Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự nhận thức và vận dụng quy luật ở nước ta hiện nay - Pdf 18

MÔN HỌC
TRIẾT HỌC DUY VẬT LỊCH SỬ

Đề bài : Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Sự nhận thức và vận dụng quy luật ở nước ta
hiện nay.
BÀI LÀM
Hình thái kinh tế - xã hội (KT-XH) là một phạm trù của chủ nghĩa
duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định,
với một kiểu quan hệ sản xuất (QHSX) đặc trưng của nó thích ứng với lực
lượng sản xuất (LLSX) ở một trình độ nhất định và với một kiến trúc thượng
tầng được xây dựng lên trên những QHSX đó.
Hình thái KT-XH là một chế độ xã hội cụ thể có kết cấu phức tạp, bao
gồm 3 yếu tố cơ bản tạo nên là : LLSX, QHSX và kiến trúc thượng tầng trong
mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Nhờ có 3 yếu tố này mà khi nghiên cứu
Mác đã phát hiện ra rằng ở mỗi hình thái KT-XH đều có kết cấu coi như thống
nhất ổn định, đang vận động trong khuôn khổ của chính hình thái ấy; chúng chỉ
khác nhau về bản chất và trình độ của 3 yếu tố trên ở mỗi hình thái KT-XH
nhất định. Nền sản xuất xã hội là một thể thống nhất bao gồm nhiều mặt, nhiều
mối liên hệ. Trong đó nổi lên hai loại quan hệ cơ bản là :
( Lực lượng sản xuất là quan hệ kinh tế - kỹ thuật, biểu hiện mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên, thể hiện trình độ chinh phục, làm chủ tự
nhiên của con người. Đó là kết quả mà con người đạt được trong qúa trình tác
động vào giới tự nhiên để tạo ra những sản phẩm bảo đảm cho sự tồn tại và
phát triển của loài người.
Lực lượng sản xuất bao gồm : tư liệu sản xuất và người lao động. Trong
đó, công cụ lao động là quan trọng nhất, là thước đo trực tiếp trình độ của
LLSX. Người lao động là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, họ
phải có thể lực, trí lực và kĩ năng lao động nhất định. Trong LLSX con người là
nhân tố quyết định. Do đó, trong hoạt động thực tiễn, muốn phát triển LLSX
phải coi trọng con người, phải chú trọng công cụ sản xuất. Nói cách khác,

quan trọng, có thể góp phần củng cố, phát triển toàn bộ QHSX cũng như quan
hệ sở hữu, cũng có thể làm xói mòn, biến dạng quan hệ sở hữu. Trong cải tạo
XHCN những năm qua, do không nhận thức đầy đủ vấn đề này, chúng ta đã
mắc khuyết điểm sai lầm là tuyệt đối hoá quan hệ sở hữu, coi nhẹ các quan hệ
khác dẫn đến việc cải tạo QHSX không đồng bộ, nên QHSX (mới( chỉ là hình
thức. Vì vậy, nhận thức và vận dụng phạm trù này, trong thực tiễn cần quán
triệt quan điểm toàn diện, đồng bộ, khắc phục những sai lầm trong thời gian
qua.
I. Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX :
1)- Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất :
- Trình độ LLSX chỉ năng lực chinh phục tự nhiên của con người, nó
được quy về trước hết là công cụ lao động, trình độ tổ chức và phân công lao
động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất, trình độ kinh nghiệm và
kĩ năng lao động của con người. Trình độ phân công lao động xã hội biểu hiện
trình độ của LLSX ở một giai đoạn nhất định của lịch sử sản xuất vật chất. Vì
vậy, LLSX là yếu tố (động( và (cách mạng( nhất là (nội dung( của phương thức
sản xuất, còn QHSX là yếu tố (tương đối ổn định( là (hình thức xã hội( của
phương thức sản xuất. Trong mối quan hệ nội dung và hình thức thì nội dung
quyết định hình thức.
Lực lượng sản xuất năng động biến đổi trước, QHSX biến đổi sau, tất cả
đều là do từ nhu cầu của con người về vật chất đòi hỏi ngày càng tăng lên. Để
đáp ứng nhu cầu đó, sự phát triển của LLSX (sự ra đời của công cụ lao động
mới) với khoa học & công nghệ ngày càng phát triển nhanh chóng thì QHSX
cũng phải biến đổi theo phù hợp với trình độ phát triển của LLSX. Mặt khác, sự
phát triển LLSX từ thấp đến cao và phát triển đến mức độ nào đó sẽ mâu
thuẫn với QHSX hiện có, đòi hỏi phải phá vỡ QHSX cũ để hình thành QHSX
mới phù hợp với LLSX đang phát triển, làm cho phương thức sản xuất cũ mất
đi và phương thức sản xuất mới ra đời. Vì vậy, việc hình thành và tồn tại của
QHSX phải dựa trên thực trạng hiện có của LLSX quy định chứ không phải do
ý muốn chủ quan của con người.

con người - QHSX không thể tự vươn lên trên LLSX khi LLSX chưa có yêu
cầu.
2)- Quan hệ sản xuất tác động trở lại Lực lượng sản xuất :
Sự tác động của QHSX đến LLSX bị chi phối bởi nhiều yếu tố : phụ thuộc
vào tính ổn định tương đối của bản thân QHSX; trình độ và khả năng của chủ
thể sản xuất; sự chi phối của lợi ích nhất là của giai cấp thống trị đại biểu cho
QHSX qua các thời đại. Ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN có sự quản lí của Nhà nước nhưng cơ chế bao cấp vẫn ít
nhiều còn tồn tại chưa chuyển hẵn theo kịp sự phát triển của LLSX theo cơ chế
mới. Đó cũng chính là trình độ, khả năng của chủ thể sản xuất yếu kém về
trình độ năng lực. Vì những lí do đó mà QHSX tác động vào LLSX có thể diễn
ra theo 2 chiều hướng sau đây :
. Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì nó sẽ
tạo địa bàn rộng lớn cho sự phát triển của LLSX, sẽ trở thành động lực cơ bản
thúc đẩy, tạo điều kiện cho LLSX phát triển. Có nghĩa là các yếu tố của LLSX
kết hợp được với nhau một cách có hiệu quả sẽ làm cho nền kinh tế tăng
trưởng, năng suất lao động cao hơn, đồng thời nhu cầu mới cũng tăng lên.
. Khi QHSX tác động không phù hợp LLSX, cũng có nghĩa là QHSX
lạc hậu, lỗi thời thì nó trở thành xiềng xích, kìm hãm sự phát triển của LLSX cả
về quy mô, tốc độ, nhịp độ, khối lượng, nhưng không có nghĩa là làm cho LLSX
đứng im tại chỗ. Có nghĩa là, tuy quan hệ sản xuất phụ thuộc vào lực lượng
sản xuất và do LLSX quyết định, nhưng QHSX không thụ động mà có tác động
mạnh mẽ trở lại LLSX.
Điều này thể hiện là LLSX phát triển thì QHSX cũng phải phát triển đáp
ứng nhu cầu đòi hỏi của LLSX. Nếu thay thế mối quan hệ sản xuất mới phù
hợp thì năng lực sản xuất được giải phóng tạo ra năng suất lao động cao hơn,
kinh tế tăng trưởng cao hơn như : kết hợp được yếu tố lao động và đất đai phù
Trang : 3
hợp thì năng suất lao động nông nghiệp sẽ phát triển tăng lên. Mác viết : (Tới
một giai đoạn phát triển nào đó, các LLSX vật chất xã hội sẽ mâu thuẫn với

phương pháp quản lí, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các hình thức sở
hữu và chính sách xã hội. Tuy vậy, CNTB vẫn là một chế độ áp bức bóc lột và
bất công. Mâu thuẫn vốn có của CNTB giữa tính chất xã hội hoá ngày càng
cao của LLSX với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN ngày càng sâu sắc. Mâu
thuẫn này chỉ có thể giải quyết thông qua một cuộc cách mạng xã hội.
( Tóm lại :
Yêu cầu của quy luật này đòi hỏi khách quan QHSX phù hợp với trình độ
phát triển của LLSX. Song, ở đây là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
của quá trình sản xuất, giữa yếu tố năng động và yếu tố tương đối ổn định
trong sự phát triển. Do vậy, đây là sự phù hợp bao hàm mâu thuẩn. Mâu thuẫn
biện chứng giữa LLSX và QHSX luôn được tái tạo trong sự lập lại có tính quy
luật của quá trình sản xuất vật chất. Biểu hiện là : phù hợp - không phù hợp -
phù hợp Đây là quy luật phổ biến, cơ bản của mọi hình thái kinh tế - xã hội,
cùng với các quy luật xã hội khác, nó quy định sự vận động phát triển của tiến
trình lịch sử nhân loại.
II. Sự nhận thức và vận dụng quy luật này ở nước ta :
Trang : 4
Lịch sử đã chứng minh rằng, không phải bất kì nước nào cũng phải tuần
tự trải qua các hình thái kinh tế - xã hội đã từng có trong lịch sử. Việc bỏ qua
một hoặc nhiều hình thái kinh tế - xã hội nào đó là do những yếu tố bên trong
quyết định và còn tùy thuộc vào sự tác động của nhân tố bên ngoài. Cuộc cách
khoa học và công nghệ đang tạo ra bước ngoặc phát triển của loài người, tạo
ra cho các nước chậm phát triển thời cơ và thách thức mới.
Nước ta lựa chọn con đường XHCN bỏ qua chế độ TBCN từ một nước
nông nghiệp lạc hậu, do đó xây dựng phương thức sản xuất XHCN là một quá
trình lâu dài và đầy khó khăn. Đảng ta chỉ rõ : (Nước ta quá độ lên CNXH, bỏ
qua chế độ tư bản từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, LLSX rất
thấp(. Đó là những khó khăn, trở ngại trong bước chuyển tiếp lịch sử từ một xã
hội kém phát triển sang một xã hội hiện đại phù hợp với những chuẩn mực và
giá trị của nền văn minh nhân loại và tiến bộ xã hội. Từ khi nước nhà thống

hợp QHSX lạc hậu mà cả khi QHSX phát triển không đồng bộ và có những yếu
tố đi quá xa so với trình độ phát triển của LLSX (chính sách cải tạo công
thương nghiệp, mô hình hợp tác xã, hợp tác hoá nông nghiệp, chế độ phân
phối và phân chia sản phẩm…).
Nhìn chung, thời kì trước đổi mới chúng ta thực hiện cải tạo XHCN với ý
chí (tả khuynh(, đã có những biểu hiện nóng vội muốn xoá bỏ các thành phần kinh tế phi XHCN,
nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh. Cách làm thường
Trang : 5
theo kiểu chiến dịch, gò ép, chạy theo số lượng, coi nhẹ chất lượng và hiệu
quả; sau những đợt làm nóng vội lại buông lỏng. Do đó, không ít tổ chức kinh
tế chỉ có hình thức, không có thực chất của QHSX mới. Trong nhận thức và
hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
ở nước ta còn tồn tại trong thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận
dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực
lượng sản xuất.
Do chủ quan duy ý chí, nóng vội chúng ta đã vi phạm nhiều quy luật
khách quan. Sai lầm chủ quan duy ý chí biểu hiện ở sự thoát li cả lí luận khoa
học lẫn thực tiễn, biến hệ thống lí luận thành chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn,
máy móc. Sự yếu kém về lí luận đã làm cho cán bộ, đảng viên dễ tiếp thu chủ
nghĩa Mác-Lênin một cách giản đơn, phiến diện, cắt xén và hiểu bản chất cuả
nó không đến nơi đến chốn; việc yếu kém về lí luận thường dẫn đến méo mó lí
luận và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng làm cho nền KT-XH lâm vào
tình trạng khủng hoảng.
* Từ Đại hội VI đến nay :
Trong quá trình đổi mới, việc xây dựng QHSX mới có phần vừa lúng túng,
vừa buông lỏng với các chủ trương chính sách như : chính sách mở rộng nền
kinh tế nhiều thành phần và chính sách vĩ mô của nền kinh tế, mô hình hợp tác
xã, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, chính sách kinh tế trang trại. Chưa
quan tâm tổng kết thực tiễn, kịp thời chỉ ra phương hướng, biện pháp đổi mới
kinh tế hợp tác, để hợp tác xã ở nhiều nơi tan rã hoặc chỉ còn là hình thức, cản

tổ chức, quản lí kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, là nhân tố quyết định
sự thành công việc lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta.
- Kết hợp giữa đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá với việc xây
dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong cơ chế thị
trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng XHCN nhằm phát huy
mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản
xuất để xây dựng cơ sở kinh tế của CNXH. Đồng thời, tiếp tục thực hiện
đường lối mở cửa, hoà nhập, tham gia vào quá trình quốc tế hoá đời sống kinh
tế thế giới, nhằm phát triển nhanh chóng nền kinh tế nước nhà.
- Từng bước xã hội hoá XHCN, quá trình đó thực hiện không gò ép mà là
từng bước thực hiện thông qua hỗn hợp các hình thức sở hữu. Hiện nay,
chúng ta áp dụng hình thức kinh tế quá độ của CNXH là : tất cả các hình thức
hợp tác liên kết liên doanh; thấp nhất là tổ, nhóm hợp tác tự nguyện của những
cơ sở sản xuất nhỏ, cao nhất là hình thức kinh tế tư bản Nhà nước với nhiều
hình thức phong phú, đa dạng : hợp tác liên doanh giữa kinh tế Nhà nước với
tư bản nước ngoài, hình thức góp vốn liên doanh giữa nhà nước và các nhà
kinh doanh tư nhân… Vấn đề quan tâm hiện nay là : chính sách cổ phần hoá
DNNN làm cho nền kinh tế năng động và có hiệu quả hơn, tình hình kinh tế
trang trại theo mô hình kinh tế hàng hoá…
- Xây dựng chế độ công hữu phải là kết quả hợp quy luật của quá trình xã
hội hoá thực sự chứ không thể tạo ra bằng biện pháp hành chính, cưỡng ép.
Chuyển từ quan hệ hiện vật sang quan hệ hàng hoá - tiền tệ, trở lại đúng quy
luật phát triển tự nhiên của kinh tế.
- Kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lí kinh tế cũ, thay thế hoàn thiện cơ chế
quản lí kinh tế mới. Nâng cao trình độ, hiệu lực và hiệu quả lãnh đạo, quản lí
của bộ máy Đảng, Nhà nước trong việc nhận thức và vận dụng các quy luật
khách quan.
- Tiến hành cuộc cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá.
Phát huy nhân tố con người, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực để
xây dựng xã hội mới văn minh. Giải phóng cá nhân, giải phóng xã hội, kết hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status