QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VỀ SỰ MÂU THUẪN
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ SỰ MÂU
THUẪN VÀO TRONG VIỆC KẾT HP CÁC MẶT ĐỐI LẬP Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
Sinh viên: Phạm Ngọc Quốc Việt
Lớp: 66
Khóa: 36
1.Quan điểm của chủ nghóa Mác- Lênin về sự mâu thuẫn
Quy luật mâu thuẫn là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật là
hạt nhân của phép biện chứng duy vật vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự
vận động phát triển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khoá là cơ sở giúp
chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép
biện chứng duy vật.
a. Là hiện tượng khách quan và phổ biến. Mâu thuẫn là mối liên hệ tác động
qua lại giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật.
b. Mặt đối lập là những mặt, những thuộc tính có xu hứơng phát triển ngược
chiều nhau, tồn tại trong cùng một sự vật hiện tượng tác động biện chứng với
nhau làm cho sự vật phát triển.
c. Mâu thuẫn là khách quan có nghóa là mâu thuẫn là cái vốn có ở mọi sự vật
hiện tượng. Mâu thuẫn hình thành phát triển là do cấu trúc tự thân bên trong
của sự vật quy đònh nó không phụ thuộc vào bất kỳ một lực lượng siêu tự nhiên
nào và không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người.
d. Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến có nghóa là mâu thuẫn tồn tại trong tất cả
các lónh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất
hiện cho đến khi kết thúc. Mâu thuẫn tồn tại ở mọi không gian, thời gian, mọi
giai đoạn phát triển. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành.
Trong mỗi sự vật không phải chỉ có một mâu thuẫn mà có thể có nhiều mâu
thuẫn vì sự trong cùng một lúc có thể có nhiều mặt đối lập.
lẫn nhau của các mặt đối lập chứ không phải theo nghóa đen)
e. Sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vónh viễn. Nó diễn ra liên tục
trong suốt quá trình tồn tại của sự vật kể cả trong trang thái sự vật ổn đinhj cũng
như khi chuyển hoá nhảy vọt về chất. Sự đấu tranh của các mặt đối lập tạo lên
tính chất tự thân, liên tục của sự vận động phát triển của sự vật. Cũng vì vậy
muốn thay đổi sự vật tì phải tăng cường sự đấu tranh.
f. Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp diễn ra từ thấp
đến cao, gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng.
3. Sự đấu tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của
sự phát triển.
a. Đấu tranh của các mặt đối lập gây ra những biến đổi của các mặt đối lập
khi cuộc đấu tranh của các mặt đối lập trỏ lên quyết liệt và có điều kiện chín
muồi thì sự thống nhất của hai cũ bò phá huỷ, các mặt đối lập chuyển hoá lẫn
nhau. Sự chuyển hoá của các mặt đối lập chính là lúc mâu thuẫn được giải
quyết, sự vật cũ bò mất đi, sự vật mới xuất hiện. Các mặt đối lập có thể chuyển
hoá lẫn nhau với ba hình thức.
b. Các mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau mặt đối lập này thành mặt đối lập kia
và ngược lại nhưng ở trình độ cao hơn về phương diện vật chất của sự vật. Ví
dụ, Mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản biểu hiện thành cuộc cách mạng vô sản lật
độ giai cấp tư sản
c. Cả hai mặt đối lập đều mất đi và chuyển hoá thành mặt đối lập mới. Ví dụ
Giải quyết mâu thuẫn giữa nông dân và đòa chủ (chế độ phong kiến) xã hội lại
xuất hiện mâu thuẫn mới là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản (Chế độ TBCN).
d. Các mặt đối lập thâm nhập vào nhau, cải biến lẫn nhau.
e. Trong sự vật mới lại có mâu thuẫn mới, các mặt đối lập trong mâu thuẫn
mới lại đấu tranh với nhau, làm cho sự vật ấy lại chuyển hoá thành sự vật khác
tiến bộ hơn, cứ như vậy mà các sự vật hiện tượng thường xuyên biến đổi và
nền kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ nghóa. Từ đó có thể khai thông các
nhân tố động lực của sự phát triển và tận dụng được heat mọi tiềm năng vốn có,
để thúc đẩy công cuộc đi lên chủ nghóa xã hội – một chế độ xã hội tốt đẹp, ưu
việt hơn mọi chế độ trước kia.
b. Để đảm bảo khả năng kết hợp giữa chủ nghóa xã hội với chủ nghóa tư bản
tạo nên chủ nghóa tư bản nhà nước thì phải có một nhà nước vô sản vững mạnh,
có khả năng kiểm kê, kiểm soát mọi hoạt động của chủ nghóa tư bản nhà nước
lẫn chủ nghóa tư bản cá nhân.
- Kết hợp giữa kinh tế xã hội chủ nghóa vàkinh tế phi xã hội chủ nghóa nhằm
xây dựng nền kinh tế quá độ với một chế độ sở hữu đa dạng gồm nhiều thành
phần kinh tế. Đảng và nhà nước đã biết quay trở về với những tư tưởng, phương
pháp giải quyết mâu thuẫn mang tính biện chứng của Lênin, vận dụng sáng tạo
vào viêc xây dựng chính sách kinh tế đổi mới ở nước ta. Phương hướng đổi mới
cơ bản của Đảng ta về vấn đề quan hệ sản xuất ở đây là phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần dựa trên chế độ sở hữu đa dạng, vận động theo cơ
chế thò trường có sự quản lý của nhà nước theo đònh hướng xã hội chủ nghóa.
sự kết hợp giữa các mặt kết đối lập tạo nên nền kinh tế nhiều thành phần
- Kế thừa tư tưởng biện chứng của Lênin, trong quá trình đổi mới kinh tế,
Đảng ta một mặt khẳng đònh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, song mặt
khác cũng khẳng đònh vai trò của các thành phần kinh teat khác, trong đó có cả
thành phần kinh tế tư bản nhà nước. Đảng chủ trương phát triển kinh tế nhà
nước nhất là hình thức liên doanh,
- Liên kết giữa kinh tế nhà nước với tư bản trong và ngoài nước, vì lợi ích của
cả hai bên. Điều này có ý nghóa rất quan trọng đối với việc thúc đẩy phát triển
nền kinh tế đất nước ở trình độ lạc hậu về nhiều mặt
- quan điểm của Lênin về sự kết hợp biện chứng giữa hai mặt đối lập xã hội
chủ nghóa và tư bản chủ nghóa trong hoạt động kinh tế vì lợi ích của chủ nghóa
xã hội, của đất nước ngày càng đươc khẳng đònh trong tư duy lí luận của Đảng
- Trong thời kì đổi mới, chủ trương mở rông hợp tác quốc tế, hội nhập kinh tế
quốc tế càng được khẳng đònh rõ nét và đầy đủ hơn. Đảng ta chủ trương xây
dựng một nền kinh tế mở trên tinh than Việt Nam muốn là bạn với tất cảcác
nước trong cộng đồng thế giới theo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và
hai bên hay các bên cùng có lợi. Với tinh thần như vậy, chúng ta đã tíc cực, chủ
động thúc đẩy nhanh kinh tế khu vực và quốc tế. Ngày 25/07/1995, nước ta
chính thức gia nhập ASEAN. Tháng 11/1998 nước ta chính thức được công nhận
là thành viên của APEC…