QUAN NIM về luân lý và Đạo đức của Khổng tử; GI TR trong
việc giáo dục đạo đức con ngời ở nớc ta hiện nay
Nghiờn cu lch s trit hc chỳng ta thy rng: s ra i, phỏt
trin ca bt c mt t tng, khuynh hng, hay h thng trit hc no
trong lch s nhõn loi cng u tuõn theo nhng quy lut chung, ó c
khỏi quỏt mt cỏch c bn nht l: s ra i, phỏt trin ca trit bao gi
cng ph thuc vo iu kin kinh t, chớnh tr - xó hi, nhu cu thc tin
phỏt ca xó hi; ph thuc vo s phỏt trin ca khoa hc t nhiờn v khoa
hc xó hi; ph thuc vo cuc u tranh gia ch ngha duy vt v ch
ngha duy tõm; phng phỏp bin chng v phng phỏp siờu hỡnh; ph
thuc vo s k tha ln nhau gia cỏc t tng trit hc trong lch s v
ph thuc vo s liờn h, nh hng, k tha ln nhau gia cỏc t tng
trit hc trong mi quan h gia cỏc quc gia, dõn tc vi quc t
Xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc là một xã hội đầy
hỗn loạn và có nhiều biến động. Nhà Tây Chu có nhiều biến động lớn lao,
toàn diện và kéo dài. Lực lợng sản xuất đã có bớc phát triển rõ nét. Kết quả
của sự biến động về kinh tế dẫn đến sự đa dạng trong kết cấu giai tầng xã hội.
Nhiều giai tầng mới xuất hiện, mới cũ đan xen và mâu thuẫn ngày càng gay
gắt. Nổi lên trong xã hội là các mâu thuẫn: giữa tầng lớp t hữu tài sản (hiển
tộc) không đợc tham gia chính quyền với giai cấp quý tộc thị tộc của nhà Chu;
mâu thuẫn giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thơng nhân với giai cấp
quý tộc thị tộc nhà Chu; mâu thuẫn trong bản thân giai cấp quý tộc thị tộc nhà
Chu; mâu thuẫn giữa tầng lớp tiểu quý tộc thị tộc với tầng lớp đại quý tộc thị
tộc; giữa nông dân công xã với tầng lớp mới lên. Đồng thời, xã hội chuyển
mình dữ dội, đặc biệt là sự ra đời của các thành thị tự do phồn vinh và những
thành quả đạt đợc trên lĩnh vực khoa học tự nhiên.
Trong giai đoạn này, cùng với việc tranh quyền, đoạt lợi là các cuộc chiến
tranh diễn ra liên miên, bất chấp đạo lý. Đây là thời kỳ mà các mối quan hệ giữa
ngời với ngời cũng nh các nguyên tắc luân lý, đạo đức tốt đẹp của thời nhà Chu
đã bị đảo lộn Trong nớc cũng đã xuất hiện những trung tâm, nh Tắc Hạ của nớc
Tề, những tụ điểm nh những mạnh thờng quân mà ở đó có những "kẻ xử sỹ bàn
việc không thành, việc không thành thì mọi điều lễ nhạc không gây lại đợc,
không gây lại đợc lễ nhạc thì hình phạt sẽ sai trật tự cả, hình phạt không đúng
thì dân sẽ bị bó buộc tay chân. Cho nên ngời quân tử có danh rồi tất phải nói,
nói rồi tất phải làm". Nh vậy, đối với Nho giáo, chính danh là điểm then chốt
để gây dựng lại luân lý đạo đức nhằm đa xã hội trở lại trật tự, nề nếp.
Để thực hiện luân lý đạo đức theo "Chính danh', Nho giáo chủ trơng
thực hiện "tu thân" theo ngũ luân, ngũ thờng. Ngũ luân là năm mối quan hệ
phổ biến trong xã hội: Quân - Thần, Phụ - Tử, Phu - Phụ, Huynh - Đệ, Bằng -
Hữu, trong đó có ba mối quan hệ rờng cột (Quân - Thần, Phụ - Tử, Phu - Phụ)
gọi là tam cơng. Ngũ thờng là năm phẩm chất của con ngời (nhân, lễ, nghĩa,
trí, tín) trong tu thân cần rèn luyện. Vấn đề luân lý đạo đức của Nho giáo, thực
chất là giải năm mối quan hệ trong xã hội.
Với việc Nho giáo tồn tại đợc hơn hai nghìn năm qua đáng để chúng ta
xem xét và kế thừa có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của nó. Xem Nho giáo
giải quyết các mối quan hệ trong xã hội sẽ giúp chúng ta có có cái nhìn đúng
đắn về xã hội phong kiến và giá trị của nó đối với xây dựng các mối quan hệ
xã hội hiện nay.
Trong mối quan hệ Vua- Tôi, Nho giáo đòi hỏi phải có mối quan hệ,
ứng xử qua lại của hai bên. Là vua phải biết đối xử với bề tôi, tôn trọng và quý
mến bề tôi; còn bề tôi phải biết giữ đạo trung khi thờ vua. Nếu không làm đợc
3
điều đó thì hậu quả tất yếu là bề tôi giết vua. " Trung", theo Nho giáo, đó là
phải biết giúp cho vua đi vào con đờng đạo đức, dồn hết tâm trí để làm việc
nhân. "Trung" là không đợc dối gạt vua và cũng không sợ làm mất lòng vua.
"Trung" cũng tức là phải biết đặt lợi ích của đất nớc (còn có nghĩa là của nhà
vua) lên trên hết, phải biết đem đạo lý để thờ vua, việc gì có ích cho nớc, có
lợi cho dân thì giúp cho vua làm. " Trung" còn có nghĩa một mặt là phải biết
can gián vua khi vua làm những việc trái với đạo lý; mặt khác không đợc vào
hùa theo vua khi vua lầm lỗi, không đợc đón trớc ý xấu của vua rồi khêu gợi
cho vua lầm lỗi. Nếu nh vậy thì bất trung. "Trung" còn có nghĩa là cung và
con phải có trách nhiệm với cha mẹ mình đợc xã hội tôn trọng, không gì bằng
đem cả thiên hạ phụng dỡng cha mẹ; giữ đợc địa vị, làm theo lễ của ông cha,
kính những ngời mà ông cha trọng, mến những ngời mà ông cha yêu, thờ ngời
thác nh thờ ngời sống, trọng ngời đã qua nh trọng ngời đang tồn tại. Để làm đ-
ợc nh vậy, theo Khổng Tử, khi "cha còn sống phải xem xét chí của cha; cha
chết rồi xem việc làm của cha, ba năm không thay đổi những lời cha đã dạy,
nh thế có thể gọi là hiếu vậy". "Hiếu" còn đòi hỏi ngời con phải biết phụng d-
ỡng cha mẹ khi cha mẹ còn sống. Điều đó có nghĩa là khi phụng dỡng cha mẹ
thì phải có sự kính cẩn, phải có lễ. Khổng Tử chỉ rõ: "Đời nay hễ thấy ai nuôi
đợc cha mẹ thì ngời ta khen là ngời có hiếu. Nhng những con thú nh chó ngựa
thì ngời ta cũng nuôi. Vì thế, việc phụng dỡng cha mẹ là phải biết kính cẩn,
chăm sóc cha mẹ. Khi cha mẹ còn sống thì không đợc đi chơi xa và có đi đâu
cũng phải có phơng hớng nhất định; phải biết giữ gìn thân thể mình để báo
đáp công ơn sinh thành, dỡng dục của cha mẹ. Khi cha mẹ đã mất phải chôn
cất cho có lễ, cúng tế cũng phải giữ cho đủ lễ. Theo Mạnh Tử, "Phụng dỡng
cha mẹ khi sinh tồn, đó cha kể là việc lớn lao hơn hết của kẻ làm con. Tống
táng cha mẹ cơn tử biệt, đó mới là việc trọng đại hơn hết của ngời hiếu tử".
5
Mặt khác Nho giáo cũng chỉ rõ những việc làm đợc coi là sự bất hiếu và
đáng bị cả xã hội lên án. Những điều đợc Nho giáo xem là bất hiếu gồm: một
là, làm những chuyện bậy bạ, khiến cho cha mẹ mang nhục. Hai là, nhà
nghèo mà cha mẹ lại già yếu nhng chẳng chịu ra làm quan để nuôi cha mẹ. Ba
là, không có con nối dõi, khiến cho cha mẹ không có ngời hơng khói. Trong
ba điều bất hiếu ấy, Nho giáo coi việc không có con nối dõi là điều bất hiếu
lớn nhất.
Đồng thời, Nho giáo còn khẳng định chiều ngợc lại trong quan hệ cha
con là cha mẹ cũng phải có nghĩa vụ đối với con cái. Ngoài tình yêu thơng con
cái, Nho giáo đòi hỏi cha mẹ phải: có nghĩa vụ dạy dỗ con cái mình nên ngời,
khi con cái còn nhỏ phải lo lắng, chăm sóc cho con khôn lớn, khi con cái trởng
thành, phải dạy dỗ, uốn nắn và làm gơng cho con cái để con cái biết đạo ứng
kiện: lơng thực phải có đủ để nuôi dân, binh lực phải có đủ để bảo vệ dân,
phải có đợc lòng tin cậy của dân.
Nh vậy, học thuyết luân lý, đạo đức của Khổng Tử tuy nói là phản ánh
năm mối quan hệ phổ biến trong xã hội, nhng về thực chất và suy đến cùng,
nó chỉ phản ánh hai mối quan hệ. Đó là ba mối quan hệ trong gia đình (cha -
con, vợ - chồng, anh - em) và hai mối quan hệ xã hội (vua - tôi, bạn - bè).
Trong quan hệ gia đình thì mối quan hệ cha - con, trong quan hệ xã hội thì
mối quan hệ vua - tôi giữ vị trí quan trọng nhất. Thực chất, học thuyết luân lý
và đạo đức của Khổng Tử chính là sự thể hiện đờng lối chính trị phong kiến
đẳng cấp và gia trởng. Dựa vào học thuyết này, Khổng Tử hy vọng có thể giúp
cho xã hội ổn định, trật tự đợc khôi phục.
Cùng với ngũ luân, ngũ thờng cũng có vai trò quan trọng. Ngũ thờng là
năm phẩm chất của con ngời (Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), trong tu thân cần phải
7
rèn luyện. Trong việc trị nớc, tu thân, Khổng Tử đặc biệt quan tâm đến đức
"nhân" và "lễ", hai yếu tố này cũng là những phẩm chất cốt lõi của luân lý, đạo
đức.
"Nhân" là đức tính toàn thiện, là cái gốc đạo đức của con ngời. Chữ
"nhân" theo Nho gia bao hàm một nội dung hết sức rộng rãi. Theo Khổng Tử:
"thơng ngời là nhân", "điều gì mà mình không muốn thì đừng đem áp dụng
cho ngời khác" là nhân; "mình muốn lập thân thì cũng giúp ngời lập thân,
mình muốn thành đạt thì cũng giúp ngời thành đạt" là nhân. Có chỗ Khổng Tử
lại nói: "nhân là thơng yêu ngời", nhân là "tôn trọng ngời hiền, nhân là lòng
ngời, tình ngời, là quan hệ giữa ngời với ngời" Quan niệm nh vậy, nhân có
nghĩa là gốc rễ của luân lý, đạo đức con ngời.
Lễ là cái để phân định ngời thân với kẻ sơ, làm rõ phải trái và phân biệt
với dị đồng. Khác với pháp luật, lễ có tác dụng ngăn cấm những hành vi sai
trái trớc khi nó sảy ra còn pháp luật thì dùng để ngăn cấm những cái mà nó đã
sảy ra rồi. Ngời quân tử: "trái với lễ thì không nhìn, trái với lễ thì không nghe,
trái với lễ thì không nói, trái với lễ thì không làm". Những điều cụ thể của lễ
đạo, tiến bộ của học thuyết Khổng - Mạnh mà đa vào đó nhiều quan niệm khắt
khe. Đặc biệt, với "Tam cơng", ông đa ra thứ quy tắc đạo đức phi lý, phi nhân
bản: vua xử tội chết thì thần phải chết, nếu không là mắc tội bất trung (quân
xử thần tử thần bất tử bất trung), cha bảo con chết con phải chết, nếu không là
mắc tội bất hiếu (Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu), chồng bảo vợ phải
tuyệt đối tuân theo (Phu xớng phụ tuỳ). Ông cũng dùng thuyết âm dơng (đã bị
tớc bỏ phần duy vật), quy luật của tự nhiên và viện đến ý trời để biện minh
cho học thuyết đạo đức của mình: Vua là tợng của trời nên có đức che chở, h-
ớng dẫn "thiên vi quân nhi tán chi", bề tôi là tợng của đất nên có đức chuyên
9
chở, tuân theo (địa vi thần nhi trì tải chi), chồng là thuộc khí dơng nên có đức
sinh, dẫn đầu (dơng vi phu nhi sinh chi), vợ là thuộc khí âm nên có đức phụ
trợ, tuân theo (âm vi phụ nhi trợ chi), cha là thuộc "mùa xuân" nên có đức sinh
(xuân vi phụ nhi xuân chi), con là thuộc mùa hạ nên có đức dỡng, tuân theo
(hạ vi tử nhi dỡng chi) và tất cả là do trời định đoạt (khả cầu vi thiên). Thuyết
về ngũ thờng, về mặt tên gọi và nội dung của nó thì đây chỉ là một sự chép lại
của Khổng Tử, Mạnh Tử chứ không có gì mới. Nhng ở đây Đổng Trọng Th đã
giải thích và vận dụng nó theo mục đích của mình. Ông cho rằng con ngời
phải đủ "ngũ luân" để thực hiện "tam cơng" và con ngời mới có đạo cơng th-
ờng. Suy cho cùng, những vấn đề về luân lý, đạo đức của Đổng Trọng Th
nhằm phục vụ mục đích cao nhất là "trung quân", trung thành tuyệt đối với
nhà vua.
Nh vậy, học thuyết về luân lý đạo đức của Khổng Tử trong các triều đại
về sau đã qua nhiều bàn tay nhào nặn. Có những yếu tố phát triển tích cực,
song cũng có nhiều yếu tố làm cho nó thụt lùi. Tuy vậy, ngày nay những vấn
đề cơ bản về luân lý đạo đức bản nguyên từ thời Khổng Tử vẫn đợc giữ
nguyên nghĩa.
Học thuyết về luân lý, đạo đức của Khổng Tử đã để lại nhiều t tởng tích
cực, tiến bộ.T tởng tích cực và tiến bộ nhất là Nho giáo đã đề cập đến các mối
quan hệ của con ngời xã hội, khi nói đến các quan hệ xã hội, thì mối quan hệ
trọng nhất.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, Nho giáo còn có nhiều hạn
chế do điều kiện lịch sử đem lại.Trong hệ thống t tởng về luân lý đạo đức thì
quan niệm của Khổng Tử chỉ thấy con ngời xã hội mà không thấy con ngời tự
nhiên. Nho giáo đã quy tất cả mọi quan hệ tự nhiên vốn có của con ngời trong
xã hội thành các quan hệ luân thờng: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh -
em, bạn bè. Con ngời của Nho giáo không còn là con ngời của tự nhiên, mà
11
chỉ là con ngời của chức năng: hoặc là vua hoặc là tôi, hoặc là cha hoặc là con,
hoặc là chồng hoặc là vợ.
Đạo đức, luân lý Nho giáo là thứ đạo đức, luân lý phong kiến bảo thủ và
lạc hậu, ở một mức độ nhất định, nó đã làm cản bớc tiến của lịch sử. Nho giáo
phân biệt đẳng cấp, ràng buộc con ngời trong trật tự xã hội có lợi cho giai cấp
thống trị, mặt nào đó nó kìm hãm sự phát triển cá nhân, con ngời trở nên cam
chịu, không dám đứng lên đấu tranh. Tự do của cá nhân là cái không đợc phép
tồn tại; con ngời không có cá tính, không có quyền tự do ăn nói, tự do đi đứng
cũng nh tự do mu cầu hạnh phúc riêng t, mà tất cả đều bị trói buộc bởi những
quy định của Lễ.
Nho giáo tuy có những hạn chế, nhng bằng những giá trị tích cực về
luân lý đạo đức, ít nhiều phù hợp với tính cách của ngời phơng Đông, nên nó
đã ăn sâu vào đời sống xã hội. Nó đã trở thành một tập quán đạo đức và lối
sống của nhiều nớc phơng Đông trong đó có Việt Nam. Việt Nam vốn là một
nớc nông nghiệp, chủ yếu là canh tác lúa nớc, sản xuất mang tính tự cung tự
cấp, kinh tế hàng hoá chậm phát triển, phơng thức sản xuất mang những nét
đặc trng của phơng thức sản xuất châu á, c dân sống phân tán, khoa học tự
nhiên chậm phát triển. Là một nớc nhỏ nằm giữa hai nớc lớn là ấn Độ và
Trung Hoa, bị các tập đoàn phong kiến phơng Bắc đô hộ hơn một ngàn năm.
Cùng với việc thực hiện mu đồ xâm lợc, các tập đoàn phong kiến phơng Bắc
đã truyền vào Việt Nam các học thuyết chính trị xã hội, triết học và tôn giáo.
Cùng với đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho cũng vì vậy mà đợc truyền bá vào Việt
tựu, tri thức khoa học của nhân loại, phấn đấu trở thành những con ngời mới
vừa hồng, vừa chuyên. Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành TW khoá VIII,
Đảng ta đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của việc giáo dục con ngời
13
Việt Nam mới nh sau: "Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm
xây dựng con ngời và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng , có ý thức cộng đồng và phát huy
tính tích cực của cá nhân , là những ngời thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội
vừa "hồng" vừa "chuyên" nh lời căn dặn của Bác Hồ". Việc đặt vấn đề đạo
đức, vấn đề "hồng" lên trớc "chuyên" phần nào đã phản ánh rõ tầm quan trọng
của Lễ đối với sự phát triển của xã hội. Ngày nay, kế thừa nét đẹp của con ng-
ời và gia đình, Đảng ta cũng đánh giá cao vai trò của con ngời, gia đình đối
với sự tiến bộ của xã hội. Chúng ta chỉ có thể xây dựng dợc xã hội mới khi có
những con ngời mới vừa hồng, vừa chuyên.
Thứ hai, chúng ta cần phải tiếp thu, kế thừa cách nhìn tích cực về con
ngời xã hội của Nho giáo, tiến hành chuẩn mực hoá các hành vi ứng xử trong
quan hệ xã hội phù hợp với định hớng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã vạch
ra. Một lối sống lành mạnh cùng với những chuẩn mực mới về luân lý đạo đức
là cái đích hớng tới của xã hội ta hiện nay. Các quan hệ đạo đức, các cách ứng
xử giữa ngời với ngời chính là nền tảng của trật tự xã hội. Lẽ sống, nguyên tắc
ứng xử của chúng ta chính là "mỗi ngời vì mọi ngời, mọi ngời vì mỗi ngời", là
"yêu nớc, yêu nhà, thơng ngời, thơng mình", là kính già yêu trẻ, tôn s trọng đạo.
Do vậy, chúng ta phải giáo dục cho thế hệ trẻ lòng yêu nớc, tinh thần thơng ng-
ời nh thể thơng thân; biết nhớ ơn công lao dỡng dục sinh thành của cha mẹ; biết
kính trọng ông bà, thơng yêu con cháu, đùm bọc anh em; biết hoà thuận tôn
trọng lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng. Về thực chất, tất cả các yêu cầu kể
trên đều xuất phát từ các yêu cầu của luân lý đạo đức: là sống đúng bổn phận
của ngời cha, ngời mẹ,ngời anh, ngời chị, ngời con trong gia đình. Gia đình là
một tế bào của xã hội. Vì vậy, Đảng đã yêu cầu các chính sách của nhà nớc
phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ. Nâng cao ý thức về
15
phải quả quyết, gặp việc khó cũng quyết tâm làm song, không làm liều Để
làm đợc điều đó, chúng ta cần phải chuẩn mực hoá chúng bằng việc tạo ra d
luận xã hội, biến chúng thành tập quán, thói quen trong giao tiếp, ứng xử. Mặt
khác, cần kết hợp việc làm đó với việc thực thi pháp luật, nhằm tạo cho d luận
xã hội có sức mạnh vật chất.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng mà sự phân hoá giàu nghèo và sự
phân tầng xã hội đang diễn ra hàng ngày, chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực
dụng đang trỗi dậy, một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, nhất là những
ngời có chức, có quyền suy thoái về đạo đức, lối sống, phai nhạt mục tiêu, lý
tởng nh: cơ hội chính trị, hữu khuynh, chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ, thực dụng,
cục bộ địa phơng, quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ, bệnh thành tích , thì
vấn đề kế thừa, tiếp thu những yêú tố hợp lý, tích cực của luân lý đạo đức có
một tầm quan trọng đặc biệt. Có lẽ vì vậy mà trong những năm gần đây, việc
giáo dục Nhân, Lễ luôn luôn đơc đề cao. Đúng nh nhận định của Đảng ta tại
Đại hội lần thứ IX: "Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống
chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn
của chế độ ta". Hơn lúc nào hết, chúng ta cần nâng cao đạo đức cách mạng,
phát huy những giá trị đạo đức truyền thống. Một trong những giá trị đạo đức
truyền thống đạo đức đó chính là luân lý, đạo đức của Nho giáo về gia đình,
về xã hội. Đó là: t tởng về lòng hiếu thảo và kính trọng với ông bà, cha mẹ
cũng nh những ngời lớn tuổi; t tởng về anh chị em phải biết thơng yêu, đùm
bọc lẫn nhau, bảo ban nhau cùng tiến bộ; t tởng về bạn bè phải biết tin nhau,
biết thơng ngời nh thể thơng thân, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong hoạn nạn; t t-
ởng về lòng trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, luôn đặt lợi ích của Tổ
quốc, của nhân dân lên trên hết
Thứ t, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: Muốn xây dựng chủ nghĩa
xã hội trớc hết phải có những con ngời xã hội chủ nghĩa. Con ngời mới xã hội
16
chủ nghĩa không tự nhiên mà có, mà phải trải qua quá trình rèn luyện học tập.
thành của nhân dân, là để lo cái lo trớc thiên hạ, vui cái vui sau thiên hạ. Nh
vậy có thể nói, việc kế thừa t tởng luân lý đạo đức của nho giáo, và đa vào đó
những nội dung, chuẩn mực mới là việc làm hết sức cần thiết, nhất là trong
điều kiện phát triển nền kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện nay. Việc cấp bách là
cần phải giáo dục rèn luyện cho thế hệ trẻ có đợc đạo đức cách mạng, sống có
lễ phép, biết kính già, yêu trẻ, nhớ công ơn cha mẹ, làm tròn bổn phận của ng-
ời công dân.
Nh vậy, kể từ khi ra đời và phát triển cho đến nay, Nho giáo đã có
những đóng góp không nhỏ vào kho tàng t tởng triết học của thế giới. Tuy có
những hạn chế nhất định, nhng nếu biết chắt lọc, tiếp thu và phát triển những
t tởng tích cực, tiến bộ của Nho giáo thì chúng ta có thể có đợc những hạt
ngọc quý giá, góp vào việc định hớng, xây dựng, phát triển những nhân cách
mới và những mối quan hệ xã hội lành mạnh, nhằm thực hiện một thế giới hoà
bình, phát triển. Trong đó, tiếp thu những hạt nhân tích cực của Nho giáo, triệt
tiêu những điểm tiêu cực, đa vào đó những nội dung mới, chúng ta hoàn toàn
có thể có những nội dung, biện pháp tích cực trong giáo dục con ngời mới xã
hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
18