Quan điểm Mác xít về bản chất của con người và ý nghĩa của vấn đề này trong việc phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay - Pdf 34

Câu 5: Quan điểm Mác xít về bản chất của con người và ý nghĩa của vấn đề này
trong việc phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay?
Trả lời:
Quan niệm về bản chất con người trước và ngoài Mác
- Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
+ Triết học Trung Hoa. Tiêu biểu: Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác độ hoạt
động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính người là Thiện
(Nho gia) và bản tính người là Bất Thiện (Pháp gia). Các nhà tư tưởng của Đạo gia, lại tiếp
cận giải quyết vấn đề bản tính người từ giác độ khác và đi tới kết luận bản tính Tự Nhiên
của con người. Sự khác nhau về giác độ tiếp cận và với những kết luận khác nhau về bản
tính con người đã là tiền đề xuất phát cho những quan điểm khác nhau của các trường phái
triết học này trong việc giải quyết các vấn đề về quan điểm chính trị, đạo đức và nhân sinh
của họ.
+ Triết học Ấn Độ, mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác,
giác độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (Siêu hình học)
đối với những vấn đề nhân sinh quan. Kết lụân về bản tính Vô ngã, Vô thường và tính
hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ là một trong những kết
luận độc đáo của triết học Đạo Phật.
- Quan niệm về con người trong triết học phương Tây
Nhìn chung, các nhà triết học theo lập trường triết học duy vật đã lựa góc độ khoa
học tự nhiên để lý giải về bản chất con người và các vấn đề khác có liên quan.
+ Cổ đại, các nhà triết học duy vật đã từng đưa ra quan niệm về bản chất vật chất tự
nhiên của con người, coi con người cũng như vạn vật trong giới tự nhiên không có gì thần
bí, đều được cấu tạo nên từ vật chất. Tiêu biểu là quan niệm của Đêmôcrit về bản tính vật
chất nguyên tử cấu tạo nên thể xác và linh hồn của con người.
+ Những quan niệm duy vật như vậy đã được tiếp tục phát triển trong nền triết học
thời Phục hưng và Cận đại mà tiêu biểu là các nhà duy vật nước Anh và Pháp thế kỷ
XVIII; nó cũng là một trong những tiền đề lý luận cho chủ nghĩa duy vật nhân bản của
Phoiơbắc. Trong một phạm vi nhất định, đó cũng là một trong những tiền đề lý luận của
quan niệm duy vật về con người trong triết học Mác.
+ Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm trong lịch sử triết

+ Về mặt xã hội, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất
quy định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới
loài vật là phương diện xã hội của nó.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một
cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là lao động
sản xuất ra của cải vật chất. Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay
đổi, cải biến giới tự nhiên: "Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản
xuất ra toàn bộ giới tự nhiên".
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản
xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt động
lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống
của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy,
lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình
thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con
người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với
nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường,
quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa... quy định phương diện sinh
học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền
2


tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống
các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời
sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ sinh học và xã hội là
cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con
người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm
mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con
người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật.

có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
3


Tóm lại, con người với tư cách là sản phẩm của giới tự nhiên, là sự phát triển tiếp tục
của giới tự nhiên; mặt khác con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực
lượng đối lập với giới tự nhiên. Sự tác động qua lại giữa mặt sinh vật và mặt xã hội trong
con người tạo thành bản chất người.
Ý nghĩa trong việc phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay
Việc nhận thức rõ bản chất của con người có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc
giải quyết vấn đề con người, từng bước thoát khỏi thần quyền và bạo quyền để đi đến mục
tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện cá nhân trong xã hội văn minh. Không một dân tộc
nào tồn tại và phát triển lại không chú ý tới vấn đề con người, có điều là khác nhau ở mục
đích và phương pháp giải quyết mà thôi. Ngày nay, ở nước ta, cùng với quá trình đổi mới
toàn diện đất nước và bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa việc
xây dựng con người Việt Nam hiện đại là yêu cầu cấp bách.
Phát triển người tựu trung là gia tăng giá trị cho con người, giá trị tinh thần, giá trị
đạo đức, giá trị thể chất, vật chất. Con người ở đây được xem xét như một tài nguyên, một
nguồn lực. Vì thế, phát triển người hoặc phát triển nguồn lực con người trở thành một lĩnh
vực nghiên cứu hết sức cần thiết trong hệ thống phát triển các loại nguồn lực như vật lực,
tài lực, nhân lực, trong đó phát triển nguồn nhân lực giữ vai trò trung tâm. Khi phát triển
con người cần chú ý một số nguyên tắc sau:
- Cần phải xuất phát từ nền tảng của con người Việt Nam hiện thực (chính là đặc
điểm con người Việt Nam);
- Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đó là những vấn đề đặt ra trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay và những xu hướng biến đổi của thời đại.
Việc nhận thức đúng đắn về khái niệm nhân tố con người là sự phát triển sáng tạo
quan điểm Mác - Lênin về con người với tư cách là người sáng tạo có ý thức, là chủ thể
của lịch sử. Tựu trung lại, có hai cách tiếp cận chính: Thứ nhất, coi nhân tố con người như
là hoạt động của những con người riêng biệt, những năng lực và khả năng của họ do các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status