LUẬN VĂN:
Hoàn thiện pháp luật về cán bộ chính quyền cấp
cơ sở theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền ở nước ta hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền cơ sở là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ
vụ cụ thể của từng cơ sở, có nơi thiếu, nơi thừa, số lượng cán bộ được hưởng phụ cấp,
sinh hoạt phí ngày càng đông, trình độ kiến thức, năng lực, phương pháp công tác của
cán bộ còn yếu kém về nhiều mặt, chính sách tuyển dụng, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng
và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ cơ sở không ổn định, thiếu nhất quán, không đồng bộ và
còn nhiều bất hợp lý, chưa có tác dụng khuyến khích động viên cán bộ đang công tác ở
cơ sở yên tâm chịu khó phấn đấu rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức và học tập để
nâng cao trình độ; không có tác dụng thu hút cán bộ trẻ, được đào tạo cơ bản về công
tác ở cơ sở. Hơn nữa, pháp luật về CBCQCS còn chắp vá, tản mạn, thiếu những chế
định: Quy định về tổ chức bộ máy chính quyền và các tổ chức thuộc hệ thống chính trị
xã, phường, thị trấn theo từng loại; số lượng định biên và tiêu chuẩn đối với các đối
tượng cán bộ xã, phường, thị trấn theo từng vùng và từng loại cơ sở. Xác định những
nguyên tắc cơ bản về công tác cán bộ xã, phường, thị trấn từ bầu cử, tuyển dụng, đào tạo,
bồi dưỡng, quản lý, sử dụng, điều động, đến cho thôi việc, khen thưởng và kỷ luật cán
bộ.
Chính từ hạn chế, bất cập của pháp luật về CBCQCS là một trong những
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc đội ngũ CBCQCS trong hoạt động quản lý, điều
hành hành chính còn nhiều yếu kém, tùy tiện. ở một số địa phương đã và đang xuất
hiện một số vấn đề đáng lo ngại. Quyền làm chủ của nhân dân ở những mức độ khác
nhau đang bị vi phạm, có những nơi khá nghiêm trọng; trật tự xã hội, kỷ cương, pháp
luật bị buông lỏng; tình trạng bất lực của chính quyền cơ sở, sự tha hóa, tham ô, lãng
phí, quan liêu của một số CBCQCS ở một số địa phương chậm được khắc phục.
Nghị quyết của Trung ương 5 khóa IX của Đảng chủ trương từ nay đến năm
2005 phải tập trung:
Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, biết
hướng dẫn và phát huy tính tự quản của dân, công tâm, thạo việc, tận tụy
với dân, không tham nhũng, ức hiếp dân, được dân tín nhiệm; chăm lo đào
của chính quyền xã ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3
(167)/2002.
- GS.TSKH Vũ Huy Từ: Một số giải pháp tăng cường năng lực đội ngũ cán
bộ cơ sở, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 5 (76)/2002.
- TS. Lê Chi Mai: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở - vấn đề và
giải pháp, Tạp chí Cộng sản, số 20/2002.
- TS. Đặng Quốc Tiến: Thực hiện đồng bộ các giải pháp để đổi mới và nâng cao
hiệu lực của chính quyền cơ sở, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 5/2002.
- Đỗ Quang Trung: Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX -
Xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Tạp chí Tổ
chức nhà nước, số 4/2002
Về cơ bản các công trình và bài viết trên đây mới chỉ đề cập đến việc xây
dựng chính quyền cơ sở và đội ngũ CBCQCS. Cho đến nay vẫn chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách toàn diện quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về
CBCQCS, đặc biệt là chưa có một công trình nào đề cập đến thực trạng và hiệu lực
của pháp luật về CBCQCS.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là thông qua việc nghiên cứu làm rõ về mặt lý luận và
thực tiễn của pháp luật về CBCQCS; từ đó đưa ra những đề xuất kiến nghị mang tính
giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về CBCQCS theo yêu cầu xây dựng
NNPQ ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật
về CBCQCS.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về CBCQCS; từ đó rút ra những vấn đề cần
phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về CBCQCS dựa trên những cơ
sở khoa học và thực tiễn.
Góp phần đưa Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX của Đảng vào cuộc sống.
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn làm tài liệu tham khảo cho học tập,
nghiên cứu, giảng dạy đối với sinh viên, học viên ở các cơ sở đào tạo cử nhân luật học,
cử nhân hành chính và các khóa bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước đối với
CBCQCS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1
Cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật
cán bộ chính quyền cấp cơ sở
1.1. Vị trí, vai trò của chính quyền cơ sở và đội ngũ cán bộ chính quyền cơ
sở trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.1.1. Vị trí, vai trò của chính quyền cơ sở
Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, cấp cơ sở (gồm xã, phường, thị trấn)
vẫn giữ được vị trí quan trọng của nó trong hệ thống tổ chức hành chính của Nhà
nước. Trong thời kỳ phong kiến, thực dân phong kiến các Nhà nước đều rất coi trọng
đơn vị hành chính cấp cơ sở. Sự tồn tại, phát triển của tổ chức chính quyền cơ sở cũng
vẫn là một nhu cầu thiết yếu được các Nhà nước thời trung đại, cận đại quan tâm nhằm
củng cố bộ máy nhà nước Trung ương, thực hiện ý đồ thống trị của giai cấp cầm
quyền.
Nhận thức rõ về vị trí, vai trò quan trọng của chính quyền cấp cơ sở, nên ngay
từ những ngày đầu khi mới giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã quan
tâm ngay đến việc xây dựng và kiện toàn bộ máy chính quyền cấp cơ sở gọn nhẹ, vững
thuyết phục giúp dân hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp tổ chức thực hiện sao cho phù hợp với đặc
điểm của địa phương mình, góp phần thực hiện thành công những đường lối, chính
sách đó. Chỉ có chính quyền cơ sở với chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước giao cho
cùng với cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ mới có thể làm được điều đó mà không một
tổ chức nào ở cơ sở có thể thay thế được. Có thể khẳng định: dù chủ trương, đường lối
và pháp luật của Nhà nước có hoàn thiện đến đâu, nhưng nếu cơ sở không thực hiện
hoặc thực hiện không đến nơi, đến chốn thì chủ trương, chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước cũng không thể đi vào cuộc sống.
Thứ ba, chính quyền cơ sở có vai trò trong việc quản lý và tổ chức mọi mặt
hoạt động đời sống kinh tế, xã hội ở cơ sở. Trực tiếp tổ chức, chăm lo đời sống và bảo
vệ quyền lợi hàng ngày của nhân dân địa phương, đáp ứng và giải quyết mọi nhu cầu
phát sinh từ cơ sở. Trong điều kiện nước ta, với gần 80% dân số chủ yếu sống bằng
nghề nông gắn với địa bàn cư trú, thì vai trò của chính quyền cơ sở trong quản lý mọi
mặt đời sống của nhân dân ở địa bàn khu dân cư quả là vô cùng to lớn.
Thứ tư, muốn ổn định chính trị - xã hội, trước hết phải ổn định từ cấp cơ sở, vì
cơ sở là nơi tuyên truyền, vận động, tổ chức quần chúng thực hiện các chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Thực tế ở một số địa phương như
Thái Bình và một số tỉnh thuộc Tây Nguyên , do nhận thức chưa đầy đủ, chưa coi
trọng vị trí, vai trò của chính quyền cơ sở đã dẫn tới để kẻ địch lợi dụng, gây chia rẽ
trong nội bộ nhân dân, phá vỡ mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với dân đã được thiết
lập từ bao nhiêu năm nay.
1.1.2. Cán bộ chính quyền cơ sở và vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chính
quyền cơ sở trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.1.2.1 Quan niệm về cán bộ chính quyền cơ sở
Theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, CBCQCS có cán bộ chuyên trách và
cán bộ không chuyên trách:
Phó Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc và 4 phó đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông
dân, cựu chiến binh; Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ, Chủ tịch Hội người cao tuổi cấp xã; Bí
thư chi bộ, trưởng thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố.
Tóm lại, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX thì cán bộ
cơ sở được gọi là "cán bộ, công chức cơ sở" thuộc hệ thống chính trị ở cơ sở.
1.1.2.2. Một số đặc điểm cơ bản mang tính đặc thù của đội ngũ cán bộ
chính quyền cơ sở
Đội ngũ CBCQCS là những người vừa công tác vừa gắn liền với đời sống sản
xuất và sinh hoạt của nhân dân khu dân cư. Bởi vậy, đội ngũ CBCQCS có một số đặc
điểm cơ bản, khác với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung.
* Cán bộ chính quyền cơ sở chịu tác động của phong tục tập quán, truyền
thống và những yếu tố tâm lý của người nông dân
- Là cán bộ dân cử nên nghĩ rằng nay làm, mai nghỉ, "quan nhất thời, dân vận
đại" hay "một người làm quan, cả họ được nhờ"
- Là người sở tại, thực hiện ba cùng với dân: ăn cùng dân, ở cùng dân, làm
việc với dân nên họ coi trọng tình làng nghĩa xóm và giàu tình yêu quê hương đất nước
"bán anh em xa, mua láng giềng gần" Thực tế cho thấy, không ai có thể hiểu được
tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân bằng chính đội ngũ này. Chính nhờ hiểu
dân, thông thạo những phong tục tập quán, tâm lý, truyền thống của nhân dân trên địa
bàn công tác nên đội ngũ này được nhân dân tin và yêu mến hơn cả.
- Là người ngoài biên chế, không được hưởng lương (chỉ có phụ cấp), nên nghĩ
rằng tương lai không gắn với Nhà nước và đời sống không được đảm bảo.
- Là người không được đào tạo, ít am hiểu pháp luật nên sợ làm sai, không ít
CBCQCS (đặc biệt là CBCQCS ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu
số) nhiều khi giải quyết công việc chủ yếu dựa vào luật tục.
- Lề lối làm việc của đội ngũ CBCQCS còn nghiệp dư, không ít CBCQCS có
những biểu hiện quan liêu, hạch sách dân, né tránh sự thật, hậu quả là ở một số địa
Hầu hết cán bộ cơ sở chưa được đào tạo, không có bằng cấp, chỉ được bồi
dưỡng sau khi trúng cử nên rất khó khăn khi áp dụng tiêu chuẩn ngạch, bậc công chức.
Đối với 4 chức danh chuyên môn theo Nghị định 09/1998/NĐ- CP cũng ở
tình trạng tương tự: 60,7% có trình độ văn hóa trung học phổ thông; 11,4% có trình độ
lý luận trung, cao cấp (1,2% có trình độ cao cấp); 17,4 % có trình độ chuyên môn
trung cấp và đại học (2,8% có trình độ đại học).
- Đội ngũ CBCQCS không ổn định, luôn biến động qua bầu cử. Số tái cử
thường chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ dưới 50%.
* Cán bộ chính quyền cơ sở chưa có đủ điều kiện để thực thi nhiệm vụ
Hiến pháp coi xã là đơn vị hành chính cơ sở của Nhà nước ở địa phương. Chính
quyền cấp xã có chức năng quản lý mọi mặt công tác của Nhà nước ở xã. Tuy nhiên,
khi xét các điều kiện để cán bộ xã thực hiện nhiệm vụ thì thấy:
- Chưa nói rõ phạm vi quyền hạn (trong mỗi việc được làm đến đâu).
- Chưa xác định trách nhiệm cá nhân khi không hoàn thành (đây là điều rất
quan trọng).
- Quản lý nhà nước bằng pháp luật nhưng chưa bắt buộc cán bộ phải biết luật
(ngay Luật tổ chức và bầu cử HĐND và UBND cũng không qui định).
- Quản lý nhà nước là tổ chức và điều hành bằng quyền lực nhưng với bộ máy
5-7 thành viên UBND, không phải công chức nhà nước, không làm việc thường xuyên
và suốt đời thì làm sao có đủ thời gian bám sát dân và làm sao đủ quyền lực hữu hiệu
để kịp thời tổ chức và điều hành?
- Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nhưng không có mô hình trụ
sở và trang thiết bị cơ sở vật chất thống nhất cho từng loại địa phương tương xứng và
đặc trưng thể hiện cái "uy" của từng bộ máy quyền lực.
Như vậy, nói cấp xã là cấp chính quyền cơ sở mới chỉ đề cập đến vế nghĩa vụ
mà còn thiếu vế quyền lợi, mới chỉ nói đến yêu cầu mà thiếu điều kiện để nó thực thi
yêu cầu. Bởi vậy, nó không chặt chẽ về mặt pháp lý và dường như điều đó đã tự tách
Hồ Chí Minh đã dạy: "Cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành
chính. Cấp xã làm được thì mọi việc điều xong xuôi" [26, tr. 371]. Thực tiễn cách
mạng nước ta chứng minh cho điều đó: tình hình chính trị - xã hội của đất nước ổn
định hay không phụ thuộc vào sự ổn định của cấp cơ sở.
Đội ngũ CBCQCS là những người sinh ra và lớn lên tại địa bàn cơ sở nên có
quan hệ gắn bó mật thiết với họ hàng, làng xóm. Nguồn chủ yếu từ thực tế lao động,
công tác, xuất ngũ từ lực lượng vũ trang và từ cán bộ hưu trí mất sức. Đội ngũ CBCQCS
là những người sống trong lòng dân, trực tiếp đưa đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao đến với dân, đồng thời cũng là
người trực tiếp tổ chức thực hiện. Đội ngũ CBCQCS còn là những người trực tiếp
chăm lo đời sống hàng ngày của dân, họ có chế độ làm việc linh hoạt, nhiều công việc
phải thực hiện ngoài giờ hành chính, phương pháp công tác cũng khác với công chức
nhà nước, không chỉ giải quyết cứng nhắc theo pháp luật mà chủ yếu là tuyên truyền,
vận động, thuyết phục.
Lý luận và thực tiễn đã có đủ các luận chứng khoa học và các minh họa để
chứng minh đội ngũ CBCQCS luôn giữ vai trò đặc biệt trong mọi hoạt động của quần
chúng nhân dân. Đội ngũ CBCQCS có đủ phẩm chất và năng lực sẽ nhân sức mạnh
quần chúng nhân dân lên một trình độ cao. Nhờ có đội ngũ CBCQCS tốt mới có thể
xác định đường lối chủ trương, tổ chức tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện. Trên ý
nghĩa đó, Hồ Chí Minh đã khái quát: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc Bất cứ
chính sách, công tác gì, nếu có cán bộ tốt thì thành công không có cán bộ tốt thì
hỏng việc" [27, tr. 46].
Nhận thức được vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở, trong quá trình lãnh
đạo cách mạng, lãnh đạo xây dựng nhà nước, Đảng ta và Hồ Chí Minh ra sức chăm lo
đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở. Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX đã đặc biệt
coi trọng nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ và xác định: tình hình nhiệm vụ mới đòi
hỏi toàn Đảng phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ chủ
không, phụ thuộc trước hết vào chất lượng đội ngũ CBCQCS, phụ thuộc vào đội ngũ
đó được tổ chức như thế nào. Các vấn đề này chỉ được giải quyết tốt nhất thông qua
các quy định của pháp luật về CBCQCS.
Hai là, pháp luật về CBCQCS tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý, sử dụng đội
ngũ CBCQCS. Sau khi đã tổ chức được đội ngũ CBCQCS, thì vấn đề tiếp theo được
đặt ra là quản lý và sử dụng đội ngũ CBCQCS như thế nào cho có hiệu quả nhất.
Trong tiến trình xây dựng NNPQ Việt Nam, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,
vì vậy việc quản lý, sử dụng đội ngũ CBCQCS cũng phải trên cơ sở pháp luật mà
trước hết là pháp luật về CBCQCS. Pháp luật về CBCQCS quy định một loạt các vấn
đề quan trọng liên quan đến quản lý và sử dụng đội ngũ CBCQCS như: điều động,
thuyên chuyển, biệt phái; đào tạo, bồi dưỡng; phân công công tác; quản lý hồ sơ; khen
thưởng, kỷ luật. Nếu không quản lý và sử dụng đội ngũ CBCQCS trên cơ sở các quy
định của pháp luật sẽ dẫn đến bộ máy chính quyền cơ sở và đội ngũ CBCQCS vận
hành lệch lạc, thiếu sự gắn kết và đồng bộ.
Ba là, pháp luật về CBCQCS tạo cơ sở pháp lý cho đội ngũ CBCQCS thực thi
nhiệm vụ, công vụ của mình. Như phần trên đã phân tích, đội ngũ CBCQCS cùng với
bộ máy chính quyền cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện phần lớn đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời phải thấy rằng, trong hoạt động của
mình, CBCQCS thường xuyên giải quyết các công việc liên quan đến quyền, nghĩa vụ
của công dân, trong đó có nhiều quyền lợi thiết thân của con người. Để đảm bảo cho
hoạt động của CBCQCS được thực hiện một cách đúng đắn, quyền và nghĩa vụ của
công dân không bị các vi phạm pháp luật xuất phát trong quá trình thực thi nhiệm vụ,
công vụ của đội ngũ CBCQCS xâm hại, thì hoạt động của đội ngũ CBCQCS phải dựa
trên một cơ sở pháp lý đầy đủ. Các cơ sở pháp lý này phần lớn nằm trong các quy định
của pháp luật về CBCQCS (ví dụ như: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch
UBND xã, công an xã; phương pháp, hình thức hoạt động của UBND xã ). Mặt khác,
hoạt động của đội ngũ CBCQCS có thực hiện hay không, phụ thuộc trước hết vào cơ
thay đổi của pháp luật nói chung và của pháp luật về CBCQCS nói riêng sẽ kéo theo
sự thay đổi về bộ máy chính quyền cơ sở, sự thay đổi về tổ chức đội ngũ CBCQCS, về
quyền, nghĩa vụ, hoạt động của đội ngũ CBCQCS. Sự tác động của pháp luật về
CBCQCS đối với đội ngũ CBCQCS có thể là tích cực nếu phù hợp với thực tiễn, và
tiêu cực nếu nó không phù hợp với thực tiễn. Điều này dẫn đến một vấn đề là khi xây
dựng pháp luật về CBCQCS cần phải tính toán một cách đầy đủ, toàn diện những tác
động của pháp luật đến đội ngũ CBCQCS để từ đó chúng ta có cách điều chỉnh phù
hợp. Sự tác động này có thể rất lớn như nếu chúng ta điều chỉnh bộ máy chính quyền
cơ sở dẫn đến khả năng dôi dư lao động, một số CBCQCS sẽ phải nghỉ việc; hoặc tác
động nhỏ nhưng lại rất nhạy cảm như tăng lương hoặc phụ cấp cho đội ngũ CBCQCS.
Hai là, đội ngũ CBCQCS là lực lượng chủ yếu thực hiện các quy định của pháp
luật về CBCQCS. Hiệu lực, hiệu quả của pháp luật về CBCQCS cũng như các quy định
của pháp luật về CBCQCS có được triển khai thực hiện nhanh chóng, chính xác, đầy đủ,
có hiệu lực và hiệu quả cao trên thực tế hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng
trước hết là phụ thuộc vào hoạt động của đội ngũ CBCQCS. Vì vậy, Nhà nước phải có các
biện pháp cụ thể về mặt chính trị, kinh tế, xã hội, tạo điều kiện cho đội ngũ CBCQCS thực
hiện tốt nhiệm vụ, công vụ của mình. Đồng thời cần thấy rằng, quá trình đội ngũ
CBCQCS thực hiện các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về CBCQCS nói
riêng cũng là một quá trình giúp cho Nhà nước kiểm nghiệm thực tế các quy định của
pháp luật có phù hợp hay không. Khi bộ máy, đội ngũ CBCQCS vận hành một cách thông
suốt, nhịp nhàng, có hiệu lực, hiệu quả, điều đó phản ánh rằng pháp luật về CBCQCS đã
phù hợp với thực tiễn. Ngược lại, khi hệ thống CBCQCS hoạt động không tốt, vi phạm
pháp luật nhiều, quyền và nghĩa vụ của công dân bị xâm hại thường xuyên là dấu hiệu cho
thấy hệ thống pháp luật của chúng ta chưa phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, các thông tin từ
thực tiễn hoạt động của đội ngũ CBCQCS là rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện
pháp luật về CBCQCS.
Ba là, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý, sử dụng
* Khía cạnh nội dung pháp lý: tức là bản thân pháp luật phải đảm bảo yêu cầu
khách quan, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
Để đảm bảo đầy đủ cả hai khía cạnh không thể thiếu được đó là NNPQ, nhân loại
đã và đang tìm kiếm những hình thức tổ chức thích hợp của quyền lực nhà nước và
những cơ chế giám sát sự tuân thủ Hiến pháp và pháp luật một cách khoa học, có hiệu
quả cùng một hệ thống tài phán hoàn chỉnh công minh.
Trong điều kiện nhà nước ta hiện nay có thể nói đã hội đủ các điều kiện về kinh
tế, chính trị, xã hội để từng bước xây dựng NNPQ. Một Nhà nước có sắc thái riêng, phù
hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phù hợp với truyền thống, văn hóa của Việt
Nam. Xây dựng NNPQ là một quá trình lâu dài, phức tạp, cần có bước đi thích hợp
trên cơ sở nghiên cứu thấu đáo những luận chứng khoa học và tổng kết thực tiễn, để
các bước đi phù hợp với mức độ phát triển của xã hội ở từng giai đoạn của thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc xây dựng NNPQ xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam là bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực
của nhân dân là cao nhất và thống nhất, không có sự phân chia quyền lực, điều đó có
nghĩa là:
Thứ nhất, bộ máy Nhà nước phải thể hiện đầy đủ quyền và hiệu lực trong mối
quan hệ thống nhất giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của quyền lực
chính trị thống nhất, không phân chia; nó phải phụ thuộc và phục vụ kịp thời nhiệm vụ
chính trị của Đảng, của Nhà nước và lợi ích của nhân dân; phát huy được những ưu
việt thuộc bản chất vốn có của Nhà nước kiểu mới và loại trừ các khuyết tật hiện có để
thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, bộ máy đó phải thích ứng kịp thời, nhanh chóng với nền kinh tế thị
trường nhiều thành phần; thích ứng với sự hội nhập vào đời sống quốc tế, nhất là về
kinh tế, thích ứng với một xã hội công dân có trình độ dân trí được nâng cao, nhân dân
có những đòi hỏi mới trong đời sống vật chất và tinh thần.
lầm thiếu sót trong khi thực hiện nhiệm vụ. Sai lầm thiếu sót này không chỉ xuất phát
từ lỗi của bản thân mà có thể còn do sự thiếu hiểu biết về chuyên môn của bản thân
CBCQCS.
NNPQ đòi hỏi phải công khai hóa hoạt động của các cơ quan nhà nước và
những người có chức vụ trừ trường hợp cần hạn chế vì lý do an ninh quốc gia, trật tự
công cộng hoặc đạo đức xã hội. Tất cả các ràng buộc trên đối với công dân nói chung,
CBCQCS nói riêng nhằm đề cao trách nhiệm của các chủ thể giữ quyền lực, ràng buộc
chính họ, ngăn chặn những hành vi lạm quyền, đồng thời chống lại những biểu hiện tự
do vô chính phủ.
Mặt khác, trong bối cảnh hòa nhập quốc tế, chuyển đổi cơ chế quản lý từ tập
trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần cùng sự xuất hiện nhiều các
quan hệ xã hội mới đã và đang đòi hỏi đội ngũ CBCQCS phải có những thay đổi tương
ứng nhằm thích nghi khả năng giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo
đảm công bằng, xã hội theo định hướng XHCN. Đó là đội ngũ CBCQCS có bản lĩnh
chính trị vững vàng, trung thành với Đảng với Tổ quốc và nhân dân; có kiến thức và
năng lực thực tiễn quản lý kinh tế; có phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, tận
tụy quan tâm chăm lo đến sự nghiệp chung của đất nước.
Vấn đề cán bộ, công chức được Đảng ta xác định là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ và của đất
nước, là khâu then chốt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN ở Việt
Nam. Phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức, CBCQCS có năng lực và thành
thạo nghề nghiệp, tận tụy, biết tôn trọng kỷ luật, có trách nhiệm và hiệu suất hoạt động
cao; được đào tạo chu đáo, được hưởng một chế độ lương, phụ cấp hợp lý, tương xứng
với trọng trách được giao.
Việc xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, sẽ không thành công
nếu không quan tâm đến việc kiện toàn tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở
nói riêng của hệ thống chính trị cơ sở nói chung. Nhận thức được điều đó, vừa qua Ban
tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, không cơ hội, gắn bó
mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
- Có trình độ kiến thức về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước, có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực
và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Các tiêu chuẩn trên gắn bó mật thiết với nhau, coi trọng cả đức và tài, lấy đức
là gốc. Mọi cán bộ phải căn cứ vào đó để tự rèn luyện, bồi dưỡng mình và tổ chức có
trách nhiệm tác động nhằm xây dựng và tuyển lựa cán bộ các ngành, các cấp.
Riêng đối với các bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp, tuyệt đối
trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh- có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn tham gia xây
dựng đường lối, chính sách pháp luật, thuyết phục và hỗ trợ nhân dân thực hiện. Có ý
thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp
luật của Nhà nước.