1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN NGỌC LIÊU
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà
nước với việc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Luận án TS. Triết học:
3.2. Không gian nghệ thuật trong sử thi Ramayana của Ấn Độ 62
3.2.1. Không gian thế giới trần gian 62
3.2.1.1. Không gian kinh đô 63
3.2.1.2. Không gian núi rừng 65
3.2.1.3. Không gian chiến địa 71
3.2.2. Không gian tâm linh 81
3.2.3. Không gian tình yêu 87
Kết luận 95
Tài liệu tham khảo 97
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1- Ý nghĩa của đề tài:
1. Trong tiến trình vận động và phát triển không ngừng của văn học
nhân loại, văn học Ấn Độ có một vị trí đặc biệt. Đó là một trong những nền
văn học có bề dày truyền thống hàng ngàn năm lịch sử với những thành tựu
đặc sắc, trở thành di sản tinh thần chung của nhân loại. Từ rất sớm văn hoá,
văn học Ấn Độ đã có sự lan toả, ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn học nhiều nước
trên thế giới, trong đó Đông Nam Á là khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất,
rõ nét nhất. Nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đã xem khu vực văn hoá Đông
Nam Á là “miền ngoại Ấn”, “Ấn Độ ngoài sông Hằng”. Trong tác phẩm Lịch
sử cổ các quốc gia Hinđu hoá ở Viễn đông”, G. Coedes đã gọi khu vực Đông
Nam Á là “một cái nền chung cho toàn bộ Châu Á gió mùa dưới một lớp
vécni Hinđu”. Những nhận xét giàu hình ảnh trên đây đã phần nào cho thấy
mức độ ảnh hưởng sâu đậm mà văn hoá, văn học Ấn Độ mang lại cho khu
vực này trong suốt nhiều thế kỷ. Khu vực Đông Nam Á nằm trên đường giao
lưu văn hoá Đông – Tây, từ rất sớm (vào khoảng đầu công nguyên) Đông
Nam Á đã có những cuộc giao lưu, tiếp xúc tự giác với văn hoá Ấn Độ qua
những thương gia, những nhà truyền giáo. Cũng từ thực tế lịch sử đó, ngày
nay trong một bối cảnh mới của thời đại, việc nghiên cứu văn hoá văn học Ấn
những ý kiến sau đây:
3.1. Trên thế giới:
Nghiên cứu sử thi Ramayana có khá nhiều công trình, nghiên cứu
nhiều bình diện nhiều khía cạnh khác nhau:
Vào những năm 30 của thế kỷ XIX, với tác phẩm Mỹ học, Hêghen đã
có những đóng góp hết sức quan trọng cho lý luận sử thi. Trong tác phẩm đồ
sộ này, ông đã dành hẳn phần lớn chương ba- Các loại thơ - để nghiên cứu sử
thi. Tác giả đã chỉ ra những đặc sắc của hình tượng nhân vật sử thi Ấn Độ và
theo ông, nhân vật của sử thi Ấn Độ và Ramayana nói riêng có những đặc
4
điểm nửa thần linh, nửa trần tục, đậm màu sắc tôn giáo, tạo cho các sử thi này
có tính chất “thánh kinh”.
Phần nhiều các công trình đều hướng vào nghiên cứu sự thể hiện các
nhân vật sử thi, mô hình nhân vật sử thi, tính chất tâm linh và tôn giáo của sử
thi Ấn Độ. Có thể điểm qua một số công trình viết về các vấn đề trên như:
Trong cuốn “Lịch sử văn minh Ấn Độ” sử gia người Mỹ Will Durant
đã chỉ ra tính chất lý tưởng cao siêu và hoàn thiện của các nhân vật trong sử
thi, trở thành khuôn mẫu để giáo dục, bồi bổ cho tâm hồn người đọc: Tác
phẩm đã “diễn tả những tình cảm đẹp đẽ, một bổn phận cao thượng của đàn
ông và đàn bà và có những bức hoạ sinh độngđạt tới mức tả chân. Rama và
Xita hoàn hảo quá, khó mà có thực được”.
Will Durant đã nhấn mạnh tính chất thánh thư của sử thi Ramayana.
Đặc tính này thể hiện cụ thể ở các nhân vật với những phẩm chất siêu phàm,
phi thực. Từ những con người có thực trong lịch sử, bước vào sử thi Rama và
Xita trở thành ước mơ của Ấn Độ về những hình mẫu đạo đức lý tưởng.
Trong cuốn “Hợp tuyển văn học Ấn Độ” John. B. Alfonso Karkala đã
chỉ ra rằng các nhân vật trong sử thi là phương tiện để các tác giả của nó phát
ngôn cho thuyết nghiệp báo Karma: Vamiki “thêu dệt” nên sử thi mang dáng
dấp lý tưởng, đạo đức gia đình, nghiệp báo Karma. Nhà thơ mô tả những mối
nên gần gũi nhau trong cách họ tư duy. Tác giả cũng đưa ra lý do khiến cho
các sử thi của một dân tộc này được chấp nhận ở một dân tộc khác và đôi khi
giữa các sử thi có kết cấu tưởng như giống nhau lại chẳng có mối quan hệ họ
hàng nào hết: chúng chỉ giống nhau về mặt loại hình mà thôi.
Tác giả David. R. Kinsley trong cuốn “Hindu giáo- một bức tranh phối
cảnh văn hoá” đã nhận thấy độ chênh lệch giữa hình tượng Rama và hình
tượng các vị quốc vương được quy định trong sách Luật được thịnh hành lúc
bấy giờ. Trong các sách Luật, để duy trì trật tự xã hội, đảm bảo sự công bằng,
vua cần phải sử dụng rộng rãi các biện pháp trừng phạt kể cả cách dùng đến
6
sự xảo trá, tàn bạo! Rama lại không chấp nhận các phương tiện đó cho dù nó
phục vụ cho mục đích đúng đắn. Chính điều đó đã khiến cho Rama trở thành
“một ông vua vĩ đại”.
Hơn nữa, Rama cũng là “người bảo vệ vĩ đại” của trật tự phù hợp trong
mối quan hệ giữa người với người. Con phải vâng lời cha, thần dân phải tuân
lệnh vua. “Thái độ phục tùng là cách tổ chức của những mối quan hệ trật tự
giữa con người, từ bỏ chúng thì trên thực tế, trật tự xã hội có thể bị huỷ hoại”.
Bởi vì “một xã hội trật tự đi đôi với những mối quan hệ trật tự cá nhân”.
Tác giả I. D. Xêbrriacôp trong cuốn “Khảo luận về văn học Ấn Độ” đã
nghiên cứu nhiều vấn đề của sử thi Ramayana. Trong đó tác giả đã đặc biệt
lưu ý đến vấn đề dị bản. Tác giả đã đánh giá cao giá trị cổ điển của sử thi này:
Ramayana từ khá sớm đã trở thành kiểu mẫu, chuẩn mực về văn học để đánh
giá các tác phẩm văn học, trở thành tiêu chuẩn để các nghệ sĩ hướng tới.
Trong tác phẩm “Sử thi cổ đại Ấn Độ”, nhà nghiên cứu văn học Nga P.
A. Grinser đã nhấn mạnh tính chất lý tưởng của nhân vật chính là hoàng tử
Rama: Rama xuất hiện cũng giống như Krisna, một trong số những hoá thân
của vị thần tối cao Visnu, đầu thai xuống trần để giệt trừ cái ác- được nhân
cách hoá trong hình tượng vua quỷ Ravana…” song Rama hành động trong sử
thi không phải như một vị thần mà như một vị vua lý tưởng, một chiến sĩ lý
lý tưởng …Nàng yêu chồng hết mình. Nhân vật làm nên những kỳ tích phi
thường, sự hùng mạnh của họ là không có giới hạn”
Bên cạnh đó, tác giả I. S. Rabinôvic cũng đã đi sâu tìm hiểu nguồn gốc
của sử thi Ramayana và các nhân vật sử thi trong hiện thực lịch sử. Theo ông
thì toàn bộ hình tượng nhân vật Rama gợi ra một hồi ức mơ hồ về bộ lạc Bắc
Ấn trong cuộc hành binh tới những hòn đảo xã xôi và sự chinh phục thổ dân ở
đó mà người thủ lĩnh thổ dân được chú ý tới là Ravana.
Tác giả cuốn “Đại cương lịch sử văn học Ấn Độ” cũng phân tích tính
chất lý tưởng của hình tương nhân vật Rama ở nhiều góc độ, nhiều mối quan
8
hệ khác nhau: Rama- một người anh hùng lý tưởng của sử thi này là sự hiện
thân nổi tiếng của những đức tính: là một người con trai ngoan ngoãn, một
người chồng dịu dàng, trung thành với luật định, một chiến sĩ can đảm, coi
trọng danh dự, một người cầm quyền quốc gia anh minh, sáng suốt.
Nhưng ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều của hình ảnh Rama trước hết là một
chiến sĩ chống lại bất công mà hiện thân trong thiên sử thi này là quỷ vương
Ravana, chiến thắng con quái vật ức hiếp thiên hạ. Đích thực của đặc tính này
khiến cho Rama trở thành người anh hùng được nhân dân Ấn Độ yêu mến .
Đồng thời, hình ảnh người nữ anh hùng trong sử thi Ramayana là công
chúa Xita đến nay vẫn sống trong nhân dân, trở thành biểu tượng cho sự
chung thuỷ của người phụ nữ và sự hy sinh quên mình vì tình yêu.
Mặt khác, trên nền nghiên cứu sự ảnh hưởng sâu rộng của Ramayana ở
khu vực Đông Nam Á, tác giả Thakur Upenda trong công trình nghiên cứu
“Sử thi Ramayana ở Đông Nam Á” in trong cuốn “Một vài phương diện về
lịch sử và văn hoá Châu Á” ở phần mở đầu công trình, tác giả đã nhấn mạnh
sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Độ trên mọi mặt của văn hoá - xã hội
qua nhiều vùng đất của Đông nam Á cổ đại. Những ảnh hưởng này có thể trực
tiếp từ Ấn Độ, nhưng cũng có thể đi theo con đường gián tiếp từ các nước
láng giềng. Tác giả đã trình bày những biến thể khác nhau của sử thi
người Ấn Độ tại Đông Nam Á như là nguyên nhân của những ảnh hưởng về
tôn giáo, ngôn ngữ và văn hoá của Ấn Độ tại vùng này. Đặc biệt trong chương
14, tác giả đã phân tích những ảnh hưởng của sử thi Ấn Độ đối với văn học
Wayang (rối bóng) tại Đông Nam Á. Ngay phần đầu của công trình nghiên
cứu, với tư cách là một nhà sử học, tác giả đã bước đầu đề cập đến các con
đường xâm nhập của sử thi Ramayana vào Đông Nam Á nhưng vấn đề chủ
yếu mà ông quan tâm là những ảnh hưởng của Ramayana vào những văn bản
phục vụ cho rối bóng tại các nước Đông Nam Á.
10
Các công trình ở trên, tuy không trực tiếp bàn riêng về thời gian và
không gian trong Ramayana, song trong quá trình phân tích và nhận xét của
các học giả trên thế giới cũng phần nào cho thấy không gian môi trường văn
hóa rộng lớn chứa đựng trong sử thi.
3.2. Việt Nam:
Văn học Ấn Độ nói chung và sử thi Ramayana nói riêng được chú ý ở
Việt Nam gần ba chục năm nay mà người đặt nền móng đầu tiên cho sự
nghiệp nghiên cứu văn hoá, văn học Ấn Độ ở Việt Nam là nhà nghiên cứu
Cao Huy Đỉnh. Trong cuốn “Văn hoá Ấn Độ” và cuốn “Tìm hiểu thần thoại
Ấn Độ”, tác giả Cao Huy Đỉnh bên cạnh việc nhấn mạnh vẻ đẹp lý tưởng của
các nhân vật sử thi cũng đã chỉ ra những mặt hạn chế của các hình tượng này:
ý nghĩa của hình tượng Xita cũng giống quan niệm “người ta là hoa của đất”
của người Việt Nam ta xưa. Theo truyền thuyết hoàng tử Rama chính là vị
thần Visnu giáng thế làm nguqười để cứu vớt nhân laọi ra khỏi vòng chiến
tranh, tội lỗi và đau khổ. Hoàng tử Rama là con người lý tưởng của đạo Hinđu
và của đẳng cấp quý tộc. Nhưng mặt khác, hoàng tử Rama cũng là chàng
dũng sĩ có tài, có chí, là ông vua anh minh, đức độ, có một tấm lòng yêu
thương tha thiết. Rama là hình ảnh tập trung của một vị vua sáng, phù hợp với
yêu cầu đạo đức của nhân dân ở một mức độ nhất định trong lịch sử xã hội
chiếm hữu nô lệ và phong kiến. Vai trò quyết định có tính chất đại biểu cho
ngai vàng nhưng không thể để mất người yêu, chàng có thể vào sinh ra tử vì
nàng nhưng không thể chấp nhận nàng không chung thuỷ”.
Bài “Thử bàn về một số nét của văn học Đông Nam Á” của giáo sư
Nguyễn Đức Ninh đăng trên tạp chí Văn học số 5/1983 là bài có nhiều ý kiến
trực tiếp bàn về vấn đề bản địa hoá sử thi Ramayana ở Đông Nam Á. Các tác
phẩm của Ấn Độ bằng con đường truyền miệng dã được dân gian hoá theo
đặc điểm dân tộc phù hợp với hoàn cảnh của từng quốc gia. Tác giả cho rằng
vì dân gian hoá nên các tác phẩm văn học Ấn Độ đã biến dạng đi, mỗi nơi
12
một khác, chỉ còn lại cái gốc của Ấn Độ. Dựa trên Ramayana, ở Inđônêxia có
Sêri Rama, ở thái Lan có Rama Kiên,…Tác giả cho rằng sự khác nhau giữa
chúng là bởi đặc điểm dân tộc.
Phó giáo sư Võ Quang Nhơn trong bài viết “Qua sử thi, tìm hiểu mối
quan hệ văn học nghệ thuật giữa Đông Nam Á và Ấn Độ” (đăng trên Tạp chí
khoa học - Đại học Tổng hợp Hà nội, 8/1990) đã đề cập đến sử thi Ramayana
của Ấn Độ ở Đông Nam Á. Ông đã bước đầu tìm hiểu và so sánh về đôi nét
khác biệt giữa sử thi Ramayana và Pha Lặc Pha Lam ở Lào.
Phó giáo sư Lưu Đức Trung trong sách “Văn học Ấn Độ" đã nhận xét
Rama là nhân vật được xem là mẫu người lý tưởng của đạo Hinđu và đẳng
cấp vương công quý tộc, đồng thời thể hiện khát vọng của nhân dân đương
thời có một vị minh quân, một anh hùng tài ba lỗi lạc, dũng cảm và đạo đức
để bảo vệ đạo đức, hạnh phúc và công bằng cho xã hội. Còn nhân vật nàng
công chúa Xita lại là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ chung
thuỷ, tiết hạnh, một người con gái hiền từ, nhân hậu.
Về nghệ thuật sử thi Ramayana, tác giả viết: “Tác phẩm còn vẽ lên
cảnh chiến trường ác liệt, cung tên rào rào, đô thành bốc cháy, đất đá tung toé,
người và quỷ quần nhau bằng nhiều phép thuật thần kì, cùng với khí phách
hào hùng, dũng cảm của những kẻ chiến thắng đã gây nên sự hứng thú cho
người đọc”.
Cũng viết về sử thi Ramayana, tác giả Nhật Chiêu trong “Câu chuyện
văn chương phương Đông” đã dành mối thiện cảm của mình cho nhân vật nữ
là nàng cong chúa Xita, mượn lời của Romesh Dutt và Krisan Chandro, ông
đã hết lời ca ngợi vẻ đẹp, sự thiêng liêng, chất lý tưởng của nàng công chúa
Xita và khẳng định rằng: “Tình yêu của Rama và Xita là chủ đề của thiên sử
thi mê hoặc này”. Nhật Chiêu cũng cho rằng thiên nhiên trong sử thi
Ramayana “đầy sức sống, đầy tình yêu và nồng nàn nhục cảm”.
14
Nhìn lại qúa trình nghiên cứu ở những quy mô khác nhau trên thế giới
và ở Việt Nam trong phạm vi tài liệu mà chúng tôi có thể bao quát được có
thể thấy, hầu hết các công trình nghiên cứu, giới thiệu đều dừng lại ở việc
trình bày những đặc điểm của nhân vật trong sử thi Ramayana, chỉ ra những
ảnh hưởng của sử thi Ramayana tới đời sống tinh thần của người dân Ấn Độ
và các nước trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc trong khu vực Đông Nam Á.
Tuy cách nói có khác nhau, nhưng các nhà nghiên cứu đều nhất trí cao khi
cho rằng các nhân vật chính diện là hoàng tử Rama, công chúa Xita là những
hình tượng nhân vât tuyệt đẹp của nhân dân Ấn Độ thời cổ đại, thể hiện đựơc
những ước mưo khát vọng của họ về những vị thủ lĩnh tài ba, sáng suốt, đạo
đức, vì lợi ích của cộng đồng. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra
tôn giáo Ấn Độ đã ảnh hưởng sâu đậm đến các nhân vật trong sử thi
Ramayana. Các nhân vật chỉ là phương tiện để tác giả phát ngôn cho giáo lý
Dharma của Ấn Độ giáo.
Như vậy, văn học Ấn Độ nói chung và sử thi Ramayana nói riêng đã
được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam quan tâm và nghiên
cứu. Liên quan mật thiết với hình tượng người anh hùng trong sử thi là
khoảng không gian - thời gian, trong đó người anh hùng thể hiện phẩm chất lý
tưởng của mình. Song các công trình nêu trên còn ít bàn tới môi trường hành
động của người anh hùng, tuy rằng đây đó các học giả có nhắc tới. Các ý kiến
của họ về tác phẩm Ramayana là những gợi mở cần thiết để tác giả luận văn
Chương 3: Không gian nghệ thuật.
3. 1. Khái niệm về không gian nghệ thuật.
3. 2. Không gian nghệ thuật trong sử thi Ramayana của Ấn Độ.
3. 2.1. Không gian thế giới trần gian.
3. 2.2. Không gian bổn phận.
3. 2.3. Không gian tình yêu.
16
CHƢƠNG 1: SỬ THI VÀ SỬ THI RAMAYANA CỦA ẤN ĐỘ.
1.1. Vấn đề thể loại sử thi.
Cho tới thế kỷ XVIII, người Châu Âu và các nhà nghiên cứu văn học
chỉ biết đến duy nhất những sử thi Châu Âu. Căn cứ trên cơ sở của những sử
thi này, họ xây dựng nên lý luận về thể loại: sử thi anh hùng hay còn gọi là
anh hùng ca – tiếng Sanskrit là Itihâsa.
Vào những năm 30 của thế kỷ XIX, Hêghen đã có những đóng góp
quan trọng cho lý luận sử thi trong cuốn “Những bài giảng về mỹ học”. Ông
đã dành hẳn chương ba- Các loại thơ- để nghiên cứu về thể loại sử thi. Ông đã
chia sử thi thành các loại:
(1). Thơ đề trên mộ và thơ cách ngôn.
(2). Các trường ca giáo huấn – triết học; Các trường ca về vũ trụ và
thần linh.
Hêghen gọi các loại thơ trên là những sử thi không toàn vẹn vì chúng
không miêu tả một nhà nước thực sự, cũng không miêu tả một biến cố cụ thể
trong lòng nhà nước ấy.
(3). Sử thi đích thực:
Theo quan điểm của Hêghen, sử thi đích thực là loại sử thi có nội dung
và hình thức thực sự là toàn bộ quan niệm về thế giới và cuộc sống dân tộc
được trình bày dưới hình thức khách quan của những biến cố thực tại.
Sử thi đích thực là loại sử thi mang những đặc điểm:
“Tình huống phù hợp nhất với sử thi đó là các xung đột của trạng thái
và các sự kiện lịch sử”.
Đồng thời, E. M. Mêlêtinxki trong một số công trình nghiên cứu “Tự
sự dân gian” và “Bàn về sự phát sinh và nhữung con đường phân hoá thể loại
sử thi”, đã cho rằng sử thi anh hùng được hình thành từ hai cơ sở: sử thi thần
thoại và những truyện cổ tích dũng sĩ. Ông viết: “Những huyền thoại về các
18
nhân vật thuỷ tổ văn hoá và những truyện cổ tích tráng sĩ là những tư liệu chủ
yếu của sử thi anh hùng thời kỳ đầu”.
Nhà nghiên cứu V. E. Gusep cũng rất tán thành với nhà nghiên cứu E.
M. Mêlêtinxki về tiến trình phát triển của sử thi. Ông cho rằng, sử thi cũng
phát triển từ sử thi thần thoại đến sử thi anh hùng. Riêng trong sử thi thần
thoại thì có ba lớp lịch sử:
- Lớp cổ xưa nhất là lớp tiền tôn giáo hoặc hỗn hợp sinh ra không phụ
thuộc vào hệ thống những tôn giáo xác định và ngoài sự thờ cúng. Đặc trưng
cơ bản của lớp này là sự lý tưởng hoá các lực lượng tự nhiên và những lực
lượng sản xuất của tập thể bộ lạc thị tộc. Ở đây, những anh hùng văn hoá
được gắn cho những khả năng sáng tạo kỳ diệu và được suy tôn.
- Lớp lịch sử thứ hai là những tác phẩm phản ánh tác động qua lại giữa
sáng tác nghệ thuật và vô thức sáng tạo tôn giáo đích thực. Nó được các giáo
sĩ chỉnh lý, sử dụng trong thờ cúng và được đưa vào những sách kinh điển, nó
còn được các tôn giáo tiếp thu (Kinh thánh, Kinh Koran).
- Lớp thứ ba của sử thi thần thoại là những truyền thuyết và những bài
ca sử thi dân gian sinh ra trong xã hội có giai cấp, dưới tác động của những
tôn giáo thống trị. [16, tr34 ]
Về sử thi anh hùng, nhà nghiên cứu V. E. Gusep cho rằng đó là những
truyện kể bằng lời ca hoặc nửa ca về sự đấu tranh của thị tộc – bộ lạc – bộ
tộc- nhân dân cho sự tồn tại và nền độc lập của mình trong sự xung đột với
các lực lượng thù địch. Trung tâm của thể loại sử thi này là người anh hùng
mang phẩm chất ưu tú của tập thể và đại diện cho tập thể trong mọi hành
một cách rõ rệt.
Sử thi văn chương quan tâm chủ yếu tới vận mệnh của những
quốc gia, mang tính dân tộc.
20
Thời gian trong kiểu sử thi này thường bao trùm một sự kiện dài, có thể
là lịch sử một đời người hay một vùng đất. [Chuyển dẫn 23 ]
Tác giả Grinser cũng đã bộc lộ thái độ tán thành cách phân chia sử thi
ra thành các loại: sử thi anh hùng, sử thi giáo huấn và sử thi văn chương.
Trong cuốn “Sử thi cổ Ấn Độ” với việc phân tích hai sử thi lớn của Ấn Độ là
sử thi Mahabharata và sử thi Ramayana ông đã thể hiện rõ quan điểm của
mình. Theo ông, sử thi Mahabharata từ một sử thi anh hùng đã trở thành một
sử thi mang tính giáo huấn. Còn sử thi Ramayana thì từ một sử thi anh hùng
đã trở thành một sử thi văn chương.
Như vậy, các nhà nghiên cứu, lý luận đều phân tách thể loại sử thi
thành ba tiểu loại sau:
(1)- Sử thi cổ sơ hay sử thi thần thoại, sử thi không chính thức, sử thi
giáo huấn.
(2)- Sử thi cổ điển, sử thi đích thực, sử thi lớn hay sử thi anh hùng, sử
thi chính thức, sử thi cổ đại.
(3)- Sử thi văn chương, sử thi cung đình, sử thi tái tạo, sử thi mô phỏng.
Mặc dù đã có sự phân chia sử thi thành các loại khác nhau về mặt lý
luận, nhưng trên thực tế thì mỗi sử thi ở mỗi nền văn học khác nhau lại có
một quá trình hình thành khác nhau. Ví dụ như sử thi Hy Lạp có một quá trình
hình thành khác với sưt thi Ấn Độ. Cụ thể là:
Nếu các sử thi Hy Lạp có một mốc thời gian cụ thể cho sự hoàn thành,
ví dụ như sử thi Iliat vào khoảng thế kỷ IX – VIII trước công nguyên thì các
sử thi Ấn Độ lại trải qua một trường kỳ thời gian biên soạn, sắp xếp, chỉnh sử,
bổ sung vài trăm năm, thậm chí kéo dài hàng ngàn năm. Ví dụ như sử thi
Mahabharata theo phần lớn các nhà nghiên cứu thì từ khoảng thế kỷ thứ V
Sử thi Ramayana được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng nhiều cách
khác nhau nhưng con đường truyền miệng vẫn rất sống động, Ramayana được
kể lại bên lửa trai hay đọc nơi công công cho mọi người nghe. Người Ấn Độ
22
xem Ramayana là một thánh kinh giúp họ gột rửa hết mọi tội lỗi trong cuộc
đời trần thế. Người Ấn Độ nói rằng: “Chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn
thì Ramayana vẫn làm say mê lòng người và cứu giúp họ ra khỏi vòng tội
lỗi.”
Đặc biệt ở miền Nam Ấn Độ đã hình thành một giáo phái thờ thần
Rama và thánh kinh của họ là những lời thơ trong tác phẩm.
Bên cạnh đó, trong suốt hàng ngàn năm qua, sử thi Ramayana trở thành
một đề tài bất tận cho các ngành nghệ thuật. Tiêu biểu là tác phẩm “Hồ truyền
kỳ Rama” của nhà văn Tuxidas.
Mỗi vùng của đất nước này đều có kiểu mẫu riêng của mình về kịch
Ramayana. Người ta dựng các vở kịch lấy từ các trích đoạn của Ramayana
trên sân khấu ở nhiều thành phố. Tại các lễ hội, hình nộm của Ravana và
Kumbkarna bị đốt, các diễn viên đóng vai Rama và Sita tham gia vào diễu
hành. Ramayana đã được dưa lên màn ảnh của rạp chiếu bóng cũng như phim
truyền hình nhiều tập và trình chiếu suốt 78 tuần liền trong suốt năm 1987-
1988 vào một giờ nhất định trong các ngày chủ nhật. Bằng tất cả các cách đó,
Ramayana đã đi vào tâm thức của người Ấn Độ ngay cả thời hiện đại. Qua
huyền thoại về Rama, mọi người dân Ấn Độ đều nảy sinh ước vọng về những
lãnh tụ cứu tinh hiền đức và công bằng. Đó là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác
mà sự toàn thắng luôn luôn thuộc về cái thiện. Bản trường ca đã khẳng định
sự không thay đổi trong phân chia đẳng cấp và sự thống trị của đẳng cấp trên
đối với đẳng cấp dưới suốt mấy ngàn năm.
Cấu trúc của Ramayana là cấu trúc rất phổ biến của các truyện trong
văn học dân gian trên thế giới. Nó bao gồm hai bước của một quá trình chung
nhằm đạt được mục tiêu cao cả của các nhân vật chính diện. Mỗi bước này lại
thời, thầy tu Brahma biến quỷ Maricha thành sơn dương, lừa Xita để nàng nói
chuỵên thân mật với Ravana.
24
Quyển thứ năm, mô tả cảnh Hanuman đi tìm Xita. Hanuman đã biến
hình thành một con mèo để đi tìm Xita. Để bộ dạng của mình không làm cho
Xita khiếp sợ, Hanuman ẩn mình sau lá, tán dương Rama và cho Xita hay
rằng mình có quen chàng. Sau khi đã làm cho Xita tin mình rồi, Hanuman
mới xuất hiện nhưng nàng vẫn lo sợ đó là Ravana biến hình. Hanuman lại một
lần nữa thuyết phục nàng bằng cách kể cho nàng nghe tỉ mỉ về Rama và điểm
qua các chiến công của chàng cho đến khi Xita hoàn toàn tin rằng đứng trước
nàng là một người bạn và nàng tràn ngập vui sướng. Cuối cùng, để chinh
phục hoàn toàn niềm tin của Xita, Hanuman trao cho nàng chiếc nhẫn của
Rama mà chàng đã trao cho Hanuman với tư cách là một phái viên của mình.
Hanuman đã phải tìm kiếm Xita rất lâu nhưng chàng đã thành công, chinh
phục được lòng tin của Xita và đốt cháy kinh thành Lanka của Ravana.
Quyển thứ sáu kể lại chuyện Rama và quân đội của chàng kéo quân qua
biển tới Lanka để giành lại công chúa Xita. Đây là một quyển có kết cấu khá
dài và phức tạp vì các đối thủ là những kẻ ngang sức ngang tài. Kết cấu của
quyển này có thể chia ra làm nhiều đoạn như sau: Chuẩn bị cho cuộc giao
tranh, làm cầu qua biển Lanka, sự ngoan cố của Ravana, cuộc chiến đấu bắt
đầu, Kumbhakarna gieo rắc sự sợ hãi, sự thát bại của Indrajit, kết thúc của
Ravana, sự vô tội của Xita được minh chứng qua thử lửa và trở về nhà.
Quyển thứ bảy không được coi là quyển chính thức của Ramayana dân
gian trước khi có bản của Valmiki. Tuy nhiên, nó lại là quyển giàu chất nhân
văn vì nó rất gần với những đặc tính của người bình thường. Dường như
không tin vào cái kết thúc có hậu của những nhân vật có tính thần linh quá
cao siêu, Valmiki đã tạo thêm quyển bảy để kéo Ramayana gần lại với thế
giới của con người với những vui buồn, giận ghét, sai lầm và trả giá…Đây là
quyển mang ít yếu tố thần tiên kỳ ảo nhất mà mang nặng sắc thái và chịu sự