Luận văn Hoàn thiện pháp luật về thương mại khi việt nam gia nhập wto - Pdf 24

Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
Trường Đại học ngoại thương
Khoa kinh tế ngoại thương

Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài:
Hoàn thiện pháp luật về thương mại
hàng hoá của Việt Nam trước yêu cầu gia nhập
tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Hoàng Ngọc
Thiết
Sinh viên : Hoàng Anh Tuấn
Lớp : Anh 9 - K38C - KTNT
Hà Nội - 12/2003
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT
1
1
Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
Lời cảm ơn
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các thầy cô giáo
Trường Đại học Ngoại Thương, đặc biệt là các thầy cô trong Ban giám hiệu và
Khoa Kinh tế ngoại thương, đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em học tập và trưởng
thành trong hơn bốn năm học tại trường.
Em xin trân trọng cảm ơn thầy Hoàng Ngọc Thiết – Phó giáo sư, Tiến sỹ, Phó
hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại Thương, người đã nhiệt tâm và tận tình hướng
dẫn em hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp.
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới Tiến sỹ Hoa Hữu Long - Chuyên
viên chính, Phó vụ trưởng Vụ Pháp luật Quốc tế và Hợp tác Quốc tế - Bộ Tư pháp,
Ông Lê Minh Tâm - Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng hàng hoá - Bộ Thương
mại, Thạc sỹ Nguyễn Thành Hưng - Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Thương mại,
những nhà khoa học đã luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện về tài liệu cập nhật

quả vào ASEAN/AFTA, APEC và đang “tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) theo các phương án và lộ trình hợp lý, phù
hợp với hoàn cảnh của nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp và đang
trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế”
2
(mục tiêu dự kiến vào năm 2005). Có
thể khẳng định, việc gia nhập WTO trong thời gian tới sẽ là bước ngoặt đánh dấu sự
hội nhập mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam vào kinh tế thế giới. Với sự gia nhập này,
chúng ta sẽ tránh được tình trạng bị phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế, ổn
định được thị trường xuất khẩu, từng bước nâng cao vị thế của quốc gia và tạo thế
đứng vững chắc hơn trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, gia nhập WTO cũng đòi hỏi Việt Nam cần có sự đổi mới và hoàn thiện hệ
thống chính sách và pháp luật, đặc biệt là pháp luật kinh tế - thương mại sao cho
phù hợp với các quy tắc chung của hệ thống thương mại quốc tế, với “luật chơi”
chung của thế giới, đồng thời vẫn đảm bảo được quyền lợi của đất nước, độc lập,
chủ quyền dân tộc, ổn định đời sống kinh tế - chính trị - xã hội trong nước.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo “luật chơi” chung của WTO là một vấn đề
không hề đơn giản. Bởi lẽ, WTO được tổ chức và vận hành dựa trên một khuôn khổ
pháp lý chặt chẽ nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt
động của mình, nhằm mục đích phối hợp hành động của các quốc gia trong nỗ lực
1 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX - NXB Chính trị quốc gia, 2001
2 Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/1/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT
4
4
Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
chung là tiến tới tự do hoá thương mại trên phạm vi toàn cầu. Khuôn khổ đó là một
hệ thống các văn bản pháp lý có giá trị ràng buộc tất cả các nước thành viên, gồm
60 Hiệp định, Phụ lục, Quyết định và Văn bản diễn giải mà các nước tham dự Vòng
đàm phán Uruguay đã ký thông qua Định ước cuối cùng (Final Act) cùng với Hiệp

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là chế định thương mại hàng hoá của
WTO bao gồm Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) và các Hiệp
định kèm theo (12 Hiệp định)
3
cùng các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam
về thương mại hàng hoá. Phạm vi nghiên cứu của khoá luận chỉ giới hạn ở những
quy định và nội dung cơ bản trong các Hiệp định và các văn bản pháp luật kể trên,
không đi sâu phân tích chi tiết và toàn bộ các Hiệp định, các văn bản đó, không
phân tích các Phụ lục, các Văn bản diễn giải đi kèm các Hiệp định của WTO, cũng
như không phân tích các luật thương mại chuyên ngành như dịch vụ, sở hữu trí tuệ,
đầu tư v.v…
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả sử
dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, diễn giải, quy nạp để
nghiên cứu đề tài khoá luận. Ngoài ra, khoá luận còn vận dụng các quan điểm,
đường lối, chủ trương phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước để khái quát hệ
thống và khẳng định kết quả nghiên cứu.
Bố cục của khoá luận
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội
dung của khoá luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những quy định cơ bản về thương mại hàng hoá của WTO
Chương 2: So sánh pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam với các
quy định về thương mại hàng hoá của WTO
Chương 3: Quan điểm, nguyên tắc và các giải pháp điều chỉnh hoàn thiện
pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
3 Xem Danh mục các Phụ lục của Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (Hiệp định WTO),
trang 19 (List of Annexes, page 19, Final Act embodying the Results of the Uruguay Round of Multilateral
Trade Negotiatons. The Uruguay Round, Trade Negotiations Committee)
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT

á
ATC
Agreement on Textiles and
Clothing
Hiệp định về Hàng dệt và May
mặc
CVA
Agreement on Implementation of
Article VI of the GATT 1994
(“Customs Value Code”)
Hiệp định về thực thi Điều VII của
GATT 1994 (Xác định trị giá tính
thuế hải quan)
DSU Understanding on Rules and
Procedures Governing the
Bản thoả thuận về Quy tắc và Thủ
tục giải quyết tranh chấp
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT
7
7
Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
Settlement of Disputes
EU European Union Liên minh Châu Âu
GATS
General Agreement on Trade in
Services
Hiệp định chung về Thương mại
Dịch vụ
GATT
General Agreement on Tariffs and

Agreement on the Application of
Sanitary and Phytosanitary
Measures
Hiệp định về áp dụng các biện
pháp kiểm dịnh động thực vật
TBT
Agreement on Technical Barriers
to Trade
Hiệp định về hàng rào kỹ thuật
trong thương mại
TPRM Trade Policy Review Mechanism
Cơ chế đánh giá chính sách thương
mại
TRIMs
Agreement on Trade-Related
Investment Measures
Hiệp định Các biện pháp đầu tư
liên quan đến thương mại
TRIPS
Agreement on Trade-Related
Aspects of Intellectual Property
Rights
Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ
liên quan đến thương mại
UNCTAD
United Nations Conference on
Trade and Development
Hội nghị Thương mại và Phát triển
của Liên hợp quốc
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT

các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp
dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, nhằm
thực hiện mục tiêu tự do hoá mậu dịch, mở đường cho cho kinh tế và thương mại
phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các
nước thành viên.
Hiến chương thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được
thỏa thuận tại Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT
10
10
Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
11/1947 đến 24/3/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn,
nên việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được.
Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt
được ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên
tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng
lập đã cùng nhau ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT),
chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1948.
Trong quá trình hoạt động của mình từ tháng 1/1948 đến tháng 1/1995, GATT
đã tiến hành 8 vòng đàm phán
4
chủ yếu về thuế quan. Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 của
thế kỷ XX và đặc biệt từ Vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994) do thương mại
quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán
không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các Hiệp định hình thành các
chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề về hàng rào phi quan thuế, về thương mại
dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về
thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp. Với diện
điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về
Thuế quan và Thương mại (GATT) với tư cách là một sự thoả thuận có nhiều nội

WTO có 3 mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất, giúp cho dòng thương mại càng tự do được bao nhiêu càng tốt bấy
nhiêu. Để làm được như vậy, người ta cố gắng để mọi cái có thể rõ ràng mà không
trừu tượng, có thể nhận biết và dự báo trước được. Điều đó có nghĩa WTO phải
phấn đấu để bảo đảm cho các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ các nước hiểu
rằng các quy tắc thương mại là thống nhất trên toàn thế giới và không một nước nào
được đột nhiên thay đổi chính sách thương mại mà không một cá nhân, tổ chức của
nước khác biết trước. Nói một cách khác là các quy tắc thương mại phải “trong
sáng, rõ ràng” và có thể lường trước được mọi thay đổi.
Thứ hai, thực hiện chức năng của trung tâm dàn xếp, thương lượng và thoả
thuận các chính sách, quy tắc thương mại đa biên.
Thứ ba, trung tâm để giải quyết các bất đồng, các tranh chấp phát sinh trong
quá trình hoạt động thương mại quốc tế.
1.1.3. Các nguyên tắc cơ bản của WTO
7

Hệ thống các hiệp định của WTO khá lớn và đồng bộ, bao quát cả một phạm
vi rộng lớn các hoạt động thương mại. Các hiệp định đó liên quan đến nông nghiệp,
7 Xem thêm Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế, Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, NXB
CTQG, 2000, trang 18-24 và Thông tin khoa học pháp lý Chuyên đề về: ASEAN, APEC, WTO - Một số vấn
đề pháp lý về tổ chức và hợp tác, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, 10/1998, trang 46-51
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT
12
12
Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
hàng dệt may, ngân hàng, vô tuyến viễn thông, mua sắm của chính phủ, các tiêu
chuẩn công nghiệp, đến sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực khác. Tuy vậy, các nguyên tắc
cơ bản, các nguyên tắc nền tảng của WTO xuyên suốt toàn bộ các hiệp định. Các
nguyên tắc đó là cơ sở của hệ thống thương mại đa biên. Có thể nêu lên một số
nguyên tắc cơ bản sau đây của WTO:

lai sẽ xoá bỏ hoàn toàn, mở đường cho thương mại phát triển. Tự do hoá thương
mại gắn với việc dỡ bỏ hàng rào thương mại thông qua đàm phán song phương và
đa phương phù hợp với pháp luật, thể lệ và khả năng cụ thể của từng nước.
Đến nay hầu hết các nước đều hưỏng ứng chủ trương tự do hoá thương mại
của WTO để tranh thủ khả năng và cơ hội hợp tác, liên kết kinh tế ở các mức độ
khác nhau, tham gia vào phân công lao động quốc tế, thâm nhập vào thị trường
quốc tế ngày càng sâu sắc hơn.
1.1.3.3. Nguyên tắc bảo hộ bằng hàng rào thuế quan
Tuy chủ trương tự do hoá thương mại, nhưng WTO vẫn thừa nhận sự cần thiết
của bảo hộ mậu dịch vì các nước đều nhận thấy thực tiễn thế giới có sự chênh lệch
về trình độ phát triển kinh tế, thương mại giữa các nước.
Nguyên tắc bảo hộ mậu dịch mà WTO chủ trương là bảo hộ bằng hàng rào
thuế quan, không ủng hộ bảo hộ mậu dịch bằng hàng rào phi thuế quan hoặc các
biện pháp hành chính.
Các nước có nghĩa vụ phải công bố mức thuế trần cam kết, để rồi từ đó cùng
với các nước WTO khác thương lượng giảm dần. Chỉ có giảm, mà không có tăng
quá mức trần cam kết, nếu tăng quá thì phải bồi thường nhanh chóng, kịp thời và
thoả đáng cho các nước bị thiệt hại. Ngoài ra, mỗi nước phải cam kết mốc thời gian
thực hiện lộ trình cắt giảm dần để tiến tới mục tiêu xoá bỏ hàng rào quan thuế.
1.1.3.4. Nguyên tắc ổn định trong thương mại
8

WTO chủ trương thương mại quốc tế phải được tiến hành trên cơ sở ổn định,
rõ ràng, minh bạch, không ẩn ý. Để thực hiện nguyên tắc này, WTO quy định:
Các nước thành viên phải thông qua đàm phán, đưa ra các cam kết với những
lộ trình thực hiện cụ thể. Tuy thừa nhận quyền của mỗi nước thành viên được đàm
phán lại các cam kết của mình, nhưng WTO quy định nghĩa vụ phải đền bù các thiệt
hại có thể xảy ra cho các thành viên khác.
8 Nguyên tắc này còn gọi là “có thể dự đoán trước được”
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT

hiện một hoặc một số nghĩa vụ cam kết. Tuy vậy, đây chỉ là một quyền hết sức tạm
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT
15
15
Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
thời và phải được 3/4 số phiếu biểu quyết tán thành
9
. Điều XIX của GATT 1994 còn
cho phép một nước thành viên áp dụng những biện pháp tự vệ trong trường hợp
khẩn cấp, khi nền sản xuất trong nước bị hàng hoá nhập khẩu đe doạ. Với quyền tự
vệ này, mỗi nước có thể sử dụng hình thức tăng thuế nhập khẩu vượt mức trần cam
kết hoặc áp dụng hình thức hạn chế số lượng hoặc các hình thức khác để hạn chế
nhập khẩu, hỗ trợ sản xuất trong nước. Tuy vậy, biện pháp này chỉ có tính tạm thời
và phải áp dụng bình đẳng, công khai.
1.1.3.8. Nguyên tắc tôn trọng các tổ chức quốc tế khu vực
WTO là đại diện cho thương mại toàn cầu, nhưng vẫn thừa nhận những tổ
chức kinh tế khu vực hoạt động trong lĩnh vực thương mại quốc tế, miễn là những
tổ chức này tuân thủ nguyên tắc tự do hoá thương mại, thực hiện chính sách kinh tế
mở, hướng ngoại, không co cụm, thực hiện việc loại bỏ dần hoặc giảm dần các hàng
rào quan thuế, phi quan thuế gây cản trở cho dòng thương mại toàn cầu. Do vậy,
nguyên tắc MFN được miễn trừ trong quan hệ giữa các nước thành viên của tổ chức
kinh tế, thương mại khu vực dưới hình thức liên minh thuế quan hoặc khu vực mậu
dịch tự do.
1.1.3.9. Nguyên tắc dành điều kiện thuận lợi hơn cho các nước đang phát
triển và chậm phát triển
Phần IV GATT 1994 thừa nhận sự cần thiết phải dành cho các nước đang phát
triển và chậm phát triển những điều kiện thuận lợi hơn trong thương mại quốc tế về
hàng hoá và dịch vụ. Đối với những nước này, các nước công nghiệp phát triển sẽ
không yêu cầu có đi có lại trong các cam kết, giảm hoặc bỏ hàng rào thuế quan hoặc
phi thuế quan để các nước đó có thể tham gia đầy đủ vào thương mại thương mại

(3) Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)
(4) Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí
tuệ (TRIPS)
(5) Bản thoả thuận về Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU)
(6) Cơ chế rà soát chính sách thương mại (TPRM)
(7) Hiệp định thương mại nhiều bên
- Hiệp định về thương mại máy bay dân dụng
10 Xem thêm Danh mục các chữ viết tắt trong khoá luận
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT
17
17
Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
- Hiệp định về mua sắm chính phủ
- Hiệp định quốc tế về bơ sữa
- Hiệp định quốc tế về thịt bò
Nguồn: Final Act embodying the Results of the Uruguay Round of Multilateral
Trade Negotiatons. The Uruguay Round - Trade Negotiations Committee
WTO chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các Hiệp định này. Tổ chức
này cũng đóng vai trò là diễn đàn đàm phán giữa các nước nhằm tự do hoá hơn nữa
thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ. Nó cũng đưa ra một cơ chế giải quyết
các tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên. Bất cứ nước thành viên nào
cho rằng thương mại của mình bị ảnh hưởng bất lợi vì một nước khác không tuân
thủ các quy tắc, nếu không đi đến được một giải pháp thoả đáng thông qua tham
vấn song phương, có thể đưa vấn đề ra WTO để giải quyết. Mọi vấn đề quan trọng
thuộc thẩm quyền của WTO được quyết định tại Hội nghị Bộ trưởng các nước thành
viên. Hội nghị hai năm họp ít nhất một lần.
1.2. Những quy định cơ bản Về thương mại hàng hoá CủA WTO
1.2.1. Những nguyên tắc cơ bản của WTO về thương mại hàng
hoá
ở phần trên, chúng ta đã tìm hiểu và phân tích các nguyên tắc cơ bản nhất của

biệt đối xử giữa các nước xuất khẩu hoặc giữa các nước nhập khẩu hàng hoá
đó. Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể trong quy định về Đối xử Tối huệ
quốc (MFN). Trường hợp ngoại lệ đặc biệt của nguyên tắc này là thoả thuận
ưu đãi khu vực.
 Nguyên tắc thứ tư: Đối xử quốc gia. Nguyên tắc này yêu cầu
các nước không được đánh thuế nội địa như thuế doanh thu hay thuế giá trị
gia tăng vào các sản phẩm nhập khẩu, sau khi hàng hoá đó đã vào thị trường
nội địa và nộp thuế nhập khẩu tại biên giới, theo mức thuế cao hơn mức thuế
đánh vào sản phẩm nội địa tương tự.
1.2.1. Quy định cụ thể về Đối xử Tối huệ quốc và Đối xử quốc gia
1.2.1.1. Đối xử Tối huệ quốc (MFN)
Theo Điều I Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT 1994), chế
độ Đối xử Tối huệ quốc (MFN) yêu cầu một nước thành viên phải áp dụng thuế
quan và các quy định khác đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước thành viên khác
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT
19
19
Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
nhau (hoặc hàng hoá xuất khẩu tới các nước thành viên khác nhau) một cách bình
đẳng, không phân biệt đối xử. Điều đó có nghĩa là nếu một nước thành viên dành
cho sản phẩm từ bất kỳ nước thành viên nào mức thuế quan hay bất kỳ một ưu đãi
nào khác thì cũng phải dành mức thuế quan hoặc ưu đãi đó cho sản phẩm tương tự
của tất cả các nước thành viên khác một cách ngay lập tức và vô điều kiện.
Hơn thế nữa, nghĩa vụ đối xử Tối huệ quốc không chỉ hạn chế ở thuế quan mà
còn áp dụng đối với: (i) bất kỳ khoản phí nào liên quan tới nhập khẩu và xuất khẩu;
(ii) phương pháp đánh thuế và các khoản phí nói trên; (iii) những quy tắc và thủ tục
liên quan đến xuất khẩu và nhập khẩu; (iv) thuế và phí nội địa đối với hàng nhập
khẩu và các luật lệ, quy định, điều kiện ảnh hưởng đến việc bán hàng.
Tuy vậy, vẫn có những ngoại lệ đối với nguyên tắc này. Điều XXIV GATT
1994 quy định các trường hợp ngoại lệ đối với thương mại giữa các nước thành viên

nghiêm ngặt hơn đối với hàng nhập khẩu.
1.2.3. Những quy định về thuế quan của WTO
1.2.3.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế quan
Thuế quan là loại thuế lấy vật phẩm xuất khẩu qua biên giới quốc gia hay quá
cảnh làm đối tượng thu thuế, tạo thành khoản thu nhập thuế của Nhà nước do hải
quan thực hiện.
Mục đích thu thuế quan trong thời kỳ xã hội phong kiến và trước đó chủ yếu là
để tăng thu nhập tài chính quốc gia. Sau khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
phát triển, thuế quan không chỉ là nguồn thu tài chính, mà còn là công cụ thực hiện
chính sách kinh tế thương mại của các nước cận và hiện đại.
Theo những tiêu chí khác nhau, người ta có thể phân loại và gọi tên thuế quan
theo nhiều cách. Ví dụ: theo hướng lưu thông hàng hoá xuất nhập khẩu có thuế
quan xuất khẩu, thuế quan nhập khẩu, thuế quá cảnh; theo phương pháp đánh thuế
có thuế quan tính theo giá, thuế quan tính theo lượng, thuế quan hỗn hợp; theo mức
ưu đãi có thuế quan thông thường, thuế quan ưu đãi, thuế quan ưu đãi đặc biệt, thuế
quan đãi ngộ Tối huệ quốc Mặc dù có thể phân ra nhiều loại thuế như vậy nhưng
thuế quan nói chung có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Tạo nguồn thu cho ngân sách.
- Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển.
- Cản trở sự phát triển của thương mại.
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT
21
21
Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, WTO, cũng như các tổ chức kinh tế
quốc tế khác, luôn coi mục tiêu quan trọng của mình là tự do thương mại, huỷ bỏ
hoặc cắt giảm rào cản thương mại, trong đó có thuế quan.
1.2.3.2. Quy định về thuế quan
WTO thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các
ngành sản xuất trong nước, còn các hàng rào phi thuế phải được bãi bỏ. Sở dĩ như

Các nước
công nghiệp
Các nước đang
phát triển
Các nước có nền
kinh tế chuyển đổi
Trư
ớc
Sau
Mức
giả
m
Trư
ớc
Sau
Mức
giả
m
Trư
ớc
Sau
Mức
giả
m
Các nước công nghiệp 5,5 3,0 45 14,9 10,7 28 10,4 7,7 26
Mỹ 4,4 1,9 57 13,6 10,2 25 8,3 6,1 27
EU 5,8 3,5 40 18,4 13,8 25 10,6 7,9 25
Nhật 6,2 3,6 42 14,1 9,3 34 14,0 10,9 22
Nước khác 4,9 2,4 51 12,4 9,0 35 9,6 7,0 27
Nước đang phát triển 6,9 4,8 30 10,0 7,1 29 12,1 8,8 27

Vì giữa mức thuế thực tế và mức thuế trần có một khoảng cách nên nước cam kết
ràng buộc thuế hoàn toàn có thể tăng thuế suất thực tế của mình mà vẫn không vi
phạm cam kết.
- Thuế suất ràng buộc bằng thuế suất thực tế áp dụng.
- Thuế suất ràng buộc thấp hơn thuế suất thực tế áp dụng.
Hai trường hợp sau thường gặp ở các nước phát triển. Các nước này tự tin về
khả năng cạnh tranh của hàng hoá nước mình trước những hàng hoá nhập khẩu chịu
thuế suất thấp. Vì thế, họ sẵn sàng đưa ra thuế suất ràng buộc bằng, thậm chí thấp
hơn thuế suất thực tế áp dụng, thể hiện thiện chí giảm thuế và sự chuẩn bị chu đáo,
kỹ càng trong lịch trình giảm thuế để đạt được thuế suất ràng buộc trong một
khoảng thời gian cụ thể.
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, các nước thành viên cam kết ràng buộc
thuế quan đối với 100% các mặt hàng, Hầu như tất cả các hạn chế khác đều được
quyền chuyển sang thuế. Còn trong lĩnh vực công nghiệp, các nước phát triển tăng
mức cam kết ràng buộc từ 77% lên 99% mặt hàng, các nước đang phát triển cũng
tăng từ 21% lên 73%, các nước có nền kinh tế chuyển đổi tăng từ 73% lên 98%.
Các con số này đảm bảo mức độ tiếp cận thị trường an toàn hơn cho các nhà đầu tư
và kinh doanh quốc tế.
WTO có thể chấp nhận việc phá bỏ cam kết ràng buộc thuế trong một số
trường hợp ngoại lệ nhưng sau đó, nước phá bỏ cam kết ràng buộc thuế phải đền bù
cho phần thương mại mà các bạn hàng bị mất đi.
 Không phân biệt đối xử
Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C - KTNT
24
24
Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả
các thành viên của WTO. Mà chế độ MFN của WTO, như đã được nghiên cứu ở
phần trước, là chế độ MFN đa phương, vô điều kiện. Vì thế, nếu một nước, thông
qua đàm phán, giảm thuế quan cho một mặt hàng nhất định của một nước khác thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status