Ảnh hưởng của văn học Xô Viết đối với việc xây dựng hình tượng " Con Người Mới" trong văn xuôi Việt Nam 1945- 1975 - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_______________

Đỗ Thị Thùy Dương
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THỊ PHƯƠNG

cùng với thế ưu trội của nó, người ta luôn phát hiện thấy những mặt chưa
được, đó như là một quy luật trong đời sống văn học. Văn học giai đoạn 1945
– 1975 của ta cũng thế. Vấn đề này Trần Ngọc Vượng đã từng đề cập: “Nền
văn học của chúng ta, ở một ý nghĩa nào đó, đư
ợc đẩy tới từ phía sau, từ
quán tính lịch sử, với cả những đặc trưng, nét độc đáo, và cả bởi những
phương diện yếu kém và hạn chế của nó” [83, tr.46-47]. Đánh giá một giai
đoạn văn học phải có tiêu chí, chúng tôi đồng tình với các tiêu chí mà Nguyễn
Văn Long đã đề nghị trong cuốn sách Văn học Việt Nam trong thời đại mới:
-
Tác dụng của văn học với thời đại, nói khác đi, là sự đáp ứng của văn
học đối với những đòi hỏi bức thiết của thời đại. - Giá trị mà văn học mang đến cho con người ở mọi thời đại, nói cách
khác, là tính nhân loại phổ quát của nó.
- Vai trò của văn học trong tiến trình chung, nghĩa là nó có kế thừa
truyền thống văn học dân tộc, văn học nhân loại để tạo nên chỗ đứng cho
mình một mặt vẫn thúc đẩy văn học đi lên hay không?
Cho đến nay, khi đã ở một thế kỉ mới, giới nghiên cứu văn học cũng đã
giải quyết được vấn đề đánh giá văn học cách mạng Việt Nam trong hai cuộc
chiến lớn ở thế kỉ XX dựa trên
những tiêu chí trên, đặc biệt là trong điều kiện
từ sau quá trình Đổi mới văn học (Đại hội VI của Đảng – 1986). Rất nhiều
công trình có giá trị góp tiếng nói tích cực cho việc nhìn nhận những bước đi
của văn học dân tộc.
Tuy nhiên, đánh giá thành tựu của một giai đoạn văn học còn xem
xét
đến đóng góp của các thể loại văn học, trên chân dung tinh thần của nó, chân
dung đó không gì khác là hình ảnh con người trên các trang viết. Theo chúng

văn học các nước x
ã hội chủ nghĩa đối với văn chương Việt một thời là không
nhỏ, mà trực tiếp và sâu sắc không thể nào không kể đến văn học Xô-viết.
Do đó, chúng tôi m
ong muốn qua những điều được bàn bạc, đánh giá
của đề tài, sẽ một lần nữa bình giá một cách khách quan một hình tượng văn
học, đối sánh với thế giới nhân vật của các giai đoạn trước và sau nó để nhận
thấy vị trí, vai trò của nó.
2. Phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu đã xác định như trên, hai đối tượng được chúng tôi khảo
sát là những tác phẩm văn xuôi Việt Nam 1945 – 1975 và tác phẩm văn xuôi
Xô-viết có cùng cảm hứng, cùng hình tượng.
Văn học Xô-viết, bộ phận văn học ra đời sau cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở nước Nga – Xô-viết 1917 là một bộ phận trong toàn bộ tiến trình văn
học Nga thế kỉ XX. Có thể ngày nay, khi đã có điều kiện t
ìm hiểu đầy đủ hơn,
người tiếp cận văn học cho rằng nó chỉ có những giá trị cấp thời, so với bộ phận văn học Nga lưu vong, bộ phận văn học Nga bị cấm đoán dưới thời nhà
nước Xô-viết nhưng gạt bỏ nó, phủ nhận nó thì lại không phải là điều dễ dàng.
Trên thực tế, văn học thời Xô-viết ở Nga (có thể kể từ khi nó được tuyên bố
chính thức vào năm 1934 cho đến lúc nhà nước Xô-viết sụp đổ vào năm
1991) phức tạp, đa phong cách hơn nhiều. Ảnh hưởng của nó đối với văn
chương các nước xã hội chủ nghĩa lại hết sức mạnh mẽ, ngay cả đối với một
số nước phương Tây Tư bản chủ nghĩa cũng t
hế. Tuy nhiên, do yêu cầu chính
trị một thời, nhiều nước (trong đó có Việt Nam) đã du nhập, học hỏi văn học
Xô-viết một cách cắt xén, bảo thủ khiến cho nó trở nên xơ cứng. Nhưng cũng
phải thừa nhận rằng chính sự du nhập đó đã giúp văn chương các nước đấu

của nó đã có nhiều công trình bàn bạc, đánh giá. Ở những năm còn trong
không khí sục sôi của hai cuộc chiến của dân tộc, nhất là từ sau chiến thắng
Điện Biên Phủ lịch sử, với nhu cầu cổ vũ cho những thắng lợi khác nhau của
cách mạng Việt Nam, sau đó là khẳng định sức mạnh tinh thần dân tộc, nhiều
bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học nhiều năm l
iền đã đề cao vai
trò của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, đề cao vẻ đẹp con
người thời chiến. Sau đại thắng mùa xuân 1975, âm hưởng cuộc chiến lớn của
dân tộc còn vang vọng, trước thời kì Đổi mới, nhiều nhà nghiên cứu đã có
những công trình mang tính chất tổng kết đóng góp của văn học hiện thực x
ã
hội chủ nghĩa Việt Nam, có thể kể đến: Cuộc sống và tiếng nói nghệ thuật,
Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ, Văn xuôi Việt Nam trên con
đường hiện thực xã hội chủ nghĩa của Phong Lê… Đến khi văn học chuyển
sang thời bình với đúng nghĩa của nó, tinh thần dân chủ được đặt ra, nhiều tác
giả đã hướng đến việc nhìn nhận văn học cách mạng và nhân vật trung tâm

của nó trong thế nhiều chiều, tức là có cả những mặt mạnh và có cả những
hạn chế của nó, đó là cách làm có ý nghĩa. Bởi vì, trong giới hạn của những
cuộc chiến liên tiếp nhiều nhà văn không chuẩn bị tâm thế cầm súng nhưng đã
tự giác cầm súng, điều này đã phần nào “khuôn” lại sức sán
g tạo. Mặt khác,
lại cũng nhờ vào không gian sáng tác bất thường đó mà văn học thời chiến đã
hoàn thành nhiệm vụ của nó một cách đáng tự hào. Hướng vào đánh giá văn học chiến tranh cách mạng trong tư thế đó có một số công trình đáng chú ý
như: Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới (1991), Chặng
đường mới của văn học Việt Nam (1998) do Hà Minh Đức chủ biên, 50 năm
văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (1996) do Đại học quốc gia

Do vậy, chúng tôi đặt ra cho mình công việc ấy. Thêm vào đó, chúng tôi
xác định một trọng tâm cho mình là con người mới, một hình tượng với tư
cách một chân dung văn học. Các công trình đã nêu đã gợi dẫn cho chúng tôi.
Chúng tôi xem xét con người mới trong lịch sử thế giới các nhân vật văn học
Việt Nam thế kỉ XX trong đó không thể nào không kể đến cảm hứng thời đại
của nó. Một điều có thể nhận thấy là “trong thời đại hiện nay rất khó tìm
hình
ảnh quy tụ duy nhất của con người thời đại” (Hà Minh Đức) so với các giai
đoạn văn học trước và sau Cách mạng tháng Tám. Cho nên chúng tôi thấy là
việc khảo sát sẽ giúp có một hướng đi phù hợp hơn cho văn học trong kỉ
nguyên mới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Xác định đề tài và mục đích nghiên cứu như trên chúng tôi lựa chọn một
số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử - xã hội, nghĩa là tìm hiểu đối tượng trong môi
trường phát sinh, vận động của nó và trong những điều kiện xã hội mà nó
tham gia. Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, như đã nêu ở trên, đã vận
động khác với trước 1945 và sau 1975. Do vậy, ngược trở lại quá khứ để bình
giá một hiện tượng, chính phương pháp lịch sử - xã hội sẽ gi
úp ta không lạc
điệu, không áp đặt quan điểm. Thêm nữa, đây đã là phương pháp được thừa
nhận về tính khoa học của nó (Nguyễn Văn Dân trong cuốn sách Phương
pháp luận nghiên cứu văn học đã đề cập vấn đề này).
- Phương pháp hệ thống, tức là đi tìm hiểu đối tượng trong những hệ
thống chứa nó. Đối tượng mà chúng tôi xác định ở trên có nhiều cấp độ và

được đặt trong những hệ thống khác nhau. Trước hết là cấp độ thể loại: các
tác phẩm được chọn là các phẩm thuộc thể loại văn xuôi. Thứ đến là cấp độ
đề tài: đề tài chiến đấu và đề tài lao động xã hội chủ nghĩa. Tiếp theo là cấp
độ hình tượng: hình tượng con người mới

thưởng thức, khám phá.
- Tiến hành đối sánh với hai giai đoạn văn học khác về môi trường tiếp
xúc với văn học cách mạng là để làm sáng rõ đóng góp lớn lao của văn học cách mạng Việt Nam đối với lịch sử và văn học dân tộc, điều mà nhiều công
trình, hoặc chỉ đối sánh với văn chương thời thuộc Pháp, hoặc chỉ đối sánh
với văn chương đương đại Việt Nam trong cuộc vươn mình ra bên ngoài.
- Bày tỏ niềm mong muốn về những đóng góp thực sự đỉnh cao hơn của
văn chương Việt mà chính văn học quá khứ là một kinh nghiệm
vô giá cho
tương lai văn học dân tộc. Điều này có lần nhà nghiên cứu Phong Lê đã trăn
trở: “Văn học Việt Nam thế kỉ XX quả có những đóng góp thật lớn và quý giá
cho cộng đồng dân tộc và văn hóa dân tộc. Nhưng cũng đã đến lúc cần tính
đến những đóng góp cho nhân loại. Cần nâng tiếng nói dân tộc được kết tinh
trong tiếng nói văn học ra thế giới…” [35, tr.71].
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 90 trang. Ngoài phần Mở đầu (10 trang), Kết luận (5
trang), Thư mục tham khảo (7 trang), nội dung luận văn được xây dựng từ
03 chương:
Chương 1: SỰ RA ĐỜI CỦA NỀN VĂN HỌC HIỆN THỰC XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM (21 trang). Với chương này, chúng tôi đặt
nhiệm vụ đi tìm hiểu lại lịch trình của chủ nghĩa hiện thực x
ã hội chủ nghĩa
với tư cách là phương pháp sáng tác ra đời trong lòng các nước XHCN mà
nước Nga – Xô-viết là trụ cột. Học tập văn học Xô-viết, văn học Việt Nam
cũng đã chọn cho mình một hướng đi trong điều kiện bất ngờ, bất thường của
cuộc đấu tranh cách mạng. Cả hai nền văn học có cùng một nhiệm vụ chính
trị đã ý thức cao về việc xác định hình tượng nhân vật trung t
âm. Từ đây, luận

Chương 1
SỰ RA ĐỜI CỦA NỀN VĂN HỌC HIỆN THỰC
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

1.1. Khái lược về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa
Tìm hiểu bất kì một nền văn học, một hiện tượng văn học nào cũng phải
đặt trong dòng chảy của thời đoạn mà nó tồn tại. Trong lịch sử văn học nhân
loại, mỗi giai đoạn, mỗi thời kì có những dòng văn học và phương pháp sáng
tác riêng đóng vai trò chủ đạo.
Ở mỗi thời đại và tùy vào bước đi của mỗi quốc gia, văn học dự phần
tích cực vào việc th
ay đổi diện mạo đời sống tinh thần. Cho đến trước thế kỉ
XX, văn học Việt Nam đi trong xu thế chung của khu vực là chủ nghĩa Cổ
điển. Đến đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa Hiện thực phê phán và chủ nghĩa Lãng
mạn phương Tây đã vào Việt Nam, đưa văn học nước ta gia nhập quỹ đạo văn
học hiện đại thế giới.
Đêm
trước của cuộc cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo, trong địa hạt
văn chương, ở thế kỉ XIX, nhất là từ những năm 40 trở đi, nhu cầu miêu tả
cuộc sống như chính nó vốn có đã được các nhà văn đặt ra bằng các sáng tác
theo khuynh hướng hiện thực và với cảm hứng phê phán. Ở đó, các nhà văn

chủ lưu chỉ ở các nước XHCN. Sự giới hạn này không quan sát thấy trong các
phương pháp, trào lưu sáng tác khác trên t
hế giới.
Cùng với sự ra đời của nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới, và sau
này là cả một hệ thống các nước XHCN, một nền văn học nghệ thuật mới ra
đời – đó l
à nền văn học vô sản. Riêng nội hàm “văn học vô sản” đã cho thấy
đây là một nền văn học được xác định như một hình thái hoạt động của ý thức
hệ. Ý thức hệ đó có tính chất đối lập với ý thức hệ của giai cấp tư sản – giai
cấp mà cách mạng vô sản vừa đánh đổ. Cho nên việc phê phán quan điểm văn
học tư sản của CNHT XHCN sẽ được thể hiện trong cả nội dung lẫn thủ pháp nghệ thuật của văn học, được quy định chặt chẽ bởi lập trường giai cấp của
người viết. Từ đó, “chìa khoá vạn năng” để khám phá tác phẩm văn chương
cũng như thế giới tư tưởng của tác giả chính là “tâm lí giai cấp”.
Ngày 30/12/1922, một quốc gia mới được thành lập gọi là “Liên bang
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô-viết” (gọi tắt là Liên Xô). Nhằm nhà nước
hóa các hoạt động văn nghệ và khoa học, ngày 23/04/1932 Bộ Chính trị Đảng
Cộng sản Liên Xô ra Nghị quyết về việc thống nhất tất cả các nhóm
văn học
vào một tổ chức duy nhất gọi là Hội các nhà văn Xô-viết, nằm dưới sự lãnh
đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản. Từ đây, Hội các nhà văn và các Viện nghiên
cứu văn học ở L
iên Xô trở thành những cơ quan phát ngôn cho tiếng nói
chính thống của Đảng và Nhà nước.
Ngày 16/10/1932, trong một cuộc tọa đàm văn học, Stalin đã xác định
phương hướng sáng tác của văn học Xô-viết: “Nhà nghệ thuật cần phải miêu
tả chân thực cuộc sống. Nếu như anh ta miêu tả cuộc sống thì anh ta không
thể không chú ý và không thể không phản ánh cuộc sống đang hướng về

nh thành và kết thúc của nền văn học HT XHCN, chúng
ta có thể khẳng định tính chất giới hạn về không gian và thời gian của một
phương pháp sáng tác từng gắn với một thể chế chính trị. Tính chất gắn bó
với chính trị này sẽ quy định cách phản ánh hiện thực trong văn học mà chúng
tôi xin trình bày dưới đây.
1.1.2. CNHT XHCN – Phương pháp sáng tác có những nguyên
tắc riêng trong quan niệm phản ánh hiện thực
Như một đòi hỏi mang tính tất yếu, ở thế kỉ XX, trong công cuộc đấu
tranh chống kẻ thù phát xít, đế quốc, nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa đã
tìm thấy ở văn học một thứ khí giới tinh thần hữu hiệu để sử dụng. Bước lên
vũ đài chính trị thế giới, giai cấp vô sản phải xây dựng một ý thức hệ cho
mình và do vậy cũng cần xây dựng nền văn học nghệ thuật của riêng m
ình.
Nền văn học ấy có những nguyên tắc riêng của mình trong cách phản ánh
hiện thực. Đó là cách tái hiện một cuộc sống cụ thể, lịch sử, cách mạng,
nghĩa là nó phải như cuộc sống vốn có đồng thời lại luôn hướng về tương lai.
Bằng văn học và qua văn học, nhà văn phải hướng đến việc cải tạo hiện thực, con người, điều này đồng nghĩa với việc văn học phải coi chức năng quan
trọng nhất của nó là nhận thức và giáo dục. Nói chung thì, CNHT XHCN,
với tư cách là phương pháp sáng tác chủ yếu ở các nước xã hội chủ nghĩa, đã
đặt ra nguyên tắc đối với văn học nghệ thuật các nước này là: văn học – nghệ
thuật không chỉ nhận thức thực tại, nhận thức cuộc sống m
à còn góp phần cải
tạo xã hội, cải tạo con người.
Viết về bất kì đề tài nào, xây dựng nhân vật ra sao thì nhà văn cũng phải
xuất phát từ những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của cách mạng. Tư cách
nhà văn đồng hành cùng tư cách người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn
nghệ. Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, vì thế, là

như một hệ thống chính trị sừng sững. Có những giáo điều, cứng nhắc t
rong
việc chính trị hóa văn học đã bị phủ nhận trong một thời gian dài chính là để
người thưởng thức văn học nhận chân những giá trị, để đời sống văn học nhân
loại phong phú hơn, đa sắc hơn và ngày một mới mẻ hơn. Nhận xét như nhà
nghiên cứu Phong Lê sau đây thể hiện sự suy nghĩ đúng đắn hơn cả về một
phương pháp đã một thời là quan trọng nhất của văn hóa, văn học nhân loại:
“Nếu xét t
rên tổng thể lịch sử và hành trình chung của nhân loại thì văn học
xã hội chủ nghĩa hoặc văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa quả có những điểm
mới, khác, mang giá trị cách tân ở thời kỳ đầu the
o quy luật chung của sự
phát triển nghệ thuật…”; “Hiện thực xã hội chủ nghĩa thế kỉ XX, đúng như tên
gọi của nó, là sản phẩm trực tiếp của cách mạng vô sản và công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội, để trở thành tiếng nói đại diện và chín
h thống của một
hệ thống chính trị – thay vì là sự tiếp tục trong nguồn mạch lịch sử chính bản
thân sự phát triển tự nhiên của ý thức nghệ thuật” [85].
Trong khả năng và nhiệm vụ đặt ra cho mình, văn học HT XHCN đã
hướng đến những giá trị tốt đẹp của con người và cuộc sống. Ở đó văn học đã
“coi việc đấu t
ranh nhằm khẳng định bằng nghệ thuật những cái mới, tích
cực, tiên tiến, tốt đẹp trong cuộc sống là nhiệm vụ chủ yếu […] đồng thời
không xem nhẹ việc mô tả những cái tiêu cực, lạc hậu, xấu xa nhằm mục đích
xóa bỏ chúng” [27, tr.81]. Như vậy, ý nghĩa mà văn học HT XHCN hướng đến đã mang lại cho con người niềm mơ ước tốt đẹp là không thể chối bỏ.
Trong lịch sử văn học, từ khi văn học chưa thành văn đến lúc bắt đầu có chữ
viết để sáng tác và bắt đầu khẳng định vị trí của nó trong đời sống tinh thần

những sáng tác của M.Goócki đã cổ vũ một cách mạnh mẽ tinh thần của giai
cấp đang lên (mà nhiều người vẫn nhắc đến tác phẩm Người mẹ của ông).
Con chim ưng đầu đàn ấy đã sản sinh một loạt những tác phẩm viết về những
con người tiên tiến của thời đại, về những điều đang sẽ trở t
hành hiện thực
trên một đất nước đấu tranh cho hòa bình và tiến bộ của loài người. Và cũng
chính M. Goócki đã được xem như là người có công đầu đối với nền văn học
vô sản Xô-viết. Nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở nước Nga – Xô-viết
đã ra đời trong cuộc bão táp cách mạng tháng 10 (lịch cũ của Nga) năm 1917.
Như trên đã nói, sau khi Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô-viết
được thành lập (1922), với mục tiêu thống nhất các tổ chức văn nghệ t
hành
một cơ quan duy nhất trên toàn liên bang đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản, nhằm “đưa các nhà văn có xu hướng nghệ thuật và trình độ chính trị
khác nhau đi vào đại lộ của nền văn học Xô viết là chủ nghĩa hiện thực xã hội
chủ nghĩa” [38, tr.92], Đại hội Hội nhà văn Liên Xô được tiến hành vào năm
1934. Ở đó, điều lệ của Hội đã xác định chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa
là phương pháp sáng tác chủ đạo trong văn học Xô viết. Từ đó, văn học vô
sản Nga đã phát huy vai trò của một nền văn học xã hội chủ nghĩa mới mẻ
nhưng đầy xung kíc
h đối với văn học thế giới trong mục tiêu đấu tranh cho
thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Nhà văn Xô-viết, để dự một phần lớn vào
“cuộc tái sinh màu nhiệm” trong văn học và trong cuộc sống, nhất thiết phải
trở thành và phải thực sự là nhà văn – chiến sĩ. Đó là đòi hỏi của đất nước, và
dường như, cả đối với nhà văn. Nhà văn và nền văn học ấy buộc phải chuyển
m
ình, phải vào cuộc, đáp ứng những đòi hỏi cấp thời.
Với vai trò là người anh cả trong cộng đồng thế giới mới lúc bấy giờ,
văn học Nga – Xô-viết đã đi đầu bằng các tác phẩm có sức lôi kéo hàng triệu
con người trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung ở những năm nửa đầu thế

Văn học bị chính trị hóa, vì thế mà, nó đã trở nên cực đoan, đã bỏ qua những
tên tuổi và những tác phẩm xứng đáng, tất cả đã vượt ra khỏi biên giới một
nước (chẳng hạn trường hợp Paxtécnắc). Nhưng đặt ra vấn đề bác bỏ văn học
Xô viết một thời cũng là điều cần phải được xem xét thấu đáo. Thiết nghĩ chỉ nên thừa nhận rằng văn học Nga thế kỉ XX không chỉ có văn học thời Xô-viết
và không nên xem văn học Xô-viết là đỉnh cao của văn học Nga thế kỉ XX.
Những phát hiện mới khác về các tác phẩm văn học Nga thế kỉ XX sẽ giúp
sáng tỏ vấn đề trên. Thực tế đã chứng minh được rằng văn học của những giai
đoạn tiếp theo luôn được tiếp mạch từ các gi
ai đoạn trước nó, xét theo tinh
thần biện chứng thì “cái mới không ra đời từ hư vô”. Văn học Xô-viết, vì thế,
cũng đã có sự chuẩn bị từ những thế kỉ trước nó, từ quá khứ rực rỡ của văn
học nước nhà, đồng thời nó đã để lại những kinh nghiệm quý báu cho sự vận
động của văn học các giai đoạn sau.
Ngược trở lại thời kì văn học xã hội chủ nghĩa, đánh giá vai trò của nó
một cách công tâm, chúng ta thấy ý kiến sau đây của Thúy Toàn khá xác
đáng: “[...]
nền văn học ấy tràn đầy niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng
của loài người; nó thấm nhuần tư tưởng chống đế quốc, chống phát-xít,
chống mọi áp bức bốc lột; nó khẳng định tình hữu nghị giữa các dân tộc, tình
đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản và những người lao động…” [73, tr.67]
.
Chính tính đảng và tính nhân dân trong đề xuất của Lênin đối với các tác
phẩm hiện thực xã hội chủ nghĩa đã mang đến cho văn học lúc bấy giờ tinh
thần mà Thúy Toàn đã nêu ra. Đọc lại các tác phẩm của M. Goócki,
Sôlôkhốp, Phađêép, N. Ốxtơrốpxki,… chắc hẳn độc giả sẽ đồng tình với quan
điểm t
rên.

luôn có một phương pháp sáng tác giữ vai trò trọng yếu. Trước Cách mạng
tháng Tám 1945, chúng ta tiếp xúc với văn hóa Pháp trong tinh thần không
hoàn toàn tự nguyện, dù vậy trong văn học ta đã đạt được những đỉnh cao với
các tác phẩm t
huộc chủ nghĩa hiện thực phê phán. Sau năm 1945, với tư cách
là một quốc gia độc lập và sẵn sàng đương đầu với bất kì những trở lực bất
nghĩa nào là rào cản đối với con đường khẳng định quyền tự do và độc lập của
dân tộc, chúng ta cũng khẳng định sự lựa chọn của mình trong những bước đi
của nền văn hóa mới. Sau Thế chiến II, nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam
,
thoát khỏi ách thuộc địa, đã chọn con đường của CNXH, và văn học Việt Nam lựa chọn con đường của văn hoá Nga – Xô-viết. Đây là một sự lựa chọn
không vì bị khuất phục bằng vũ lực hay vật chất mà là vì sự chinh phục của tư
duy khoa học, của ánh sáng nhân văn. Đi theo con đường XHCN là tin ở
những gì tai nghe mắt thấy, ở thành quả thực tiễn ở Liên Xô. Thành tựu của
hơn 20 năm xây dựng xã hội mới ở Liên Xô đã khích lệ Việt Nam tin vào một
tương lai tốt đẹp, tương lai của những chủ nhân mới đất nước là người lao
động. Nguyễn Khải lí giải: “Học thuyết Mác-xít vốn xa lạ với người nông dân
Việt Nam, nhưng tác động của nó tới đông đảo quần chúng thật mãnh liệt và

tức thì. Lần đầu tiên một học thuyết nổi danh dám suy tôn những người thất
học và bần cùng là nhân vật chính của lịch sử hiện đại, là chủ nhân ông đích
thực của đất nước họ trong hiện tại
và trong tương lai. Rằng họ có sức mạnh
dời non lấp biển, có thể đánh bại mọi kẻ xâm lược và kiến tạo một xã hội
công bằng nhất trong lịch sử loài người” [32, tr.64].
Đề cương văn hóa của Trường Chinh ra đời năm 1943 rồi sau đó là Chủ
nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam năm

điểm của Trường Chinh mà chúng tôi đã nêu. Ngay sau Cách mạng tháng
Tám, văn học Việt Nam đã xác định cho mình một hướng đi. Điều này khác
với quá trình ta đương đầu với phương Tây, với Pháp trong những năm cuối
thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, ngày
ấy ta không có sự lựa chọn.
Tiếp tục cuộc đánh trả đế quốc Pháp mưu đồ thôn tính nước ta lần nữa,
văn học nghệ thuật dự một phần trong công cuộc thử thách cam go ấy. Chúng
ta nhận thấy ở người bạn lớn Liên Xô một nền học thuật cần cho mình, ta tiếp
nhận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như một phương pháp sáng t
ác tốt
nhất lúc này. Ta cảm thấy mình là một bộ phận của cuộc đấu tranh chung của
nhân loại, cùng đi trên con đường lớn của nền văn hóa tiến bộ của loài người,
khác với kiểu văn hóa phản động, ru ngủ mà ta ngộ ra lúc này, ta thấy cần
phải có cuộc “lột vỏ”, cuộc “nhận đường” (đương nhiên là với cái buổi đầu
còn bỡ ngỡ ấy, ta tự thấy văn học hiện thực x
ã hội chủ nghĩa mà Liên Xô khởi
xướng là ánh sáng duy nhất tỏ lối cho ta trong cuộc dò tìm con đường mới).
Ngày trước ta đã tìm đến Cách mạng tháng Mười như đi về phía mặt trời thì
lúc này văn học ta cũng tự nhận mình cùng chiến tuyến với văn học được sản sinh từ Cách mạng tháng Mười. Bằng thực tế các tác phẩm (đặc biệt là từ năm
1948 trở đi), từ sau Đôi mắt của Nam Cao, văn học Việt Nam đã đi vào quỹ
đạo của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa mà hai đề tài xuyên suốt là chiến
đấu và lao động trở thành những trăn trở không nguôi nghỉ đối với người
nghệ sĩ. N
guyễn Đình Thi đã từng bộc bạch trong Nhận đường: “Làm thế nào
để chúng ta hiểu được tâm hồn những lớp nhân dân đông đảo đang chiến
đấu, làm thế nào sống được những tình cảm ý nghĩ của những lớp người xưa
nay cách hẳn ta, làm thế nào để trở thành những con người của tầng lớp khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status