện PLTK ở Việt Nam nh:
khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của PLVTK cũng nh tiêu chí hoàn
thiện PLVTK. Đồng thời có tìm hiểu PLVTK của một số nớc trên thế giới.
- Phân tích quá trình phát triển và thực trạng PLVTK ở Việt Nam. Qua
đó, nhận xét, đánh giá những u điểm, nhợc điểm của PLVTK hiện hành, rút
tham khảo kinh nghiệm một số nớc trên thế giới, luận văn đã đa ra các quan
điểm, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện PLVTK ở nớc ta hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở lý
luận cho việc sửa đổi, bổ sung BLDS 2005. Đồng thời luận văn còn là tài liệu
tham khảo phục vụ công việc nghiên cứu giảng dạy và học tập của cán bộ,
giáo viên và sinh viên chuyên Luật và không chuyên Luật cũng nh việc giảng
dạy học tập môn Nhà nớc pháp luật trong hệ thống các trờng chính trị.
- Về thực tiễn: Luận văn đề ra các giải pháp cụ thể hoàn thiện PLVTK sẽ
có ý nghĩa thiết thực góp phần giúp cho những ngời có thẩm quyền áp dụng
luật để giải quyết tranh chấp thừa kế. Ngoài ra luận văn còn là tài liệu tham
khảo phục vụ cho việc để lại di sản thừa kế, lập di chúc cũng nh trong quá trình
thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của mình về lĩnh vực thừa kế.
7. Kết cấu của luận văn
6
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ
lục, luận văn đợc bố cục 3 chơng, 7 tiết.
Chơng 1
Cơ sở lý luận của hoàn thiện pháp luật
về thừa kế ở Việt Nam
1.1. Khái niệm đặc điểm và nguyên tắc pháp luật Về thừa
kế ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về thừa kế
* Khái niệm:
Thừa kế theo nghĩa chung nhất, là việc chuyển dịch tài sản của ngời chết
cho ngời còn sống. Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm móng
và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài ngời. ở thời kỳ này
việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của ngời chết cho những ngời còn sống đ-
ợc tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục, tập quán
riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định. Ph.Ăngghen viết:
ngời đã chết cho một ngời còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của nhà n-
ớc, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị thông qua bộ
máy nhà nớc, ban hành các quy định để điều chỉnh các quan hệ trong việc
xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điều kiện chuyển dịch tài sản và
những vấn đề khác có liên quan đến việc thừa kế tài sản.
Nh vậy, thừa kế đợc hình thành từ khi xã hội cha phân chia giai cấp,
nhng khái niệm PLVTK thì chỉ ra đời và tồn tại trong những xã hội đã phân
chia giai cấp và có nhà nớc. Tuy nhiên, mỗi một xã hội khác nhau sẽ có sự
khác nhau trong quy định về thừa kế. Thậm chí, trong cùng một chế độ xã
hội của một nhà nớc, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, thì PLVTK cũng đợc
quy định khác nhau cho phù hợp với sự phát triển.
ở Việt Nam, trong các triều đại phong kiến trớc đây, PLVTK đã đợc
hình thành và dựa trên cơ sở lễ giáo phong kiến. Các quy định về thừa kế
trong Bộ luật Hồng Đức của thời Lê và Bộ luật HVLL của thời Nguyễn đều
nhằm mục đích duy trì, bảo vệ những truyền thống chế độ gia đình phụ
quyền và hiếu nghĩa của con cháu trong dòng tộc. Những quan niệm về gia
đình lễ giáo, tín ngỡng và chuẩn mực đạo đức thờ cúng tổ tiên thời phong
kiến đều có sự tác động mạnh lên quan hệ thừa kế. Vì vậy, thừa kế ở thời kỳ
này thể hiện rõ nét sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ. Đối
với tài sản của cha mẹ, con trai con gái đều có quyền đợc chia, nhng đất hơng
hoả thì nhất quyết phải dành cho con trởng nam và cháu đích tôn.
Cha mẹ với t cách là ngời chủ sở hữu cũng không có quyền làm
khác, không thể để cho một ngời con gái hởng hoa lợi, hơng hoả dù ng-
ời con gái ấy sống độc thân đến khi chết Đối với tài sản vợ chồng,
nếu vợ chết trớc, chồng tiếp tục làm chủ tài sản ấy với t cách là chủ sở
hữu. Nhng trong trờng hợp chồng chết trớc ngời vợ không đợc quyền
thừa kế, chỉ tiếp tục hởng hoa lợi trên tài sản của chồng. Nếu ngời vợ
tái giá thì ngời goá phụ mất hết quyền hởng hoa lợi, bị bên chồng trng
bằng cớ để lấy lại ruộng đất [73, tr.24].
Khi nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, chế độ phong kiến ở Việt
Nh vậy có thể nói rằng, PLVTK là tổng thể các quy phạm pháp luật do
các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều
chỉnh việc chuyển dịch tài sản của ngời chết cho cá nhân, tổ chức theo di
chúc hoặc theo pháp luật, cũng nh quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ, phơng
thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của ngời thừa kế và đợc thực hiện theo
những trình tự thủ tục nhất định.
Tóm lại, PLVTK ở Việt Nam đợc cấu thành bởi nhiều quy phạm, trong
nhiều văn bản khác nhau. Lịch sử hình thành và phát triển của PLVTK ở Việt
Nam có sự biến đổi theo hớng ngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào
thành quả phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ. Các quy định PLVTK ở
nớc ta luôn bảo đảm quyền tự do cá nhân trong việc thể hiện ý chí của mình
và kết hợp hài hoà với truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Không ngừng cũng
cố, mở rộng phù hợp với đời sống thực tế, nhằm bảo vệ có hiệu quả hơn
quyền thừa kế công dân.
* Đặc điểm:
9
Từ những phân tích nêu trên về nội dung và qua nghiên cứu PLVTK
Việt Nam từ khi hình thành cho đến nay, chúng tôi rút ra một số đặc điểm cơ
bản PLVTK nh sau:
Thứ nhất: Pháp luật về thừa kế ra đời rất sớm.
Ngay từ thời kỳ La Mã Cổ Đại đã có pháp luật về thừa kế, PLVTK thời
kỳ này đợc khắc trên phiến đá để mọi ngời cùng hiểu mà làm theo. Khi nghiên
cứu về vấn đề này các nhà khoa học pháp lý đã nhận định: thừa kế là sự di
chuyển tài sản của ngời chết cho một hoặc một số ngời sống khác. Quyền thừa
kế với t cách là một chế định pháp luật của Nhà nớc, xuất hiện trên cơ sở
chấm dứt quyền sở hữu của một ngời đã chết và sự chuyển giao mang tính
tổng thể tài sản của ngời đó cho những ngời còn sống [35, tr.158].
ở nớc ta, trong gần 10 thế kỷ đô hộ, nhà nớc phong kiến Trung Hoa
luôn tìm cách xoá những truyền thống của dân tộc ta để thể hiện mu đồ đồng
hoá rất thâm hiểm của họ. Theo sử gia lỗi lạc Phan Huy Chú thì trong thời kỳ
quả đối với nhau. Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để từ đó làm xuất hiện thừa
kế thì đến lợt mình thừa kế lại là phơng tiện để duy trì, củng cố và xác định
quan hệ sở hữu.
Nếu sở hữu và thừa kế là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau song
song tồn tại bên nhau thì pháp luật về thừa kế với pháp luật về quyền sở hữu
cũng có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau. Thông qua việc quy định hình
thức sở hữu về tài sản của cá nhân và theo đó pháp luật quy định cho họ các
quyền năng trong lĩnh vực thừa kế. Hay nói cách khác, pháp luật về sở hữu là
cơ sở cho việc ban hành các văn bản pháp luật về thừa kế. Vì vậy, pháp luật về
thừa kế luôn mang một bản chất giai cấp sâu sắc, nó luôn là phơng tiện để duy
trì, củng cố quyền sở hữu ở những xã hội mà chính bản thân nó đang tồn tại.
Trong xã hội phong kiến hoặc trong xã hội chủ nô, những xã hội dựa
trên chế độ sở hữu t nhân về t liệu sản xuất, thì pháp luật về thừa kế là một
trong những công cụ pháp lý quan trọng để duy trì sự bóc lột sức lao động ng-
ời khác và củng cố địa vị xã hội của những ngời thừa kế. Trong chế độ xã hội
chủ nghĩa, một chế độ dựa trên nền tảng công hữu hoá t liệu sản xuất. Thừa kế
là sự kế thừa thành quả lao động của cá nhân gia đình và các giá trị văn hoá
của thế hệ này đối với thế hệ khác, nên pháp luật về thừa kế, trớc hết nhằm
bảo vệ quyền lợi cho ngời lao động, thành quả lao động của họ đợc chuyển
sang cho những ngời thừa kế của họ. Mặt khác, pháp luật về thừa kế còn là
một trong những phơng tiện để củng cố và phát triển các quan hệ hôn nhân gia
đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế, qua
đó góp phần bảo đảm quyền sở hữu chính đáng mọi cá nhân trong xã hội.
Nh vậy, cùng với sự hình thành và phát triển Nhà nớc và pháp luật của
chế độ t hữu thì sở hữu và thừa kế đều là những phạm trù pháp luật và giữa
chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Thứ ba: Pháp luật về thừa kế tập trung chủ yếu trong BLDS, ngoài ra
còn đợc quy định ở một số văn bản liên quan.
Thừa kế là một chế định của pháp luật dân sự, do đó nó cũng mang
những đặc điểm chung của BLDS, nh đều là xuất phát từ quan hệ tài sản, đều
kết cấu chặt chẽ.
Khi xây dựng PLVTK chúng ta đã học tập nhiều kinh nghiệm của cha
ông và các nớc tiên tiến trên thế giới nh Pháp, Đức, Nga vì vậy, pháp luật về
thừa kế ở Việt Nam tơng đối toàn diện có cấu trúc chặt chẽ. Pháp luật về thừa
kế đợc chia thành 5 nhóm. Ngoài nhóm (1) quy định vấn đề chung về thừa kế,
làm cơ sở để dẫn chiếu các nhóm quy định cụ thể. Trong mỗi nhóm cụ thể đều
có các quy định chung quy định các vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc của
phần đó, sau đó mới quy định các vấn đề chi tiết, các cấu trúc này thuận tiện
cho việc tra cứu và áp dụng pháp luật về thừa kế.
1.1.2. Những nguyên tắc pháp luật về thừa kế ở Việt Nam
Nguyên tắc PLVTK là những t tởng, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt
trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện PLVTK. Thông qua đó góp
phần phản ánh bản chất cũng nh đặc trng cơ bản của PLVTK ở nớc ta. Vì
vậy, từ khi hình thành đến nay, những nguyên tắc PLVTK ở nớc ta có sự thay
đổi phù hợp với bản chất của nhà nớc ở từng giai đoạn lịch sử. Kể từ 1945
đến nay PLVTK ở nớc ta có những nguyên tắc sau:
12
Thứ nhất, nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công
dân:
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân đợc nhà
nớc bảo hộ. Quy định này đã đợc khẳng định tại Điều 58 Hiến pháp 1992
"Nhà nớc bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân".
Trên cơ sở đó Điều 631 BLDS 2005 đã xác định rõ nội dung của quyền này.
Trớc hết đảm bảo cho mọi cá nhân đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài
sản của mình" đều có quyền để lại tài sản của mình cho ngời thừa kế theo
pháp luật. Điều quan trọng là mỗi cá nhân đều có quyền hởng di sản theo di
chúc hoặc theo pháp luật". Thậm chí là quyền từ chối di sản thừa kế. Mặt
khác nhà nớc còn bảo hộ quyền thừa kế, thể hiện trong việc đảm bảo cho mọi
công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, t liệu
sinh hoạt, t liệu sản xuất. Đặc biệt là "tài sản hợp pháp thuộc sở hữu t nhân
dân trong lĩnh vực về thừa kế, tạo đợc sự đoàn kết tốt giữa các thành viên trong
gia đình, góp phần xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững.
Thứ ba, nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của ngời có tài sản, ngời
hởng di sản
Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng, một mặt đã ghi nhận sự bảo hộ
của pháp luật đối với quyền về thừa kế, mặt khác nó còn thể hiện một cách
đầy đủ nhất các quyền dân sự chủ quan của mỗi cá nhân trong việc định đoạt
toàn bộ tài sản của mình.
Nội dung của nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt đợc ghi nhận
khá đầy đủ trong BLDS 2005. Trớc hết đối với cá nhân ngời để lại tài sản
với t cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân
có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình sau
khi chết. Pháp luật không cho phép bất kỳ ai có hành vi cản trở, cỡng ép,
đe doạ ngời lập di chúc. Ngời để lại thừa kế có thể thực hiện quyền định
đoạt thông qua hình thức di chúc viết hoặc di chúc miệng, có thể nhờ ngời
làm chứng cho việc lập di chúc, có thể yêu cầu công chứng viên đến chỗ ở
của mình để lập di chúc.
Khi thực hiện quyền định đoạt trong di chúc, ngời lập di chúc có
quyền chỉ định ngời thừa kế, truất quyền hởng di sản của ngời thừa kế;
phân định phần di sản cho từng ngời thừa kế, dành một phần tài sản
trong khối di sản để di tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ cho ngời thừa kế,
chỉ định ngời giữ di chúc; ngời quản lý di sản, ngời phân chia di sản [13,
Điều 648].
Trong trờng hợp di chúc đã đợc xác lập, nếu cần có sự thay đổi "ý
nguyện" cũng nh nội dung, ngời lập di chúc còn có quyền sửa đổi, bổ sung,
thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào" [13, Điều 662].
Quyền định đoạt của cá nhân để lại di sản đợc thể hiện không những
trong việc lập di chúc để định đoạt tài sản của họ, mà còn thể hịên ngay trong
việc họ không lập di chúc để định đoạt tài sản để lại sau khi họ chết. Đây
cũng là một cách thể hiện ý chí của cá nhân bằng việc không lập di chúc để
đình
Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc chung trong quan hệ dân sự, đó là:
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ
gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán truyền
thống tốt đẹp, tinh thần đoàn kết tơng thân, tơng ái, mỗi ngời vì cộng
đồng, cộng đồng vì mỗi ngời và các giá trị đạo đức tốt đẹp của các dân
tộc cùng sinh sống trên đất nớc Việt Nam [17, Điều 8].
Từ truyền thống đoàn kết trong gia đình, từ mục đích của chế độ hôn
nhân và gia đình nớc ta nhằm "xây dựng những gia đình dân chủ hoà thuận,
hạnh phúc trong đó mọi ngời đoàn kết, thơng yêu giúp đỡ nhau tiến bộ". Tinh
thần đoàn kết tơng trợ giữa những ngời trong gia đình cần đợc giữ vững ngay
cả khi những ngời trong gia đình chết và vấn đề thừa kế đợc đặt ra. Nguyên
tắc này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định diện và hàng thừa kế
theo pháp luật dựa trên cơ sở huyết thống gần gũi, quan hệ hôn nhân trong
việc bảo vệ quyền lợi của ngời đã thành niên nhng không có khả năng lao
động. Bằng các nguyên tắc cơ bản đợc ghi nhận trong BLDS, PLVTK ở nớc
ta đã bảo vệ lợi ích hợp pháp của mọi ngời lao động trên cơ sở bảo vệ lợi ích
chung của toàn xã hội, xoá bỏ tàn tích mà chế độ thừa kế của thực dân phong
15
kiến đã để lại hàng bao đời nay, nâng cao ý thức pháp luật cho mọi ngời dân
trong lĩnh vực thừa kế nói riêng cũng nh trong đời sống xã hội nói chung.
1.2. Vai trò và tiêu chí hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở
Việt Nam
1.2.1. Vai trò của pháp luật về thừa kế ở Việt Nam
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, xây dựng nhà
nớc pháp quyền, hội nhập quốc tế, ở nớc ta hiện nay hệ thống pháp luật nói
chung và PLVTK nói riêng, ngày càng thể hiện rõ vai trò to lớn đối với đới
sống kinh tế, văn hoá, chính trị của đất nớc. Cụ thể là:
Một là, PLVTK đã thể chế hoá đờng lối, chủ trơng của Đảng và Nhà n-
ớc về một số quyền cơ bản của con ngời trong lĩnh vực dân sự.
và pháp luật", điều 58 Hiến pháp 1992 còn quy định "Nhà nớc bảo hộ quyền
sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế công dân".
Xuất phát từ nguyên tắc hiến định trên BLDS năm 1995, 2005 đảm bảo
cho "Chủ sở hữu có quyền bán, tặng, cho để thừa kế tài sản" [13, Điều 248]
"Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, t
liệu sinh hoạt, t liệu sản xuất". Đặc biệt BLDS còn đảm bảo cho mọi công
dân đều có quyền "lập di chúc để định đoạt tài sản của mình", đều có quyền
"để lại tài sản của mình cho ngời thừa kế theo pháp luật". Đồng thời mỗi
công dân đều có quyền "hởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật", thậm
chí là quyền từ chối nhận di sản thừa kế.
Hai là, PLVTK là phơng thức quan trọng trong việc xác lập, củng cố,
bảo vệ quyền sở hữu.
Thừa kế là một quan hệ xã hội có mầm mống và xuất hiện từ thời sơ
khai của xã hội loài ngời. Cũng chính từ thời sơ khai đó, sở hữu và thừa kế đã
xuất hiện nh một tất yếu khách quan và mang tính chất là một phạm trù kinh
tế, giữa chúng có mối liên quan qua lại ràng buộc với nhau.
Khi xã hội phân chia thành giai cấp, nhà nớc xuất hiện thì PLVTK đã
có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì, cũng cố quyền sở hữu, từ chổ
pháp luật quy định chế độ sở hữu về tài sản của cá nhân, và cá nhân có các
quyền năng đối với tài sản của mình thì dựa theo đó, pháp luật quy định cho
họ có những quyền năng trong lĩnh vực thừa kế, công nhận quyền sở hữu đợc
để lại thừa kế sẽ có tác dụng kích thích cổ vũ sự quản lý năng động của mỗi
ngời, bởi họ tin rằng sự nghiệp của mình sẽ đợc kế tục bởi những ngời mình
yêu thơng. Quyền sở hữu chỉ hoàn thành đợc vai trò động lực phát triển kinh
tế nếu nó chuyển giao bằng con đờng thừa kế. Về mặt tâm lý cá nhân chỉ
cảm thấy đợc thoả mãn nếu quyền sở hữu vẫn tiếp tục tồn tại sau khi chủ sở
hữu chết. Giả sử chủ sở hữu phải đối mặt với viễn cảnh giao trả lại tài sản của
mình cho nhà nớc khi họ chết, thì họ sẽ không quan tâm chăm sóc tài sản
hiện có mà lại tiêu dùng một cách hoang phí vô độ và họ trở nên lời biếng,
thờ ơ với lao động, với hoạt động sáng tạo.
tình đạt lý". Điều đó đã phá vỡ cả hệ thống tiêu chí đạo đức, mỹ tục, truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, gây bất ổn cho mỗi gia đình, cộng đồng, xã hội.
Chính vì lẽ đó nhà nớc cần phải tăng cờng sự điều chỉnh của pháp luật, đối
với quan hệ thừa kế là một yêu cầu tất yếu khách quan. Thông qua các quy
phạm PLVTK, các bên tham gia quan hệ thừa kế thấy rõ đợc các quyền và
nghĩa vụ của mình cũng nh trình tự thủ tục cách thức để thực hiện quyền đó.
Trên cơ sở đó, các chủ thể để lại di sản cũng nh nhận di sản thừa kế tự điều
chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với các chuẩn mực pháp lý, tạo lập đợc
một hệ thống các quan hệ tốt đẹp giữa ngời với ngời, sau khi ngời để lại di
sản chết, góp phần vào việc củng cố sự đoàn kết và thúc đẩy sản xuất xã hội
phát triển.
Bốn là, PLVTK có vai trò to lớn trong việc giữ gìn, phát huy các phong
tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc
Đạo đức, các phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp là nét văn hoá
mang bản sắc của mỗi dân tộc, đợc hình thành từ lâu đời và luôn đợc mọi ng-
ời tôn trọng. Đó chính là tính tơng thân, tơng ái giúp đỡ lẫn nhau với phong
tục, tập quán tốt đẹp "lá lành đùm lá rách". Một nền pháp luật chỉ tồn tại và
bền vững khi phù hợp với đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Phong
18
tục tập quán có vai trò rất quan trọng cùng với pháp luật nhà nớc tham gia
quản lý xã hội. Nhận thức đợc tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nớc ta đặc
biệt chú trọng đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, nhất là
trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta thực hiện chính sách mở cửa giao lu và
hội nhập "trong điều kiện kinh tế thị trờng và mở rộng giao lu quốc tế phải
đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc dân tộc, kế thừa phát huy
truyền thống đạo đức tập quán tốt đẹp "[27, tr.111] T tởng chỉ đạo này đã đi
vào thực tiễn hoạt động lập pháp của nhà nớc ta, nhiều phong tục tập quán tốt
đẹp đã đợc "luật hoá " thành các quy phạm pháp luật. Chúng ta có thể tìm
thấy các quy phạm này trong luật dân sự hoặc hôn nhân gia đình, đặc biệt
trong lĩnh vực thừa kế, một lĩnh vực điều chỉnh pháp luật liên quan nhiều đến
ý nghĩa về mặt vật chất mà còn có giá trị về mặt tinh thần. Vì vậy, từ các Bộ
cổ luật xa xa đến Bộ dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ dân luật Trung kỳ 1936 cũng
nh BLDS 1995, 2005 đều quy định hết sức tỷ mỉ và chặt chẽ về di sản dùng
vào thờ cúng. Phải nói rằng, đây là nét đặc thù trong pháp luật Việt Nam,
điều mà khó tìm thấy trong các nền luật pháp phơng Tây. Nh vậy có thể nói
một số quy phạm PLVTK là các quy phạm đạo đức đợc nâng lên thành luật.
Quy phạm đạo đức này gắn chặt với phong tục tập quán của ngời Việt Nam
trong mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau. Vì lẽ
đó giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán ấy trong đời sống xã hội là
một đảm bảo quan trọng để các quy định pháp luật đi vào thực tế cuộc sống.
1.2.2. Các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam
Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thợng tầng, phản ánh cơ sở hạ
tầng, hay nói cách khác, pháp luật phản ánh hiện tại khách quan của đời sống
kinh tế, xã hội của đất nớc. Mà thực tại khách quan luôn vận động biến đổi
không ngừng. Chính vì thế, pháp luật cũng luôn phải đợc hoàn thiện để kịp
thời đáp ứng nhu cầu của xã hội, xây dựng hoàn thiện pháp luật là một trong
những hoạt động quan trọng của nhà nớc, nhất là trong điều kiện hội nhập
WTO, cải cách pháp luật, xây dựng nhà nớc pháp quyền hiện nay.
"Một hệ thống pháp luật hoàn thiện sẽ có khả năng tạo lập đợc các cơ sở
pháp lý vững chắc cho toàn bộ sự vận động khách quan của đời sống" [58, tr.28].
Để đánh giá tính hoàn thiện của hệ thống pháp luật có nhiều tiêu chí khác
nhau, trong đó có 4 tiêu chí cơ bản, đó là tính toàn diện, tính đồng bộ, tính
phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý [75, tr.60]. Trên cơ sở đó, tiêu chí hoàn
thiện PLVTK ở Việt Nam có thể tập trung 4 nội dung sau:
Một là, tính toàn diện về nội dung:
Nh chúng ta đã biết đời sống xã hội là tổng hợp rất nhiều các quan hệ,
nhng không phải tất cả các quan hệ đều có pháp luật điều chỉnh mà về
nguyên tắc pháp luật chỉ điều chỉnh những quan hệ quan trọng liên quan đến
lợi ích chính đáng của cá nhân, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng. Tuy nhiên
trong quá trình lựa chọn các quan hệ xã hội để điều chỉnh, nhà nớc không thể
Tính đồng bộ thống nhất của hệ thống pháp luật, giáo trình lý luận
chung về nhà nớc và pháp luật đợc thể hiện những điểm sau:
Thứ nhất, đó là sự đồng bộ giữa Hiến pháp và các đạo luật và giữa
các đạo luật với nhau.
Thứ hai, thể hiện sự thống nhất, không mâu thuẫn, không trùng
lắp, chồng chéo trong mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa
các quy phạm pháp luật với nhau [37, tr.407-408].
Chính vì vậy, khi xây dựng và hoàn thiện PLVTK phải xem xét mối tơng
quan giữa các quy phạm pháp luật khác, đảm bảo sự thống nhất của toàn bộ
hệ thống pháp luật nói chung và trong bản thân nó nói riêng.
Nghĩa là, PLVTK phải loại bỏ mọi mâu thuẫn, trùng lắp, chồng chéo
giữa các quy phạm của lĩnh vực này. Chẳng hạn, vấn đề thừa kế quyền sử
dụng đất đợc quy định trong nhiều văn bản khác nhau, nhng các văn bản phải
đều thống nhất về nội dung, không đợc để tình trạng điều luật này mâu thuẫn
với điều luật kia, gây khó khăn cho việc thực hiện và áp dụng. Khi xây dựng
PLVTK, các nhà làm luật cần quán triệt tinh thần của luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật, đó là văn bản của cấp dới không đợc trái với văn bản
của cấp trên, kể cả về nội dung và hình thức. Đặc biệt cần nhấn mạnh đến
21
tính tối cao của Hiến pháp. Mặt khác, cũng thấy rằng, PLVTK là một phận
của hệ thống pháp luật, có mối liên quan chặt chẽ với nhiều bộ phận khác của
ngành Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và gia đình, luật dân sự
Vì thế, khi xây dựng và hoàn thiện bộ phận PLVTK, phải đảm bảo sự
thống nhất cả về nguyên tắc và nội dung với các chế định khác nh chế định
quyền sở hữu, chế định chuyển quyền sử dụng đất, chế định quan hệ pháp
luật giữa cha mẹ với các con, chế định quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng
Nếu chỉ đơn lẽ hoàn thiện PLVTK mà không chú ý đến việc hoàn thiện các
quy định khác có liên quan thì chắc chắn sẽ phá vỡ tính đồng bộ hệ thống
pháp luật. Khi đó PLVTK cũng khó có tính khả thi và hiệu quả trên thực tế.
Ba là, tính phù hợp đối với các quan hệ xã hội về thừa kế.
nguồn từ chính cuộc sống, chính thực tại khách quan.
Hơn nữa, trong điều kiện mở rộng quan hệ ngoại giao hội nhập kinh tế
quốc tế, pháp luật Việt Nam không thể xa rời với xu thế chung của thời đại.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định Việt Nam sẽ "Thực hiện tốt đ-
ờng lối, chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nớc, chủ động tích cực hội
nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với khu vực và thế giới hoàn chỉnh hệ
thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông
lệ quốc tế" [29, tr.204]. Do vậy, PLVTK cũng phải có những quy định hài
hoà, tơng thích với pháp luật quốc tế, đặc biệt là các quan hệ thừa kế có yếu
tố nớc ngoài, thừa kế con sinh ra bằng phơng pháp khoa học Điều đó đòi
hỏi khi xây dựng pháp luật các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền phải nghiên
cứu, tham khảo, chọn lọc những kinh nghiệm của PLVTK các nớc, trên cơ sở
đó vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam cho phù hợp. Nh thế chúng ta
mới có thể xây dựng đợc một hệ thống PLVTK có tính khả thi cao, bởi nó sát
với thực tế và đợc quốc tế thừa nhận.
Thứ t, về trình độ kỹ thuật pháp lý:
Một hệ thống pháp luật hoàn thiện phải đợc xây dựng ở trình độ kỹ
thuật pháp lý cao. Kỹ thuật pháp lý là một vấn đề rộng lớn, phức tạp trong đó
có ba điểm quan trọng, cần thiết phải chú ý:
- Kỹ thuật pháp lý thể hiện ở những nguyên tắc tối u, đợc vạch ra để
áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
- Trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ
cấu của pháp luật.
- Cách biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô động,
lôgíc, chính xác và một nghĩa [75, tr.63].
PLVTK muốn đạt trình độ kỹ thuật lập pháp cao thì phải đợc xây dựng
một cách khoa học, đúng nguyên tắc, đúng về thẩm quyền, nội dung và trình
tự thủ tục ban hành, bảo đảm sự đồng bộ, phối hợp chặt chẽ giữa các nội
dung trong mỗi văn bản, và giữa các văn bản trong cả hệ thống. Đồng thời
PLVTK phải có kết cấu văn bản hợp lý, phơng pháp trình bày rõ ràng, dễ
Trong Luật La Mã, luật dân sự là luật phát triển nhất về quy mô, phạm
vi và kỹ thuật lập pháp. Các chế định luật dân sự La Mã rất phong phú, bao
quát tất cả các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh trong xã hội
lúc bấy giờ. Đó là các chế định về quyền sở hữu, hợp đồng và trái vụ, hôn
nhân gia đình, thừa kế.
Các quy phạm PLVTK trong luật La Mã tơng đối đầy đủ, điều chỉnh
không chỉ các quan hệ về mặt nội dung mà còn cả trình tự thủ tục kiện thừa
kế. Tồn tại trong luật của ngời La Mã có hai loại thừa kế, thừa kế theo di
chúc (Testato); thừa kế theo luật (Inbestato). Nhng với đặc tính quan trọng
của quyền thừa kế ở La Mã là không kết hợp hai hình thức thừa kế cùng một
lúc. Tức là, nếu có thừa kế theo di chúc thì không có thừa kế theo pháp luật
và ngợc lại. Pháp luật không cho phép trong di sản của ngời chết mà một
phần di sản đợc chia theo di chúc, một phần khác đợc chia theo pháp luật.
Luật La Mã quy định di chúc là việc định đoạt tài sản của con ngời lúc
qua đời với nội dung có sự chỉ định rõ về ngời thừa kế, việc chỉ định ngời
thừa kế phải đợc ghi rõ ngay từ đầu và là nội dung cơ bản của di chúc. Nếu
trong di chúc không ghi rõ những quy định về nguồn tài sản sẽ phân phát cho
ai bao nhiêu và tên ngời thừa kế thì di chúc không có hiệu lực.
Theo luật La Mã, hoàn toàn hiểu di chúc là sự "giao dịch" (Negotio)
đơn phơng, hay hiểu cách khác đó là sự thể hiện ý chí của ngời viết di
24
chúc. Chính vì vậy, không đợc hiểu di chúc là một hợp đồng (Contractu),
vì trong di chúc không thể hiện đợc ý chí của ngời thừa kế, và ngời thừa kế
có thể khớc từ việc tiếp nhận tài sản thừa kế. ý chí của ngời thừa kế hoàn
toàn không phụ thuộc vào địa điểm, không gian, thời gian, thời điểm mở di
chúc. Hành vi nhận hoặc chối từ là hành vi độc lập, tách rời với di chúc
[35, tr.161].
Xuất phát từ đó chúng ta có thể hiểu luật La Mã quy định ngời lập di
chúc có quyền thay đổi việc chỉ định ngời thừa kế, truất quyền ngời thừa kế,
thậm chí có quyền huỷ bỏ di chúc nếu điều đó là cần thiết và phù hợp với ý
25