BÀI SOẠN
MÔN HỌC : TRIẾT HỌC DUY VẬT LỊCH SỬ
Đề bài 3 : Học thuyết Mác xít về Nhà nước và việc đổi mới xây dựng Nhà nước ta
hiện nay.
BÀI LÀM
Theo quan điểm triết học, Nhà nước là tổ chức chính trị - xã hội, là trung tâm của
hệ thống chính trị. Vì vậy, hoạt động của Nhà nước là hoạt động chính trị, các yếu tố
xung quanh của hoạt động chính trị là yếu tố hoạt động của Nhà nước.
A. Nguồn gốc, đặc trưng, chức năng và bản chất của Nhà nước
( Nguồn gốc ra đời của Nhà nước :
- Nhà nước là một phạm trù lịch sử, sản phẩm của lịch sử. Trong lịch sử xã hội
loài người không phải lúc nào cũng có Nhà nước, mà Nhà nước chỉ ra đời vận động,
phát triển và mất đi trong những điều kiện lịch sử nhất định. Sự xuất hiện Nhà nước
không đồng nghĩa xã hội loài người xuất hiện, mà Nhà nước xuất hiện kể từ khi xã hội
có sự phân chia giai cấp.
- Nhà nước ra đời gắn liền với sự xuất hiện của giai cấp, sự xuất hiện của Nhà
nước là sản phẩm của những mâu thuẫn không thể điều hoà được. Có nghĩa là, xuất
phát từ nguyên nhân kinh tế dẫn đến tình trạng trong xã hội có một bộ phận chiếm
hữu tư liệu sản xuất làm nảy sinh những lợi ích giai cấp đối lập nhau; do mâu thuẫn
về mặt lợi ích, các giai cấp đã đấu tranh với nhau. Để cho các giai cấp không tiêu diệt
lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp (ĐTGC), cũng như để (giữ cho xã hội trong
một vòng trật tự nhất định( thì Nhà nước xuất hiện.
Khi đề cập về Nhà nước, Lênin nhấn mạnh : (Nhà nước là sản phẩm và biểu
hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc
nào và chừng nào mà về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều
hoà được thì Nhà nước xuất hiện. Và ngược lại : sự tồn tại của Nhà nước chứng tỏ
rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được(.
Theo quy luật vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử
thì vào cuối thời kì cộng sản nguyên thủy, khi lực lượng sản xuất (LLSX) phát triển đã
dẫn đến chế độ tư hữu và sự phân hoá xã hội thành những giai cấp có lợi ích đối lập
hiện chính sách thuế khoá, quốc trái và các hình thức bóc lột khác. Vì vậy, Nhà nước
của giai cấp không những là công cụ trấn áp giai cấp mà còn là công cụ thực hiện sự
bóc lột các giai cấp bị áp bức.
( Bản chất của Nhà nước :
Nhà nước là cơ quan thống trị, là tổ chức quyền lực chính trị của một giai cấp.
Xét đến cùng, Nhà nước bao giờ cũng là của một giai cấp, giai cấp đó thống trị về
mặt kinh tế trong xã hội; vì thế, cho nên nó thống trị cả về mặt chính trị. Bản chất của
Nhà nước là nền chuyên chính của một giai cấp này đối với giai cấp khác và đối với
toàn xã hội. Nhờ có bộ máy Nhà nước, giai cấp thống trị chiếm số ít trong dân cư duy
trì được sự áp bức, bóc lột của mình đối với giai cấp bị trị bao giờ cũng chiếm số
đông. Bản chất đó được thể hiện ở chức năng và đặc trưng của Nhà nước.
Với tính cách là nền chuyên chính của một giai cấp đối với giai cấp khác, Nhà
nước của giai cấp bóc lột không thể là kẻ (công bằng( bảo vệ lợi lợi ích cho các giai
cấp khác trong xã hội. Theo bản chất đó, (Nhà nước là một bộ phận quan trọng nhất
của kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp. Do đó, Nhà nước nói chung chỉ là
sự phản ánh, dưới hình thức tập trung của những nhu cầu kinh tế của giai cấp thống
trị trong sản xuất(. Lênin viết : (Theo Mác - Nhà nước là một cơ quan thống trị giai
cấp, là một cơ quan áp bức của giai cấp này đối với giai cấp khác, đó là sự kiến lập
một (trật tự(, trật tự này hợp pháp hoá và củng cố sự áp bức kia bằng cách làm dịu xung đột giai cấp(.
Vì vậy, dù bất kì ở chế độ nào, cộng hoà hay quân chủ cũng không thể có Nhà
nước chung chung, phúc lợi chung chung. Bản chất của Nhà nước không bao giờ
biểu hiện một cách thuần túy trực tiếp ra bên ngoài, mà nó thông qua nhiều hình thức
đa dạng, phong phú. Cho nên, khi xem xét một Nhà nước nào đó, để đánh giá đúng
bản chất của nó ta phải tìm hiểu xem Nhà nước đó có thể có nhiều giai cấp, nhiều
đảng phái, nhiều tổ chức, thậm chí có nhiều cá nhân tham gia và chi phối sức mạnh
của Nhà nước. Tránh tình trạng xem xét chung chung để đánh giá bản chất của Nhà
nước đó.
( Chức năng của Nhà nước : Nhà nước có hai chức năng cơ bản nhất là :
- Chức năng đối nội : chức năng này có hai mặt. Mặt thứ nhất : là duy trì sự
thống trị của một giai cấp đối với toàn xã hội. Đồng thời, sử dụng các phương tiện
Thời kì quá độ là thời kì còn tồn tại giai cấp, còn ĐTGC. Là thời kì cải biến cách
mạng liên tục và phức tạp để xoá bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Có nghĩa là xây
dựng nền kinh tế XHCN - tiền đề vật chất xã hội có tính tất yếu đảm bảo cho nhân
dân lao động (NDLĐ) nắm được quyền lực xã hội, làm cho người lao động trở thành
người chủ xã hội. Mặt khác, không ngừng phát triển và hoàn thiện nền dân chủ
XHCN, phát huy tính tích cực sáng tạo của NDLĐ, xây dựng và củng cố quốc phòng
để chống lại các thế lực phản động bên trong và bên ngoài.
Tư tưởng của Mác cho thấy là GCVS cũng như bất cứ giai cấp cách mạng nào
khác đều cần phải có Nhà nước, công cụ mạnh mẽ để hoàn thành sứ mệnh lịch sử
của giai cấp mình. Giai cấp vô sản sử dụng bộ máy Nhà nước để trấn áp giai cấp
thống trị phản động tuy đã được đánh đổ nhưng chúng vẫn hòng âm mưu khôi phục
lại cái địa vị kinh tế, chính trị đã mất. Đồng thời, mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp cận và
vận dụng những giá trị của nền văn minh nhân loại phục vụ cho sự nghiệp xây dựng
CNXH và đời sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Cho nên, sự ra đời và tồn tại của
Nhà nước XHCN là một tất yếu khách quan.
Mác viết : (giữa xã hội TBCN và xã hội CSCN là một thời kì cải biến cách mạng
từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kì ấy, là một thời kì quá độ chính trị,
và Nhà nước của thời kì ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách
mạng của GCVS(.
( Nhà nước XHCN thể hiện ở các đặc điểm và chức năng sau :
- Là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhà nước XHCN là Nhà nước chuyên
chính vô sản, nhưng bản chất của chuyên chính vô sản lại là thực hiện quyền làm chủ
Trang : 3
của NDLĐ. Nhà nước XHCN có sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính nhân dân.
Tính giai cấp thể hiện ở sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin
làm nền tảng. Tính nhân dân thể hiện toàn bộ quyền lực chính trị của Nhà nước là
quyền lực của NDLĐ. Nó dân chủ với đa số nhân dân và chuyên chính với thiểu số là
kẻ thù của nhân dân.
- Nhà nước XHCN vừa là một bộ máy chính trị - hành chính, một cơ quan
cưỡng chế, vừa là một tổ chức quản lí kinh tế - văn hoá xã hội của NDLĐ. Là sự kết
Ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thời gian qua, bên cạnh những việc đã
làm được trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cũng còn những thiếu sót, những nhược
điểm của một kiểu Nhà nước mới vừa chấm dứt chiến tranh. Vì vậy, trong tổ chức -
xây dựng - quản lí còn nhiều điều bất lợi, lại bị ảnh hưởng nặng nề nhiều năm đất
nước đi theo cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp. Trong đổi mới kinh tế với cơ
chế thị trường còn sơ khai, mang yếu tố tự phát; hiệu lực quản lí Nhà nước còn thấp,
chưa phát huy đầy đủ sức mạnh của cơ chế thị trường và hạn chế những mặt tiêu
cực của nó. Ngoài việc bộ máy Nhà nước kém hiệu quả, tệ độc đoán, chuyên quyền,
ức hiếp, trù dập cá nhân, quan liêu cửa quyền, xem thường pháp luật kỉ cương vẫn
còn xảy ra ở nhiều nơi. Những yếu kém trên, Đảng ta đã chỉ rõ tổ chức Nhà nước của
chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu, đổi mới cho phù hợp lí luận, thực tiễn và bước tiến
của thời đại.
Trang : 4
Do chưa nhận thức đầy đủ thời kì quá độ lên CNXH là một quá trình lịch sử
tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, và do tư tưởng chủ quan nóng vội,
muốn bỏ qua những bước đi cần thiết nên từ đại hội IV của Đảng chưa xác định
những mục tiêu của chặng đường đầu tiên như : chủ trương đẩy mạnh công nghiệp
hoá trong khi ta chưa đủ các tiền đề cần thiết, chậm đổi mới cơ chế quản lí kinh tế đã
lỗi thời. Đại hội V cùng với xác định hai nhiệm vụ chiến lược, có cụ thể hoá một bước
đường lối kinh tế và những mục tiêu tổng quát, các chính sách lớn về kinh tế - xã hội
nhưng về chỉ đạo và tổ chức thực hiện còn rời rạc, thiếu kiên quyết khắc phục, tư
tưởng nóng vội và bảo thủ thể hiện chủ yếu trong các chủ trương về cơ cấu và cơ
chế quản lí kinh tế, cải tạo XHCN. Văn kiện đại hội VI (trang 27) nêu rõ : (Những sai
lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, xã hội, bắt nguồn từ những khuyết điểm
trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng. Đây là nguyên nhân
của mọi nguyên nhân(.
Sự yếu kém của Đảng thể hiện là hoạt động tư tưởng và tổ chức của Đảng đã
không theo kịp yêu cầu của cách mạng. Về lĩnh vực tư tưởng là sự yếu kém, lạc hậu
về nhận thức lí luận và vận dụng các quy luật khách quan đang hoạt động trong thời
kì quá độ, do đó không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương,
toàn diện, thực hiện từng bước và ngày càng đi vào chiều sâu. Trong đổi mới, Đảng
ta có rút kinh nghiệm nguyên nhân sụp đổ của các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô
trong việc xây dựng Cương lĩnh của đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH.
Trang : 5
- Đổi mới hệ thống chính trị là điều kiện và tiền đề cho đổi mới kinh tế nói riêng,
sự nghiệp đổi mới nói chung. Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà
nước không có nghĩa là thay đổi bản chất quyền lực của Nhà nước. Ngược lại, làm
cho bản chất của Nhà nước được thể hiện và thực hiện đầy đủ hơn, rõ rệt hơn và có
hiệu quả hơn, trên cơ sở tạo ra cơ chế dân chủ, bảo đảm quyền lực của nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Kiên quyết chống quan liêu và những hành vi xâm phạm quyền làm chủ của
nhân dân, phê phán và khắc phục những khuynh hướng lệch lạc vi phạm những
nguyên tắc của nền dân chủ XHCN. Thực tế cho thấy, hệ thống chính trị của chúng ta
còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đó là tình trạng quan liêu,
cồng kềnh, kém hiệu lực của Nhà nước, của hệ thống chính trị. Do đó, đòi hỏi phải
đổi mới để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Muốn vậy, nguyên tắc
tổ chức và cơ chế hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm cho NDLĐ thật sự tham gia
quản lí Nhà nước, tham gia xây dựng pháp luật, tham gia những công việc trọng đại
của Nhà nước : tham gia kiểm tra, giám sát, phê bình các cán bộ và cơ quan Nhà
nước
Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước phải được thực hiện
gắn với đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị. Phân định rõ chức năng và giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, và các tổ chức khác trong hệ thống
chính trị là nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lí Nhà nước, thực
hiện quyền lực của nhân dân. Cương lĩnh đại hội VII chỉ rõ : (Đảng lãnh đạo hệ thống
chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân
dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp
luật(.
( Một số quan điểm của Đảng ta hiện nay :
- Tăng cường và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trên cơ sở đổi mới phương
Nhà nước ta vừa mang tính nhân dân, vừa mang tính quần chúng sâu sắc, do Đảng
ta tiếp thu lí luận, nghiên cứu thực tiễn và tinh hoa của mọi thời đại để vận dụng xây
dựng một Nhà nước đủ sức thực hiện nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Đó là tính nguyên tắc, nếu không ta sẽ dễ bị sai lầm như các nước Đông Âu và
Liên Xô trong thời gian vừa qua.
- Cải tiến tổ chức và hoạt động Quốc hội để làm đúng thẩm quyền là cơ quan
quyền lực cao nhất; sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính
phủ để xứng đáng là cơ quan hành pháp cao nhất quản lí, điều hành mọi công việc
của đất nước. Song song, cần sắp xếp lại tổ chức, tinh giảm biên chế bộ máy hành
chính gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả, thận trọng trong công tác tổ chức, chính
sách cán bộ.
- Đảng đối mới phương thức lãnh đạo, làm cho Nhà nước chủ động tránh
chồng chéo, bao biện làm thay Nhà nước. Đảng lãnh đạo bằng trí tuệ, đường lối, tổ
chức phân công cán bộ với sự tiên phong gương mẫu của đảng viên. Đồng thời, mở
rộng dân chủ, phát huy tiềm năng của các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể
nhân dân là nhằm hướng các tổ chức này góp phần tham gia giải quyết việc làm, đời
sống cho toàn xã hội; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Tăng cường củng cố khối đoàn kết toàn dân, thể chế hoá quyền hạn và trách
nhiệm của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong việc tham gia quản lí xã hội, quản
lí kinh tế, quản lí Nhà nước. Tăng cường quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và
nhân dân, góp phần thành công vào sự nghiệp đổi mới của đất nước.
- Làm cho toàn Đảng, toàn dân, nhất là những người lãnh đạo quản lí hiểu
đúng nội dung và thực chất của nền dân chủ XHCN trên các lĩnh vực : kinh tế, chính
trị, xã hội; xây dựng các quy tắc sinh hoạt dân chủ nhằm mở rộng quyền làm chủ của
công dân, phát huy tính chủ động sáng tạo của người lao động, giải quyết đúng đắn
các mối quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính, dân chủ và kỉ luật, dân chủ và tập
trung…
Hiện nay, xây dựng nền dân chủ XHCN là nội dung cơ bản về đổi mới hệ thống
chính trị của nước ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thể, đồng thời thực hiện khẩu