Vận dụng một số quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về nhà nước vào việc xây dựng nhà nước ở việt nam hiện nay - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

LÊ VĂN TIẾN

VẬN DỤNG MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC
VÀO VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học

ThS. HOÀNG THANH SƠN

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ Hoàng Thanh Sơn –
người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2; đặc biệt là các thầy, cô Khoa Giáo Dục Chính Trị đã giảng dạy em
trong suốt thời gian qua.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, cũng như bạn bè đã tạo điều
kiện và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Với sự hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân, nên khóa

2.1. Khái quát về tình hình xây dựng nhà nước ở nước ta ............................ 34
2.2. Sự vận dụng quan điểm Dân chủ nhà nước kiểu mới của C.Mác,
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam ................................................ 43
2.3. Một số giải pháp nhằm đổi mới và hoàn thiện Nhà nước theo hướng xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ............................ 58
KẾT LUẬN.................................................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 67


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề nhà nước là một trong những vấn đề trung tâm, quan trọng hàng
đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Nhà
nước với tư cách là chủ thể định hướng, cũng như là sự biểu hiện tập trung
nhất cho bản chất giai cấp trên con đường phát triển kinh tế, chính trị, xã hội
của mỗi dân tộc. Trong thời đại ngày nay, nhà nước trở thành vấn đề trung
tâm, căn bản nhất cho mỗi bước đi trong sự vận động phát triển đi lên trên con
đường xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước đòi hỏi phải có những
đổi mới căn bản trong tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của nhà
nước cho phù hợp với điều kiện mới, dựa trên nền tảng lí luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới và xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những vấn đề quan trọng, chủ
yếu của đổi mới hệ thống chính trị nhằm thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển
vững chắc, nhanh chóng theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: “Nhà
nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà
nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất,

trị, mà còn rất phức tạp trên thực tiễn đời sống xã hội. Song cũng chính vì lẽ
đó mà nó đã thu hút được nhiều giới khoa học nghiên cứu về đề tài này, trong
đó phải kể đến những công trình nghiên cứu sau:
Các sách và bài nghiên cứu: “Giới thiệu tác phẩm của C.Mác,
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh – về xây dựng Đảng và chính quyền
Nhà nước”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Trên cơ sở giới thiệu về
một số tác phẩm tiêu biểu của C.Mác, Ph.Ăngghen như: “Tuyên ngôn Đảng
Cộng sản”, “Phê phán cương lĩnh Gôta”, và một số tác phẩm của Lênin như:


3
“Làm gì”, “Một bước tiến hai bước lùi”, “Nhà nước và cách mạng”… Các tác
giả đã đi sâu phân tích làm rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về vai
trò của Đảng, về vấn đề chuyên chính vô sản, tập trung lý giải sâu sắc nguồn
gốc, bản chất nhà nước tư sản và sự tất yếu thay thế nó bằng nhà nước vô sản,
mà người đại diện cho nhà nước mới đó không ai khác đó là giai cấp công
nhân, bằng con đường chuyên chính vô sản với nguyên tắc là chế độ dân chủ
cho toàn thể quần chúng nhân dân lao động.
Tác phẩm: “Nhà nước và cách mạng” của V.I.Lênin một tác phẩm tiêu
biểu nhất, mẫu mực của giai cấp vô sản về vấn đề nhà nước. Tác phẩm là sự
tổng kết và phát triển của chủ nghĩa Mác của Lênin về vấn đề nhà nước trên
cơ sở thực tiễn mới - giai đoạn lý luận chủ nghĩa Mác đã trực tiếp đi vào
phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nước Nga lúc bấy giờ.
Tuy nhiên, vấn đề về bản chất của nhà nước, nhà nước của giai cấp vô
sản, chuyên chính vô sản…vẫn còn là vấn đề để ngỏ để tiếp tục nghiên cứu.
Tiếp đó phải kể đến tác phẩm “Tìm hiểu tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin về nhà nước và chuyên chính vô sản” của tác giả Trần Văn Khánh, Tạp
chí Triết học số 3(103), tháng 6 năm 1998. Điểm nổi bật của công trình này là
tác giả đã chỉ rõ và làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp tư sản, đồng thời
thiết lập bộ máy chính quyền nhà nước của mình, tính tất yếu của chuyên
chính vô sản. Trên cơ sở đó tác giả nhìn thấy sự thống nhất về mặt lợi ích

Tác phẩm “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Văn Niên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1996; hay tác giả Lê Minh Quân với tác phẩm “Xây dựng Nhà nước pháp
quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003…và còn rất
nhiều công trình nghiên cứu quan trọng khác.
Những công trình nghiên cứu trên đã phân tích những quan điểm,
những khía cạnh về nhà nước, nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, vấn đề tập


5
trung nghiên cứu một số quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về
nhà nước và áp dụng vào việc xây dựng nhà nước ở Việt Nam lại chưa được
đi sâu nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận
Mục đích của khóa luận là hệ thống một số quan điểm của C.Mác Ph.Ăngghen - V.I.Lênin về nhà nước và phân tích việc vận dụng một số quan
điểm cơ bản này vào việc xây dựng Nhà nước ở Việt Nam.
Nhiệm vụ của khoá luận:
Thứ nhất: Hệ thống hóa một số quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.I.Lênin về nhà nước.
Thứ hai: Phân tích việc vận dụng một số quan điểm trên vào việc xây
dựng nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề nhà nước,
quan điểm của Đảng về nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam làm cơ sở lý luận.
Phương pháp nghiên cứu: dựa trên phương pháp phân tích và tổng hợp
tài liệu, đối chiếu, so sánh…
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin

sớm nhất ở Trung Quốc cổ đại, vào cuối thời Xuân Thu, đầu thời Chiến Quốc
với người khở xướng là Thân Bất Hại, sau đó được Quản Trọng, Tư Sản,
Thương Ưởng, Hàn Phi bổ sung và phát triển. Người đời sau gọi đó là tư
tưởng pháp trị và trường phái tư tưởng này được gọi là “Pháp gia”.
Tuy chủ trương chung là dùng pháp luật để trị nước, song các nhà tư
tưởng thuộc pháp gia có những ý kiến không thống nhất. Thận Đáo nhấn
mạnh tầm quan trọng của “thế” – nghĩa là coi trọng địa vị, uy tín, trình độ của
người nắm pháp luật mà cụ thể là Vua và hệ thống quan lại. Thân Bất Hại
đứng đầu nhóm duy pháp, cho rằng, “pháp luật” là yếu tố quan trọng nhất bởi
vì: nếu pháp luật đầy đủ, nghiêm minh thì nước mạnh, nếu pháp luật thiếu,
yếu, lỏng lẻo thì nước yếu.
Thương Ưởng khẳng định rằng, “thuật” (phương pháp, sách lược) là
nhân tố có tầm quan trọng trong đường lối trị nước và đó là thuật bổ nhiệm
quan lại dựa trên chính danh, trên nhu cầu thực tế, thuật giám sát và thưởng
phạt dựa trên nguyên tắc “theo danh mà trách thực”, “theo việc mà trách
công”, quan lại phải chịu trách nhiệm và bổn phận về việc mình làm, không
đổ lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh, không trốn tránh trách nhiệm.
Với tư cách là đại biểu điển hình, là linh hồn của pháp gia, Hàn Phi đã
thống nhất được nội dung của cả ba quan điểm trên. Ông cho rằng, người lập
pháp và thi hành pháp luật phải có cái thế riêng của mình, tức phải chính


8
danh, đồng thời phải có thuật (sách lược) trị nước, sau đó vận dụng pháp luật
phải hợp “thời”.
Theo Hàn Phi Tử, trong pháp luật có ba đối tượng (chủ thể pháp luật)
tham gia: Vua là người đặt ra pháp luật; bề tôi (hệ thống quan lại) là những
người triển khai và giám sát pháp luật; dân là những ngưởi phải tuân thủ nhất
quán pháp luật, trong đó hệ thống quan lại có một vai trò quan trọng
Tư tưởng pháp gia đã có ảnh hưởng sâu rộng về phương diện thực tiễn

là nô lệ của luật pháp thì có sự cứu thoát của nhà nước. Cũng chính trong tác
phẩm này, Platon đã nhìn thấy tính giai cấp của pháp luật, khi cho rằng:
“pháp luật được làm bởi đảng cầm quyền vì lợi ích riêng của Đảng ấy”
[21,tr.35].
Sự sụp đổ của nền dân chủ Athens vào giữa thế kỷ thứ IV tr.CN đã tạo
cơ sở thực tiễn cho Aristote đi đến những kết luận mới về nhà nước. Ông nêu
lên tư tưởng chia hoạt động nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành
và xét xử. Theo Aristote, nhà nước là một tổ chức phức tạp, tập hợp những cá
thể khác nhau về chức phận, về tình trạng tài sản, về phẩm chất đạo đức, trình
độ học vấn; khả năng tham gia của công chúng vào công việc nhà nước quy
định thể chế chính trị của nó. Còn luật pháp không phải là cái có sẵn mà được
xây dựng nên từ những giá trị truyền thống, phong tục tập quán lâu đời do vậy
nó có tính chất bền vững và thiêng liêng.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu Phục hưng và
cận đại
Bước sang thời đại Phục hưng, châu Âu tràn ngập những biến cố lịch
sử chống lại tư tưởng chuyên chế và thần quyền trung cổ, trong xã hội xuất
hiện nhu cầu cần phải tăng cường quyền lực nhà nước, đó là lý do ra đời tư
tưởng về quyền lực nhà nước của chính khách nổi tiếng người Italia – Nicollo


10
Machiavelli (1469-1527). Ông chủ trương phân biệt giáo hội với nhà nước.
Theo ông, nhà nước phải có một tổ chức quyền lực có các công cụ bạo lực
mạnh như quân đội, luật pháp, để bảo vệ lợi ích quốc gia, nhà chính trị bao
giờ cũng phải ưu tiên sử dụng sức mạnh bạo lực. Tác phẩm “Ông hoàng” nổi
tiếng của ông đã đặt nền móng cho sự ra đời của nền chính trị học hiện đại.
Sau thời kỳ phục hưng, một trật tự xã hội mới đã thực sự bắt đầu ở châu
Âu. Do nhu cầu phải thiết lập lại một bộ máy nhà nước mới, khác hẳn với nhà
nước quân chủ chuyên chế phong kiến, học thuyết về nàh nước pháp quyền tư

trong quá trình hoàn thiện công cụ sản xuất, cũng như những lầm lạc của con
người. Từ đó xuất hiện kẻ giàu, người nghèo và cuộc đấu tranh giữa họ. Tuy
Rútxô đã mô tả một cách duy tâm sự nảy sinh Nhà nước và pháp luật, song ở
ông đã có một loạt các tư tưởng tuyệt vời về mối quan hệ Nhà nước pháp luật
và bất công xã hội, do sự nảy sinh chế độ tư hữu. Nhà nước và pháp luật là
sản phẩm của sự tư hữu đó. Hơn thế nữa, bất công này dẫn đến đối lập quyền
lợi, đàn áp lẫn nhau, đó là cội nguồn của áp bức. Điều này nói lên sự cố gắng
của Rútxô trong việc giải thích nguồn gốc Nhà nước và pháp luật từ lập
trường duy vật.
Theo Rútxô, mọi điều luật mà toàn dân chưa chuẩn y đều vô giá. Hội
nghị các dân biểu nếu có cũng chỉ có quyền chuẩn bị dự luật chứ không có
quyền làm ra pháp luật. Trong Nhà nước, Rútxô phân biệt quyền lập pháp và
quyền hành pháp. Quyền thứ nhất là ý chí của tổ chức chính trị, còn quyền lực
thứ hai là sức mạnh của nó.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học cổ điển Đức
Kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhà khai sáng người Pháp
Rousseau, Immanuel Kant (1724-1804) cho rằng, nhà nước là sự liên kết mọi
người trong khuôn khổ của pháp luật nhằm giám sát và đảm bảo quyền bình
đẳng cho mội công dân.


12
Nhà nước ra đời nhằm giải quyết những đối kháng xã hội, điều hòa sự
phát triển của xã hội theo hướng ngày càng hoàn thiện vì lợi ích con người.
Bởi theo ông, tự do không chỉ là quyền tự nhiên của mỗi người mà trong đó
còn bao hàm cả phương diện xã hội, mỗi người đều có quyền phát ngôn,
quyền tham gia vào công việc chung của nhà nước phù hợp với những gì
pháp luật quy định, ông viết: “Chỉ có trong xã hội mà các thành viên của nó
tự do cao nhất mới thực hiện được mục đích phát triển tư chất tự nhiên của
con người”[3, tr.178].

xã hội, nhờ đó mỗi quốc gia mới có thể phát triển bình thường. Điểm tiến bộ
trong triết học Hegel là quan điểm cho rằng, mọi hoạt động mà nhà nước phải
gắn liền với đạo đức, nói cách khác “nhà nước là tính hiện thực của ý niệm
đạo đức”.
Theo ông, thang bậc thứ nhất của đạo đức là gia đình. Ở đây, mỗi cá
nhân khước từ đặc điểm cá tính để tham gia với tư cách là một thành viên
trong một chỉnh thể là gia đình. Khi gia đình tan rã, mỗi thành viên của nó
cảm thấy cần phải hợp nhất thành một tổ chức khác (thang bậc thứ hai của
đạo đức) xã hội công dân ra đời.
Trong xã hội công dân, mỗi cá nhân theo đuổi mục đích của riêng
mình, do vậy tăng nguy cơ hỗn loạn xã hội, phát sinh nhà nước với tư cách là
giai đoạn thứ ba của đạo đức. Trong trạng thái nhà nước, tự do công dân được
biểu hiện cụ thể và đầy đủ nhất, bởi vì pháp luật nhà nước thể hiện ý chí và
bảo vệ quyền lợi chung cho mọi công dân.
Như vậy, triết học cổ điển Đức nói riêng và triết học phương Tây cận
đại nói chung đã đặt cho mình nhiệm vụ giải thích tính tất yếu, hợp lý và tiến
bộ của nhà nước và pháp luật tư sản. Bằng nhiều cách lý giải khác nhau, các
triết gia đã thể hiện ý chí và nguyện vọng tiến bộ của giai cấp tư sản trong


14
cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến lạc hậu, chuyên chế vì một trật tự xã
hội mới là xã hội tư sản.
Tóm lại, tuy còn nhiều điểm còn hạn chế do lập trường giai cấp, trình
độ nhận thức và hoàn cảnh lịch sử quy định, song tư tưởng về nhà nước pháp
quyền trong triết học trước Mác đã phần nào phản ánh được nguyện vọng và ý
chí của nhân loại tiến bộ về một xã hội mà tất cả mọi người chung sống trong
hoàn cảnh tự do, bình đẳng, bác ái.
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất và đặc

tế lễ và tư pháp này không được quy định một cách thật chính xác, còn những
chức năng quân sự thì người thủ lĩnh quân sự thực hành với tư cách là đại
diện đại biểu tối cao của bộ lạc, hay liên minh bộ lạc” [15, tr.162].
Như vậy, những thủ lĩnh quân sự thể hiện chức năng của mình theo ý
nguyện của nhân dân. Họ không phải là người bóc lột hay cai trị bằng quyền
lực nhằm phục vụ lợi ích cá nhân của mình.
Điều đó cho thấy cơ cấu xã hội trong thời kỳ Cộng sản nguyên thủy tồn
tại, vận động và phát triển, trên cơ sở một nguyên tắc tối cao đó là chế độ tự
quản của nhân dân. Mặc dù nhà nước chưa ra đời nhưng xã hội vẫn tồn tại
trong vòng trật tự. Điều này đã được Ph.Ăngghen chỉ ra: “Với tất cả tính ngây
thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao,
không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng
đốc, trưởng quan và quan tòa, không có nhà tù, không có những vụ xử án, thế
mà mọi việc đều trôi chảy” [15, tr.147].
C.Mác, Ph.Ăngghen đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa nhất, xét đến cùng
nguồn gốc cho sự ra đời của nhà nước chính là nguồn gốc kinh tế. Và biểu
hiện trực tiếp của nó chính là sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự ra đời
của chế độ tư hữu, dẫn đến sự phân chia giai cấp trong xã hội. C.Mác,


16
Ph.Ăngghen cho rằng cơ sở của sự tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy và đưa
đến sự ra đời của nhà nước là:
Một là: Sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà trước hết là công cụ
lao động một mặt nó tạo ra lực lượng sản xuất, khối lượng sản phẩm của cải
tiêu dung nhiều hơn so với nhu cầu sử dụng, mặt khác nó cho phép và điều
tiết sản xuất theo hướng nhóm nhỏ hay đơn vị gia đình. Như vậy sự phát triển
của lực lượng sản xuất đã đưa đến kết quả mang tính hai mặt: Thứ nhất: Chế
độ sở hữu chung trước đây bị thay thế bởi chế độ sở hữu tư nhân đối với tư
liệu sản xuất. Thứ hai: Xuất hiện chế độ người bóc lột người.

“Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể
điều hòa được. Bất cứ ở đâu hễ lúc nào và chừng nào mà về mặt khách quan,
những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện.
Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai
cấp là không thể điều hòa được” [16, tr.9]. Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại trong
một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội và sẽ mất đi khi những cơ sở
tồn tại của nó không còn nữa.
Bản chất của nhà nước.
Xét về bản chất, nhà nước là nhà của giai cấp có thế lực nhất, của giai
cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp
thống trị về mặt mặt chính trị. Do đó, có thêm được những phương tiện để
đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức: “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy
của giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác” [15, tr.290]. Hay như
V.I.Lênin đã nói: “Theo Mác, nhà nước là một cơ quan thống trị giai cấp, là
một cơ quan áp bức giai cấp này đối với một giai cấp khác; đó là sự kiến lập
ra một “trật tự”, trật tự này hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức kia bằng
cách làm dịu xung đột giai cấp”[16, tr.9]. Nhà nước là bộ máy dùng để duy trì
sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, là cơ quan quyền lực của
một giai cấp đối với toàn xã hội, là công cụ chuyên chính của một giai cấp.


18
Không có và không thể có nhà nước đứng trên các giai cấp hoặc nhà nước
chung cho mọi giai cấp. Nhà nước chính là một bộ máy do giai cấp thống trị
về kinh tế thiết lập ra nhằm hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức của chúng đối
với quần chúng lao động. Giai cấp thống trị sử dụng bộ máy nhà nước để đàn
áp, cưỡng bức các giai cấp khác trong khuôn khổ lợi ích của giai cấp thống
trị. Đó là bản chất của nhà nước theo nguyên nghĩa, tức là nhà nước của giai
cấp bóc lột.
Theo bản chất đó, nhà nước không thể là lực lượng điều hòa sự xung

huyết thống, sống trong lãnh thổ, tạo nên bộ tộc, bộ lạc huyết thống. Đến khi
xuất hiện nhà nước thì nhà nước là cơ quan quyền lực tập trung trên một cơ
cấu lãnh thổ nhất định. Cùng với sự xuất hiện nhà nước, biên giới quốc gia
cũng được hình thành, phân chia địa phận các quốc gia riêng rẽ. Vị trí pháp lý
về chính trị của con người được xác định bằng sự cư trú của họ trên lãnh thổ
của một quốc gia nhất định.
Hai là, xuất hiện hệ thống các cơ quan quyền lực chuyên nghiệp mang
tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội, công cụ chủ yếu của
quyền lực nhà nước là “những đội ngũ vũ trang đặc biệt” như quân đội nhà
nghề, cảnh sát vũ trang, nhà tù và cơ quan cưỡng chế, những cơ quan hành
chính thực hiện chức năng cai trị…buộc người khác phải phục tùng ý chí của
giai cấp thống trị V.I.Lênin chỉ ra rằng; “Quân đội thường trực và cảnh sát là
những công cụ vũ lực chủ yếu của quyền lực nhà nước” [16, tr.12].
Mặt khác, để nuôi dưỡng bộ máy cai trị của nó thì nhà nước đã đặt ra
và dựa vào nguồn thuế khóa, quốc trái và nhiều hình thức bóc lột khác. Ph.
Ăngghen viết: “Nắm được quyền lực công cộng và quyền thu thuế, bọn quan
lại với tư cách là những cơ quan của xã hội, được đặt lên trên xã hội” [15,
tr.254]. Ngoài hai đặc trưng cơ bản trên, nhà nước còn có những đặc trưng
quan trọng khác như một bộ máy thực hiện chức năng quản lí và cưỡng chế.


20
Nhà nước với chức năng cưỡng chế mang thống trị chính trị của giai cấp cầm
quyền là công cụ chuyên chính của giai cấp đó. Mặt khác nhà nước thực hiện
chức năng quản lí những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội trong một
giới hạn nhất định, nhằm đáp ứng nhu cầu chung của toàn thể nhân dân dưới
sự quản lí của nhà nước. Khi xem xét phạm vi tác động của quyền lợi nhà
nước ở tầm vĩ mô, nhà nước có chức năng đối nội và đối ngoại.
Tóm lại, trên đây là những tư tưởng căn bản nhất của C.Mác,
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về nguồn gốc, bản chất, chức năng và con đường bạo

lực của giai cấp thống trị. Sự thống nhất về lợi ích kinh tế là điều kiện cần để
có sự thống nhất về quyền lực chính trị giữa giai cấp vô sản và quần chúng
người lao động. sự ra đời của nhà nước của giai cấp vô sản là để trấn áp sự
phản kháng của giai cấp tư sản: “Giai cấp tư sản cần đến nhà nước không
phải vì tự do mà là để trấn áp kẻ địch của mình, và ngày nào có thể nói đến tự
do thì nhà nước không còn nữa” [12, tr.18].
Tuy nhiên không phải giai cấp nào lực lượng nào cũng thực hiện được
vai trò sứ mệnh lịch sử này, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: chỉ
có giai cấp vô sản mới thực hiện được sứ mệnh đó: “Vì nó là giai cấp duy nhất
triệt để cách mạng, giai cấp duy nhất có thể đoàn kết tất cả những người lao
động và tất cả những người bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư
sản nhằm truất bỏ giai cấp đó hoàn toàn” [16, tr.31]. Và giai cấp vô sản thông
qua cách mạng bạo lực thực hiện cách mạng bạo lực thực hiện cách mạng
chính trị bằng cách thiết lập một chính quyền của mình – Nhà nước vô sản.
Tính tất yếu của việc giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng thể hiện ở chỗ
đó là giai cấp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp nắm trong tay
tư liệu sản xuất, có tinh thần kỷ luật và được vũ trang lý luận chủ nghĩa Mác.
Do đó, nguyên tắc liên kết giai cấp giữa giai cấp vô sản và toàn thể nhân dân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status