ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHÍ THỊ THANH TÂM
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÁO CHÍ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHÍ THỊ THANH TÂM
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÁO CHÍ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 62 38 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. PHẠM HỒNG THÁI
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.1.4. Những vấn đề chƣa đƣợc giải quyết và vấn đề luận án cần làm .................16
1.2.
Cơ sở lý thuyết và và hƣớng tiếp cận của đề tài .....................................17
1.2.1. Cơ sở lý thuyết ............................................................................................17
1.2.2. Về hƣớng tiếp cận của đề tài .......................................................................18
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1..........................................................................................19
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM .......................................................20
2.1.
Tự do báo chí - lý luận và khuôn khổ pháp luật quốc tế và Việt Nam .......20
2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.
2.1.4.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
Quan niệm về báo chí, tự do báo chí ...........................................................20
Quá trình hình thành và phát triển tƣ tƣởng tự do báo chí ..........................24
Một số đặc điểm của thuyết tự do báo chí...................................................30
Giới hạn của tự do báo chí ..........................................................................38
Khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của pháp luật về báo chí .........43
Khái niệm pháp luật về báo chí ...................................................................43
Đặc điểm của pháp luật về báo chí ..............................................................46
Nội dung cơ bản của pháp luật về báo chí ..................................................49
2.2.4.
3.2.
3.2.1.
Những hạn chế của hệ thống pháp luật về báo chí ở Việt Nam hiện nay.........90
Hệ thống pháp luật về báo chí tản mát, đƣợc quy định trong quá
nhiều văn bản ..............................................................................................90
Một số văn bản pháp luật về báo chí còn chồng chéo, mâu thuẫn ..............91
3.2.2.
3.2.3.
3.2.5.
3.2.6.
Quy định trong một số văn bản pháp luật về báo chí chƣa phù hợp
với thực tiễn .................................................................................................93
Pháp luật về báo chí còn chƣa kịp thời điều chỉnh một số vấn đề bức
xúc của thực tiễn hoạt động báo chí ............................................................95
Một số quy định pháp luật về báo chí thiếu cụ thể......................................98
Pháp luật về báo chí vẫn còn nhiều hạn chế so với Hiến pháp năm 2013 ........99
3.2.7
3.3.
Thực tiễn hoạt động quản lý báo chí còn nhiều hạn chế ...........................104
Nguyên nhân của những hạn chế ...........................................................107
3.2.4.
4.4.3.
4.4.4.
Cải cách bộ máy, cơ chế quản lý báo chí ..................................................144
Nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí ..................145
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4........................................................................................148
KẾT LUẬN ............................................................................................................149
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ........................................................................................151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................152
PHỤ LỤC ...............................................................................................................164
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BTTVTT:
Bộ Thông tin và Truyền thông
CQBC:
Cơ quan báo chí
CQCQBC:
Cơ quan chủ quản báo chí
CQNN:
STTVTT:
Sở Thông tin và Truyền thông
TCTT:
Tiếp cận thông tin
UBND:
Ủy ban nhân dân
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 4.1: Sự phát triển về số lƣợng các CQBC từ năm 1998 đến
tháng 2/2013
116
Biểu đồ 4.2: Tăng trƣởng thuê bao Internet ở Việt Nam (Tính theo
nhiên, báo chí cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập không tƣơng xứng với đổi mới
trong lĩnh vực kinh tế và yêu cầu của công chúng cũng nhƣ hội nhập quốc tế. Đó là: xu
hƣớng thƣơng mại hóa; xa rời tôn chỉ mục đích, đối tƣợng phục vụ; làm lộ bí mật,
an ninh quốc gia. Báo chí còn chƣa đến đƣợc đông đảo nhân dân lao động ở nông
thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nhiều tờ báo đăng bài, ảnh dung tục, thiếu văn
hóa, đi ngƣợc lại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta, gây phản cảm, bức xúc trong
dƣ luận xã hội. Một số nhà báo phẩm chất đạo đức nghề nghiệp yếu kém, thiếu tính
chuyên nghiệp; thậm chí lợi dụng nghề nghiệp vi phạm pháp luật làm ảnh hƣởng
xấu đến uy tín tờ báo và giới báo chí cả nƣớc. Những tồn tại trên bắt nguồn từ nhiều
nguyên nhân trong đó phần nhiều là do hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực
này còn nhiều hạn chế.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, báo chí ngày càng có
vai trò to lớn và trên phƣơng diện chính trị, xã hội, đó là “quyền lực thứ tƣ”. Tuy
nhiên, khuôn khổ pháp luật dƣờng nhƣ đã “chật hẹp”. Sau 15 năm thi hành LBC
đã bộc lộ những hạn chế, nhiều quy định không còn phù hợp với thực tiễn. Nói
một cách hình ảnh nó nhƣ một “chiếc áo quá chật” kìm hãm sự phát triển báo chí
hiện nay. Rất nhiều vấn đề nhƣ: cơ chế quản lý báo chí, mô hình CQBC, báo điện
tử, kinh tế báo chí, bản quyền, cải chính, bảo vệ nguồn tin, lƣu chiểu, quy hoạch
đã lạc hậu, lỗi thời cần phải có sự nghiên cứu để sửa đổi kịp thời. Đồng thời, trong
điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, khi các phƣơng tiện thông tin kỹ thuật hiện
1
đại ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, mạng xã hội ngày
càng phát triển thì việc xây dựng hành lang pháp lý trong lĩnh vực báo chí cần
đƣợc củng cố, tăng cƣờng và hoàn thiện mới đáp ứng đƣợc yêu cầu đặt ra. Vì vậy,
hoàn thiện PLVBC trở thành nhu cầu tất yếu để cùng bƣớc bắt nhịp với sự phát
triển của đất nƣớc, thế giới.
Dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý, kinh nghiệm quốc tế và
thực tiễn Việt Nam về pháp luật báo chí để chỉ ra những khoảng trống và bất cập
trong pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực này; từ đó đề xuất các quan điểm, giải
pháp xây dựng, củng cố khuôn khổ pháp lý về báo chí phù hợp với Hiến pháp,
thông lệ quốc tế và hoàn cảnh, điều kiện thực tế của Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
Một là, phân tích lý thuyết và pháp luật quốc tế về báo chí, tự do báo chí,
cũng nhƣ cơ chế pháp lý về quản lý nhà nƣớc đối với báo chí của một số quốc gia
trên thế giới, từ đó khái quát khung lý thuyết PLVBC. Nói cách khác, nhiệm vụ đầu
tiên là trả lời các câu hỏi: PLVBC là gì? PLVBC của một số quốc gia trên thế giới
nhƣ thế nào? Những yếu tố tích cực nào của pháp luật quốc tế và một số nƣớc mà
Việt Nam có thể tham khảo?
Hai là, phân tích pháp luật hiện hành về báo chí của Việt Nam để chỉ ra nền
tảng, cơ sở lý luận, thực tiễn của nó. Nói cách khác, nhiệm vụ thứ hai là trả lời câu
hỏi: Khuôn khổ PLVBC của Việt Nam hiện nay nhƣ thế nào? Có phù hợp với
những lý thuyết và tiêu chuẩn quốc tế về vấn đề này không?
Ba là, trên cơ sở phân tích, so sánh với lý luận, pháp luật quốc tế, pháp luật
của một số quốc gia, xác định những hạn chế trong PLVBC của Việt Nam và đề
xuất những sửa đổi, bổ sung phù hợp với đặc thù về chính trị, kinh tế, xã hội, văn
hóa và pháp luật của Việt Nam. Nói cách khác, nhiệm vụ thứ ba là trả lời câu hỏi:
PLVBC của Việt Nam cần nhƣ thế nào trong những năm tới? PLVBC của Việt Nam
cần sửa đổi, bổ sung những gì để tiệm cận với xu hƣớng chung trên thế giới nhƣng
vẫn phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện đặc thù của Việt Nam?
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
“Hoàn thiện PLVBC ở Việt Nam hiện nay” là đề tài có phạm vi nghiên cứu
rộng. Tuy nhiên, tác giả không nghiên cứu tất cả các vấn đề lý luận và thực tiễn
PLVBC ở Việt Nam và mọi quốc gia trên thế giới mà với mục tiêu, nhiệm vụ
nghiên cứu nêu trên, tác giả xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài nhƣ sau:
- Vấn đề lý luận cơ bản PLVBC;
3
tự do báo chí; giới hạn của tự do báo chí; những tiêu chí cụ thể trong việc hoàn thiện
PLVBC ở Việt Nam trên cơ sở Hiến pháp năm 2013.
4
Hai là, phân tích đƣợc những hạn chế của hệ thống PLVBC của Việt Nam
hiện nay, đặc biệt có sự so sánh, đối chiếu với quy định của Hiến pháp năm 2013.
Ba là, cung cấp một số kinh nghiệm quản lý báo chí và PLVBC của một số nƣớc,
trên cơ sở đó rút ra đƣợc những yếu tố có thể vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Bốn là, đề xuất đƣợc một số giải pháp để hoàn thiện PLVBC ở Việt Nam trong đó
tập trung sửa đổi LBC hiện hành.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học: Luận án là công trình nghiên cứu trực tiếp PLVBC ở Việt
Nam, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn PLVBC ở Việt Nam. Sau khi
hoàn thành, luận án sẽ là công trình khoa học có giá trị tham khảo cho việc nghiên
cứu, học tập PLVBC.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án là tài liệu nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo, phục
vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu, sửa đổi LBC hiện hành.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần
nội dung gồm 4 chƣơng là:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài;
Chương 2: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về báo chí ở Việt Nam;
Chương 3: Thực trạng pháp luật về báo chí ở Việt Nam;
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về báo chí ở Việt Nam.
5
6
Đinh Văn Hƣờng, Trần Quang (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007). Nội dung của
giáo trình đề cập những vấn đề có tính phƣơng pháp luận, các khái niệm, phạm trù, đặc
trƣng, chức năng, nguyên tắc, hiệu quả, tính sáng tạo của lao động báo chí làm cơ sở
cho việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực báo chí, truyền thông.
+ Đề tài khoa học “Thực trạng và giải pháp nâng cao trình độ cán bộ báo
chí hiện nay” do PGS.TS Vũ Duy Thông làm chủ nhiệm, phân tích và đánh giá thực
trạng trình độ cán bộ báo chí hiện nay, từ đó đề xuất một số định hƣớng và giải
pháp để nâng cao trình độ cán bộ báo chí.
+ Đề tài “Nâng cao hiệu quả của báo chí trong đấu tranh chống quan liêu,
tham nhũng ở Việt Nam” do PGS.TS Trần Quang Nhiếp làm chủ nhiệm đi sâu phân
tích vai trò, thực trạng của báo chí trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng,
trên cơ sở đó kiến nghị một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của báo chí trong
chống quan liêu, tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
+ “Đạo đức nghề báo - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do PGS. TS
Hoàng Đình Cúc chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2013). Cuốn
sách đề cập đến những nội dung nhƣ: quan điểm của Mác, Ăng ghen, Lê nin, Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí, đạo đức nghề báo; thực trạng
đạo đức nghề báo ở Việt Nam hiện nay; qua đó phác thảo hệ tiêu chí về chuẩn mực
đạo đức nghề báo và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện đạo đức nghề báo.
+ “Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản” của TS. Nguyễn Thị Trƣờng
Giang (Nxb Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2014). Cuốn sách khái quát quá
trình hình thành và phát triển của Internet; đặc trƣng cơ bản của báo mạng điện tử;
cách viết và trình bày báo mạng điển tử; mô hình tòa soạn và quy trình sản xuất
thông tin trên báo mạng điện tử.
+ “100 bản quy tắc đạo đức nghề báo trên thế giới” của TS. Nguyễn Thị
Trƣờng Giang (Nxb Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2014). Cuốn sách giới
thiệu 100 bản quy tắc đạo đức nghề báo trên thế giới; so sánh với bản Quy tắc đạo
1.1.1.2. Nhóm các công trình liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến pháp
luật về báo chí
+ “Lý luận và pháp luật về quyền con người” do GS.TS Nguyễn Đăng Dung,
TS. Vũ Công Giao, ThS. Lã Khánh Tùng chủ biên (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2011). Giáo trình đề cập đến rất nhiều nội dung về quyền con ngƣời nhƣ: các quyền
dân sự và chính trị, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong luật quốc tế; cơ chế
bảo vệ và thúc đẩy quyền con ngƣời; pháp luật và cơ chế thực hiện, thúc đẩy quyền
con ngƣời ở Việt Nam. Tuy nhiên, QTDBC chỉ là một trong những quyền dân sự và
chính trị nên đƣợc đề cập một cách cơ bản, khái quát nhất.
+ “Tư tưởng về quyền con người - Tuyển tập thế giới và Việt Nam” của
8
Trung tâm nghiên cứu quyền con ngƣời, quyền công dân thuộc Khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội (Nxb Lao động - Xã hội, 2011). Cuốn sách tuyển chọn những văn
kiện, đoạn trích và tuyên bố mang tính chất tiêu biểu, phản ánh nhận thức và tƣ
tƣởng của nhân loại về quyền con ngƣời trong lịch sử thế giới và Việt Nam. Nhƣng
cũng do cuốn sách này tập trung trình bày các vấn đề về lịch sử quyền con ngƣời
nên vấn đề báo chí chỉ đƣợc đề cập ở mức độ hạn chế với phần điểm qua tƣ tƣởng
của một số danh nhân nhƣ: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, Nguyễn Ái Quốc.
+ “Tiếp cận thông tin: Pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam”
của Trung tâm nghiên cứu quyền con ngƣời, quyền công dân và Trung tâm luật so
sánh thuộc Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2011). Cuốn sách đã đề cập toàn diện, đầy đủ về pháp luật và thực tiễn TCTT ở Việt
Nam và trên thế giới. Cuốn sách có những đề xuất quan trọng nhƣ:
- Báo chí là một kênh để ngƣời dân TCTT. Bảo vệ quyền TCTT của báo chí
cũng là bảo vệ quyền TCTT của công chúng.
- Quyền tự do tƣ tƣởng, ngôn luận, báo chí và quyền đƣợc thông tin là những
quyền con ngƣời, đồng thời là những quyền công dân cơ bản - những quyền hiến
+ Bài viết “Hoàn thiện PLVBC: Nhu cầu bức thiết của thực tiễn” của PGS.
TS Lê Thanh Bình, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 12, tháng 6/2009.
Bài viết đƣa ra một số yêu cầu và nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện PLVBC;
đồng thời kiến nghị một số vấn đề sửa đổi LBC hiện hành.
+ Bài viết “Thực trạng và một số giải pháp đảm bảo thực hiện PLVBC” của
Ths Phí Thị Thanh Tâm, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11, tháng
6/2012. Bài viết đánh giá những ƣu điểm, hạn chế của việc thực hiện PLVBC đồng
thời đƣa ra một số giải pháp đảm bảo để PLVBC đƣợc thực hiện hiệu quả.
+ Bài viết “Tăng cường quản lý nhà nước về pháp luật đối với báo chí” của
tác giả Hoàng Anh đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 25/10/2012. Bài viết
đánh giá thực trạng hệ thống văn bản pháp luật và thực trạng quản lý nhà nƣớc bằng
pháp luật trong lĩnh vực báo chí; qua đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật đối với báo chí là: giữ vững và tăng cƣờng sự
lãnh đạo của Đảng đối với báo chí; tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm
PLVBC; có chính sách hợp lý để đào tạo, bồi dƣỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ.
+ Bài viết “Góp ý sửa đổi Luật Báo chí: Cần cơ chế quản lý phù hợp” của
GS.TS Nguyễn Minh Thuyết đăng trên Báo điện tử Đầu tƣ tài chính ngày
10
31/7/2014. Bài viết phân tích những hạn chế, bất cập của LBC hiện hành và khẳng
định: Hội tụ thông tin cùng với những biến đổi về tâm lý xã hội đã làm thay đổi mô
hình thông tin truyền thống, thay đổi sự phân bố số lƣợng độc giả - thính giả - khán
giả theo hƣớng ngày càng ít ngƣời đọc báo in, nghe đài, xem truyền hình nhà nƣớc;
số ngƣời đọc, viết blog, giao lƣu trên các mạng xã hội ngày càng tăng lên. Đã đến
lúc chúng ta phải có cách ứng xử thích hợp hơn là khăng khăng không chấp nhận
báo chí tƣ nhân và đặt mọi hoạt động thông tin không do báo chí nhà nƣớc thực
hiện ra ngoài LBC.
+ Bài viết “Những bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về
báo chí” của GS.TS Nguyễn Minh Thuyết trong tập Tài liệu Hội nghị Tham vấn
các vấn đề về báo chí nhƣ: báo chí và kinh tế; những xu hƣớng phát triển của báo
chí trong bối cảnh toàn cầu hóa không gian thông tin; vai trò của báo chí trong xã
hội …, trong đó đáng chú ý là chƣơng 3 (luật pháp và sự tự điều chỉnh của báo chí).
Trong chƣơng này, tác giả nhận xét: Không phụ thuộc vào hệ thống luật pháp hiện
hành ở nƣớc này hay nƣớc kia, luật pháp quốc tế rất coi trọng tự do ngôn luận và tự
do báo chí. Tòa án châu Âu về các quyền con ngƣời nêu rõ rằng tự do báo chí đòi
hỏi một sự bảo vệ đặc biệt, nhằm đảm bảo cho quyền tự do ấy có cơ hội “đóng vai
trò thiết yếu là cảnh vệ xã hội” và “phổ biến những thông tin đáng quan tâm”.
+ “Nghiệp vụ báo chí: Lý luận và thực tiễn” của tác giả V.V. Vôrôsilốp,
ngƣời dịch: Lê Tâm Hằng, Trần Phú Thuyết, (Nxb Thông tấn, 2004). Nội dung
cuốn sách khá phong phú, đề cập những vấn đề lý luận nghiệp vụ và kinh nghiệm
thực tiễn trong hoạt động báo chí của nƣớc Nga và thế giới. Đặc biệt, cuốn sách
dành một chƣơng (chƣơng 4) nói về chuẩn mực pháp lý và đạo đức của các phƣơng
tiện thông tin đại chúng. Trong chƣơng này, tác giả khẳng định: Cơ sở cho việc định
ra chức năng đối với các phƣơng tiện thông tin đại chúng ở một quốc gia pháp
quyền là tự do thông tin đại chúng. Nhƣng bất kỳ một sự tự do nào cũng không phải
không có giới hạn, nó phải song hành với trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức.
Quyền tự do hành động càng lớn, điều đó đồng nghĩa với với việc báo chí giành
đƣợc cơ hội ảnh hƣởng đến đời sống xã hội, thì trách nhiệm của báo chí đối với tính
chất và hậu quả của việc sử dụng tự do ấy càng cao.
+ Media Law Handbook (Sổ tay Luật truyền thông), tác giả Jane Kirtley - Ấn
phẩm của Chƣơng trình thông tin quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 12/2010.
12
Cuốn sách đã trình bày có hệ thống nhiều vấn đề về báo chí nhƣ: khuôn khổ cho
một nền báo chí tự do; tự điều tiết thay cho việc giải quyết bằng tòa án; các trách
nhiệm của NLB. Đặc biệt, cuốn sách trình bày cụ thể về vai trò của tự do trao đổi
thông tin trong việc nâng cao vai trò của xã hội dân sự. Cuốn sách khẳng định: Nền
Mỹ, trong đó khẳng định:
- Ở nhiều quốc gia, Chính phủ đóng vai trò là ngƣời quản lý chủ yếu đối với
báo chí. Ở Mỹ, giải pháp là dựa vào sức mạnh của thị trƣờng, sự cạnh tranh, trách
nhiệm và một loạt các yếu tố tự kiểm soát đã phát triển (đạo đức báo chí).
- Ở đâu nhà báo cũng có vai trò trọng yếu và mang lại cho công chúng tri
thức và sự hiểu biết. Nhƣng vì họ hành nghề trong một thế giới đang thay đổi cả về
mặt công nghệ lẫn địa lý, nên cần có những chuẩn mực có hệ thống để hƣớng dẫn
họ. Chỉ bằng cách đó thì các nhà báo mới có thể phục vụ xã hội một cách có trách
nhiệm và xây dựng theo đạo đức nghề nghiệp.
+ “Định nghĩa về tự do Internet” - Tạp chí Điện tử của Chƣơng trình Thông
tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 6/2010. Tạp chí nghiên cứu hiện trạng tự
do Internet ở những khu vực khác nhau trên thế giới và nêu lên những khó khăn để
có đƣợc sự thống nhất về một khái niệm tự do Internet có thể áp dụng trên phạm vi
toàn cầu. Theo đó: Hiện nay các quốc gia đang áp dụng rất nhiều biện pháp hạn chế
khác nhau, một số hạn chế cho thấy những nỗ lực của chế độ cầm quyền độc đoán
nhằm đàn áp các lực lƣợng đối lập, một số khác lại phản ánh sự đa dạng của truyền
thống chính trị và chuẩn mực văn hóa.
+ “Truyền thông tạo sự thay đổi” - Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ,
tháng 12/2007. Tạp chí trình bày về nhiều sự kiện trên thế giới trong đó ngƣời dân sử
dụng các công nghệ và sức mạnh của chúng làm thay đổi nguyên trạng, vạch trần
những vụ vi phạm và đấu tranh vì quyền tự do lớn hơn. Một số bài viết trong Tạp chí
này là: Công nghệ mới, tiếng nói mới; Từ báo chí công dân đến tin tức do ngƣời dùng
tạo ra; Mỗi công dân là một phóng viên; Truyền thông kiểu cũ so với truyền thông
kiểu mới; Các chính phủ và công ty cản trở quyền tự do ngôn luận trên Internet.
+ “Bốn học thuyết truyền thông” của Fred S. Siebert, Thedore Peterson,
Wilbur schram; ngƣời dịch Lê Ngọc Sơn (Nxb Tri thức, 2014). Cuốn sách trình bày
4 học thuyết cơ bản truyền thông thế giới là thuyết độc đoán, thuyết tự do, thuyết
trách nhiệm xã hội, thuyết toàn trị Xô Viết; trong đó khẳng định:
14
tác giả, những tiêu chí trên là đúng nhƣng chƣa đủ, trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc
pháp quyền Việt Nam XHCN và hội nhập quốc tế nhƣ hiện nay cần phải nhấn mạnh
15
thêm một số tiêu chí khác nhƣ: tính công khai, minh bạch, dân chủ, tƣơng thích với các
điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo vệ quyền con ngƣời, quyền tự do báo
chí; hạn chế sự can thiệp, kiểm duyệt của nhà nƣớc trong lĩnh vực báo chí.
Bốn là, sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về báo chí. Đa số các công trình
đều cho rằng: Trƣớc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, trƣớc xu thế mở
cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, trƣớc tình hình phát triển nhanh chóng báo chí ở Việt
Nam, PLVBC đã bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập, nên việc xây dựng, hoàn thiện
PLVBC nói chung, sửa đổi LBC là một yêu cầu tất yếu khách quan trong tình hình
hiện nay ở Việt Nam.
1.1.4. Những vấn đề chưa được giải quyết và vấn đề luận án cần làm
1.1.4.1. Những vấn đề chưa được giải quyết
Qua nghiên cứu, tác giả đồng tình với hầu hết những kết quả nghiên cứu trên.
Tuy nhiên, bên cạnh những đề xuất có giá trị đó, do những mục tiêu nghiên cứu khác
nhau, đi vào những vấn đề cụ thể khác nhau mà những công trình này vẫn chƣa có
điều kiện trình bày một cách có hệ thống và toàn diện các mặt PLVBC ở Việt Nam
hiện nay. Vì vậy, hầu hết các đề xuất trên chƣa thật đầy đủ và đồng bộ. Ví dụ, những
công trình hiện có chƣa làm rõ những vấn đề lý luận nền tảng của PLVBC, đặc biệt là
mối quan hệ giữa PLVBC với bảo đảm tự do báo chí; một số đặc điểm của thuyết tự
do báo chí; giới hạn của tự do báo chí hay sự tƣơng thích giữa PLVBC của Việt Nam
với các tiêu chuẩn có liên quan của pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia
khác trên thế giới.
Ngoài ra, xét về tổng thể, bức tranh nghiên cứu PLVBC ở Việt Nam cho đến
nay vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi cần có sự nỗ lực hoàn thiện tiếp. Về mặt lý luận
và thực tiễn, có nhiều vấn đề PLVBC gắn với điều kiện đặc thù của Việt Nam cho
đến nay vẫn chƣa đƣợc làm sáng tỏ. Ví dụ, mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà
Hiến pháp và pháp luật; đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, phát
huy quyền dân chủ của nhân dân theo yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền
Việt Nam XHCN “của dân, do dân và vì dân”; về quyền con ngƣời, quyền công
dân, trong đó có QTDBC.
Luận án cũng đƣợc thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc một số lý thuyết
về hiến pháp, pháp luật và dân chủ nói chung, lĩnh vực báo chí nói riêng. Đó là
những lý thuyết của các học giả tiêu biểu nhƣ: John Locke, John Milton, Thomas
Jefferson… John Locke với các học thuyết “chủ quyền của nhân dân”; “quyền tự
17