ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HUYỀN
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƢỞNG
CỦA NÓ ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG NHÂN CÁCH
CON NGƢỜI VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : GS.TS Nguyễn Hùng Hậu HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của GS.TS NGUYỄN HÙNG HẬU. Nội dung và các
trích dẫn nêu trong luận văn có xuất xứ rõ ràng và trung thực. Những kết
luận trong luận văn chưa từng công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
cách con người Việt Nam hiện nay 97 2.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế
ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Phật giáo đến việc xây dựng nhân cách con
người Việt Nam 102
2.2.1. Tiếp tục phát huy tinh hoa đạo đức Phật giáo để xây dựng tinh thần
nhân ái, bao dung và lòng hướng thiện 103
2.2.2. Nâng cao tinh thần nhập thế, tinh thần bác ái, cứu khổ cứu nạn của các
tăng ni phật tử 104
2.2.3. Tuyên truyền giáo dục làm đổi mới nhận thức về vai trò của Phật giáo
và đạo đức Phật giáo đối với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam
hiện nay 106
2.2.4. Kiên quyết đấu tranh chống những lực lượng thù địch lợi dụng Phật
giáo và đạo đức Phật giáo để gây rối trật tự an ninh, chống phá sự nghiêp
cách mạng nước nhà 110
2.2.5. Xây dựng đời sống tinh thần phong phú trên cơ sở nâng cao đời sống
vật chất cho nhân dân 112
2.2.6. Tăng cường công tác quản lý của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động
và tổ chức của Phật giáo nói riêng, tôn giáo nói chung 117
KẾT LUẬN 124
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 126 DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
loạt những hiện tượng đau lòng diễn ra trong xã hội gần đây khiến cho chúng
ta không thể làm ngơ.
Trước thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính
sách và những chế tài cụ thể để quản lý và kiểm soát về sự tha hóa, biến chất
về nhân cách đạo đức của một bộ phận không nhỏ những người trong xã hội
trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. Đồng thời những ngành khoa học
nhân văn, các nhà nghiên cứu triết học, xã hội học, nhà văn, nhà báo, nhà biên
kịch, đạo diễn phim với những công trình nghiên cứu và các tác phẩm xuất
sắc đã phản ánh, lột tả chân thực được sự biến đổi của lối sống nhân cách con
2
người Việt Nam trong thời đại mới và cũng đã đề cập đến những ý kiến giải
pháp độc đáo nhằm phát triển những chuẩn mực tốt đẹp của nhân cách truyền
thống và phương hướng xây dựng nhân cách con người trong giai đoạn có
nhiều yếu tố đan xen, biến đổi…
Có thể nói sự xuống cấp về đạo đức đang trở thành một vấn nạn của
toàn xã hội. Trước yêu cầu phát triển của đất nước, sự cần thiết là làm thế nào
để con người Việt Nam đáp ứng được yêu cầu hết sức nặng nề mà vẻ vang đặt
lên vai họ, làm thế nào để họ có thể tự khẳng định, tự định hướng giá trị nhân
cách trong đời sống kinh tế thị trường, trở thành lực lượng sản xuất hiện đại,
vững vàng trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay đã đặt ra.
Như vậy, có thể thấy vấn đề xây dựng nhân cách mới con người Việt
Nam hiện nay nằm trong chiến lược phát triển con người nhằm đáp ứng được
sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ
phương hướng nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ mới:
“Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí
tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái,
khoan dung, tôn trọng tình nghĩa, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong
gia đình, cộng đồng và toàn xã hội” [17, tr. 5. ].
giá trị tư tưởng của Phật giáo với tư tưởng của con người Việt Nam. Đặc biệt
là cuốn “Phật học phổ thông” của Hòa thượng Thích Thiện Hoa (Giáo hội
Phật giáo Việt Nam) do Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh ấn hành
năm 1992, trong đó đề cập đến những vấn đề rất cần thiết mà mọi Phật tử cần
biết trong bước đầu mới nhập đạo, về lịch sử Phật giáo bắt đầu từ nguồn gốc
Ấn Độ đến cuộc phát triển sang Trung Hoa, rồi đến sự du nhập vào Việt Nam,
về Kinh Luận… Đến tác phẩm “Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam”, của
4
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002. Ở
đây tác giả chủ yếu khái quát những nét cơ bản về quá trình du nhập cũng như
ảnh hưởng của Phật giáo với dân tộc Việt Nam…
Phật giáo là tôn giáo giải thoát cho nên đạo đức Phật giáo là một vấn đề
đặt ra sâu và rộng do nó có vai trò và ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống
văn hóa xã hội và con người. Từ trước đến nay có nhiều công trình nghiên
cứu của các nhà khoa học đã và đang đề cập đến. Tiêu biểu là cuốn “Đạo đức
học Phật giáo” do Hòa thượng Tiến sĩ Thích Minh Châu giới thiệu và Viện
nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành năm 1995 là những bài tham luận của
nhiều tác giả. Nội dung cuốn sách này, các tác giả đã nêu lên những cơ sở và
nhiều phạm trù đạo đức Phật giáo, đồng thời phân tích làm rõ nội dung của nó
như giới, hạnh, thiện, ác, từ bi, hỷ xả … Tác giả Đặng Thị Lan với công trình
“Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam” đã bàn đến những vấn
đề trọng tâm của đạo đức Phật giáo và vai trò ảnh hưởng của đạo đức Phật
giáo đối với việc xây dựng nền đạo đức trong xã hội, cùng với những giải
pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đạo đức
Phật giáo
Và trong nhiều tác phẩm, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học, luận
án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã bảo vệ và công bố thì vấn đề nhân cách nói
chung và nhân cách con người Việt Nam nói riêng cũng là đề tài thu hút được
nhiều sự quan tâm của tác giả. Có thể kể đến nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu
cái nhìn khá toàn diện về lịch sử Phật giáo và ảnh hưởng của đạo đức Phật
giáo trong đời sống xã hội. Tuy nhiên ở từng góc độ tiếp cận, mục đích
nghiên cứu nên các tác giả đã chỉ đề cập đến góc độ và có hướng đi riêng
để đạt mục đích mà công trình mình nghiên cứu mà thôi. Từ đây, tác giả
luận văn đã kế thừa được nhiều cách đánh giá, phân tích khác nhau về
6
Phật giáo và ảnh hưởng đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội, cũng
như cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu về ảnh hưởng của đạo đức
Phật giáo đến đạo đức nhân cách con người.
Qua việc tham khảo các đề tài trên, tác giả nhận thấy đạo đức Phật giáo
mặc dù là một nội dung khá hấp dẫn và được đề cập đến ở rất nhiều các đề tài
nghiên cứu Phật giáo, xong chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt
nào về đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến việc xây dựng nhân cách
con người Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc thành tựu
nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tác giả luận văn đi vào tìm hiểu vai
trò của đạo đức Phật giáo từ góc độ triết học, tôn giáo nói chung và đặc biệt là
ảnh hưởng của nó đến việc xây dựng nhân cách của con người Việt Nam hiện
nay với mong muốn đưa ra một số đánh giá, gợi mở về sự ảnh hưởng đạo đức
Phật giáo đến việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện đại.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến việc
xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là những nội dung và giá trị cơ bản của đạo đức
Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến việc xây dựng nhân cách con người Việt
Nam tư 1990 đến nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu
Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn có kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết.
8
Chƣơng 1: ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
1.1. Cơ sở hnh thành và vai trò của đạo đức Phật giáo trong Phật giáo
1.1.1. Vài nét về Phật giáo
Phật giáo là một trào lưu tư tưởng lớn ở Ấn Độ cổ đại. Xuất hiện vào
thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, Phật giáo đã nhanh chóng phổ biến và trở
thành một quốc giáo ở Ấn Độ, sau đó được truyền bá và lan tỏa sang các nước
lân cận và khu vực. Trải qua những thăng trầm lịch sử, ngày nay Phật giáo trở
thành một tôn giáo lớn của thế giới và đã đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời
sống văn hóa tinh thần của nhiều dân tộc phương Đông. Với mục đích nhằm
giải phóng con người khỏi mọi đau khổ bằng chính cuộc sống đức độ của con
người, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin đông đảo
quần chúng lao động. Nó trở thành biểu tượng của lòng từ bi, bác ái trong đạo
đức truyền thống của các dân tộc Châu Á.
Sự xuất hiện tư tưởng Phật giáo gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, kinh tế,
chính trị - xã hội của Ấn Độ cổ đại.
Thời kỳ bấy giờ Ấn Độ là một trong những quốc gia có nền văn hóa
văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất trên thế giới. Chủ nhân của nền văn minh
Ấn Độ cổ đại là người bản địa Đravida và người Aryan Châu Âu nhập cư.
Quá trình hỗn dung về dòng máu và văn hóa đã tạo điều kiện cho việc xây
dựng nơi đây thành một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa phát triển của thế
giới thời cổ đại. Khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, chế độ nô lệ kiểu
phương Đông đã phát triển với sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt và nhà nước
quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền là sở hữu tối cao về ruộng đất và
vụ nộp thuế.
10
- Thủ - đà – la (Shudra): là nô lệ bao gồm tù binh, những người ở tầng
lớp trên bị phá sản … có nghĩa vụ phục tùng các đẳng cấp trên, chịu mọi cực
khổ và hoàn toàn lệ thuộc vào các đẳng cấp trên.
Sự phân chia đẳng cấp thể hiện ở nhiều mặt, không chỉ về quyền lợi,
địa vị chính trị, kinh tế, xã hội mà cả trong quan hệ giao tiếp, đi lại, sinh hoạt
tôn giáo, ăn mặc…Chế độ phân chia đẳng cấp một cách khắc nghiệt được
phản ánh trong các quy phạm của xã hội nhằm đề cao các tầng lớp trên và hợp
thức hóa quyền được bóc lột của họ.
Tình hình trên đã làm cho tầng lớp đa số trong xã hội – những người
Thủ - đà – la càng oán ghét chế độ bóc lột, oán ghét chế phân chia đẳng cấp
và tất yếu dẫn đến sự phản kháng của quần chúng lao động đòi hỏi một sự tự
do, công bằng xã hội. Đây chính là nhu cầu của hiện thực lịch sử làm xuất
hiện các trường phái tư tưởng mới ở Ấn Độ trong thời kỳ này. Phật giáo xuất
hiện như là sự đáp ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội, một mặt nó phản
ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của nhân dân Ấn Độ, mặt khác nó phản
kháng chế độ đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất bình đẳng giữa
con người. Nó công khai chống lại giáo lý truyền thống của kinh Vê – đa và
đạo Bà – la – môn, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính
con người.
Phật giáo ra đời ngoài những tiền đề về kinh tế, xã hội và tư tưởng
như trên, nó còn gắn với vai trò của Đức Phật Thích Ca và những người kế
tục ông.
Theo truyền thuyết người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Cồ Đàm Tất
Đạt Đa (Gautama Siddhartha) con vua Tịnh Phạn (Shuddhodana) và hoàng
hậu Ma đa, họ Thích Ca trị vì nước nhỏ là Ca - tỳ - la - vệ (Kapilavastu) (nay
thuộc Nêpan) sinh ngày 15 – 4 (có tài liệu ghi ngày 8 – 4) năm 524 trước
Công nguyên.
12
Ngài lại càng buồn rầu khi thấy chỉ có mình Ngài cảm biết nỗi đau khổ
ấy, còn biết bao nhiêu người vẫn sống mê man, tranh đua, áp chế, cướp giết
lẫn nhau, gây thêm cho nhau bao nhiêu là cảnh khổ não thương tâm, người
đời vẫn triền miên sống trong vòng tội lỗi tối tăm, trong cảnh khổ không bờ
bến mà không hề tự biết? Khi đó Đức Phật mới nhóm trong tâm một lý tưởng:
“Phải tìm lấy chân lý đủ cứu vớt chúng sinh ra ngoài bể khổ”. Từ đó Ngài cố
tìm trong kinh điển, trong đạo lý để mong tìm thấy một chân lý mà giải luận
cuộc nhân sinh.
Năm 16 tuổi, Ngài vâng lời vua cha cưới 3 vị phu nhân La - gia
(Gapika), Gia – du – đà - la (Yasodhara), Lộc - giả (Urganika). Bà Gia – du –
đà - la sinh được một con trai lấy tên là La - hầu - la. Dù có đầy đủ hạnh phúc,
nhưng ngài muốn tìm đến thứ hạnh phúc siêu việt hơn.
Năm 19 tuổi, khi khát vọng lên đến cực độ, Ngài quyết bỏ vợ con, bỏ
cuộc đời vinh hoa phú quý, vào hang núi chịu đói rét, tu khổ hạnh để mong
tìm nghĩ được một phương pháp gì cứu loài người ra khỏi vòng khổ ải và bầy
cảnh cực lạc trên thế gian. Trong mấy năm ấy, Ngài đi tìm hỏi mấy vị đạo sĩ
có danh tiếng, nhưng Ngài thấy triết lý của vị nào cũng không được siêu thoát
lắm. Ngài liền vào ẩn trong dãy Tuyết Sơn (tức là núi Già – xà - gaya, trong
sách Phật ngày sau gọi là Khổ hạnh lâm) để tu tập thiền định. Trong 6 năm
trời tu khổ hạnh, nhưng Ngài không thấy chứng được đạo quả gì. Ngài mới đi
đến núi Tượng Đầu (Gajasirsa) bên sông Ni – liên - thuyền tắm rửa xong,
Ngài thọ bát sữa của mấy nàng mục nữ cúng, rồi Ngài ở đó một mình thiền
định và thề rằng: "Ta ngồi ở đây nếu không chứng được đạo quả, thì dù có tan
nát thân này, ta quyết không bao giờ đứng dậy”. Dưới gốc cây Tất – bát - la
(Pippala), Ngài ngồi định tâm, vừa định tâm 48 ngày thì, một hôm, khi sao
mai vừa mọc, Ngài bỗng thấy trong tâm sáng suốt, rõ thấy chân lý của vũ trụ
và nguồn gốc sanh tử của chúng sinh: Ngài đã thành Phật. Bấy giờ Ngài vừa
13
Triều Tiên, Bắc Việt Nam… gọi là phái Đại thừa.
Ngày nay, Phật giáo có mặt ở nhiều nước trên thế giới và phát triển chủ
yếu ở Châu Á, với số lượng tín đồ khoảng 400 triệu.
1.1.2. Cơ sở hình thành đạo đức Phật giáo
Không phải ngẫu nhiên ngày nay Phật giáo được nhân loại tôn vinh là
một trong những tôn giáo có một triết lý sống nhân văn và thiết thực nhất. Cụ
thể, đạo Phật là tôn giáo xuất phát từ hiện thực con người và vì con người,
nhằm hướng con người đi đến hạnh phúc an lạc.
Sở dĩ được tôn vinh như vậy là do toàn bộ giáo lý của Đức Phật thể hiện
một nếp sống đạo đức có những đặc trưng riêng, nổi bật mà khi chúng ta trải
nghiệm sẽ nhận thức được các giá trị hạnh phúc.
Qua thuyết pháp độ sanh của Đức Phật, đạo đức Phật giáo là một nếp
sống đem lại hạnh phúc cho con người, đề cao giá trị con người, một nếp sống
trong sạch thanh tịnh, lành mạnh, loại bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các
thiện pháp, một nếp sống đi đôi với lạc, không đi đôi với khổ, giải thoát các
triền phược, các dục trưởng dưỡng, một nếp sống trong ấy trí tuệ đóng vai trò
then chốt, sống hài hòa với thiên nhiên, với con người, một nếp sống vô ngã
vị tha.
Đạo đức Phật giáo - với những giới luật (nguyên tắc trong cuộc sống
cao đẹp) mang tính chất quy luật đặc thù (thập nhị nhân duyên, biến chuyển
theo vòng lưu chuyển và hoàn diệt), trong thực tế vẫn nằm trong Định luật
chung (lý duyên khởi) - trong cùng hệ thống cơ cấu xây dựng trên nền tảng lý
luận của một phương pháp luận đúng đắn, liên kết nhiều mặt quy luật tự
nhiên, xã hội, tư duy, hợp nhất thành một nguồn trí tuệ sáng suốt, hướng dẫn
con người trong mọi hoạt động nhận thức cũng như trong mọi hoạt động thực
15
tiễn, giải quyết tốt nhất những vấn đề cần thiết trong cuộc sống giữa thiên
nhiên và xã hội.
Phật giáo thiết lập đạo đức không phải dựa trên cơ sở trái tim hay nhiều
Theo giáo lí Duyên Khởi, vạn pháp do duyên sinh, mọi sự vật hiện tượng
liên kết, nương tựa, tác động qua lại lẫn nhau mà tồn tại và phát triển. Nguyên
lí trên được Đức Phật nói rõ qua bốn câu kệ trong Kinh Tiểu Bộ:
Do cái này có mặt nên cái kia có mặt / Do cái này không có mặt nên cái
kia không có mặt / Do cái này sinh nên cái kia sinh / Do cái này diệt nên cái
kia diệt.
Như vậy, Phật giáo đã chỉ ra mối liên hệ chằng chịt lẫn nhau giữa các sự
vật, hiện tượng. Trên thế giới này càng không có cái vật gì tồn tại độc lập
tuyệt đối, tất cả mọi cái đều phải nương tựa vào nhau, đều có nguyên nhân –
nhân kết hợp với duyên thì sinh ra quả (nhân – duyên – quả), quả lại kết hợp
với duyên biến thành nhân và sinh ra quả khác…cứ thế, sự vật vận động
không ngừng, bất tận…
Từ cách nhìn nhận đó, Phật cho rằng, thế giới này do hai yếu tố cơ bản là
danh và sắc (yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần) tạo thành, nó chính là vật và
tâm, vật chất và ý thức. Theo thuyết “Chư pháp nhân duyên sinh” thì hai cái
này liên hệ mật thiết khăng khít với nhau, không tách rời nhau, không có cái
này thì cũng không có cái kia và ngược lại. Cụ thể tức là không có vật thì
cũng không có tâm, sở dĩ có vật là do có tâm, không có tâm thì vật là gì thì
cũng không ai biết…Còn bản thân con người là do 5 yếu tố tạo nên (gọi là
ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức).
Tóm lại, thế giới quan Phật giáo cho rằng, vũ trụ là vô thủy, vô chung;
vạn vật trong thế giới chỉ là dòng biến hóa vô thường, vô định không do một
vị thần nào tạo nên cả; tất cả đều biến đổi theo luật nhân quả, theo quá trình
17
sinh, trụ, dị, diệt và chỉ có sự biến hóa này là thường hữu. Vì không nhận thức
được sự biến ảo vô thường đó nên người ta nhầm tưởng là cái tôi tồn tại mãi
mãi, cái gì cũng là của ta nên con người khát ái tham dục, hành động chiếm
đoạt nhằm thỏa mãn những ham muốn, dục vọng đó tạo ra những kết quả, gây
nên nghiệp báo (karma), mắc vào bể khổ triền miên (sam – sara) tức là mắc
Ba loại khổ (Tam khổ) là: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
Khổ khổ: Muốn nói tới cái khổ chồng chất nối tiếp cái khổ. Mỗi chúng
sinh là nạn nhân của bao cái khổ. Cái khổ có ở ngay thể xác như bệnh tật
hiểm nghèo lại có cái khổ khác bên ngoài thể xác như thiên tai, chiến
tranh Tất cả những cái khổ đó liên tiếp dồn dập đến với con người.
Hoại khổ: Do sự thay đổi tạo nên tuân theo luật vô thường - không có cái
vĩnh hằng. Ca dao có câu "nước chảy đá mòn", để nói một sự vật vững chắc,
cứng rắn như đá nhưng cùng với thời gian chịu tác động của ngoại cảnh cũng
phải thay đổi rồi bị hủy diệt tan biến. Con người cũng vậy, không thể nằm
ngoài quy luật chung đó.
Hành khổ: Những nỗi khổ về tinh thần con người, do không làm chủ
được mình bị lôi kéo vào những dục vọng làm cho tâm bị dằn vặt sinh ra buồn
vui, giận hờn, yêu ghét
Tám thứ khổ (Bát khổ): Đức phật tóm tắt thành tám thứ khổ trong cuộc đời
của một con người gồm: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất
đắc, thụ ngũ uẩn khổ. Tám thứ khổ này là sự cụ thể hóa, tỉ mỉ hơn về các nỗi khổ
của chúng sinh ở trần thế, song nội dung thì được bao hàm bởi ba khổ trên.
Sinh khổ, con người khi sinh ra đã cất tiếng khóc chào đời, trước đó còn
ở trong bụng mẹ thì chật chội tăm tối; người mẹ mang thai con thì vất vả mệt
nhọc, kém ăn, mất ngủ, chịu bao cái khác thường so với người khác.
19
Trong cuộc sống hàng ngày, con người muốn tồn tại được thì trước hết
phải ăn, uống, mặc ở, sinh hoạt, đi lại Muốn vậy, con người phải lao động
hết sức vất vả, cực khổ, tất bật trong công việc. Đó là về mặt vật chất, còn
những nỗi khổ về tinh thần dày vò con người cũng không kém nỗi khổ về vật
chất, nó làm con người suy kiệt, ốm yếu, Lão khổ, con người đến lúc già,
tuổi cao, thân thể hao mòn già yếu các giác quan, hoạt động kém, mắt mờ,
chân chậm, tai điếc dễ sinh bệnh gây đau ốm cho người bệnh và người thân
xung quanh.