Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt Nam - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG THỊ LAN
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỎNG CỦA NÓ
■ ■
ĐẾN ĐẠO ĐỨC CON NGƯÒI VIỆT NAM
■ •
Chuyên ngành : Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duv vật lịch sử
Mã sô : 5.01.02
LUẬN ÁN TIẾN Sĩ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HOC
ÍỈS.TS. NGLYỄN H ĩ r VI I
HÀ NÒI - 2004
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi. Các sô liệu
nêu trong luận án là trun g thực. N h ữ n g k ế t luận kh o a học của luận
án chưa từng được ai công bô' trong bất kỳ cô ng trình nào khác.
Tác giả luận án
NHŨNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1. Chủ nghĩa xã hội :
CNXH
2. Xã hội chủ nghĩa :
XHCN
3. Chủ nghĩa duy vật biện chứne : CNDVBC
4. Chủ nghĩa duy vật lịch sử : CNDVLS
5. Nhà xuất bản :
Nxb
6. Thành phố :
TP
MỤC LỤC

2.2.3. Đạo đức Phật siáo với dạo đức. lối sống của ngưừi dân Việt Nam.^f 102
2.3. Đạo đức Phật giáo với việc xâv dựng và hoàn thiện đạo đức con
người Việt Nam hiện n a y 11 i
2.3.1. Vài nét về thưc trạne đao đức ở nước ta hiòn nay và yêu cáu của
* ■ c r . . J J
việc xây dựng nền đạo đức mới
111
2.3.2. Ảnh hường của đạo đức Phãt i’iáo đốn vice hình thành ý ihức
đạo đức của con người Việt Nam hiện nay 11 1*5
2.3.3. Anh hưởng của đạo đức Phàt giáo đến vièc điều chính hanh vi
đạo đức của con ngưừi Việt Nam hiên nay

Chương 3. Một sô giải pháp nhàm phát huy những mặt tích cực và
hạn chẽ những mạt tiêu cực của đạo đức Phật giáo 149
3.1. Xu hướng phát triển của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay và những
biến đổi của đạo đức Phật giáo 149
3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế
X
những mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo dối với việc xây dựng
đạo đức con người Việt Nam hiện n a y 163
KẾT LUẬN 187
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và phát triển kinh tế thị trường hiện nay, đất
nước ta đang có những bước chuyển mình quan trọng. Chúng ta đã đạt được
những thành tựu to lớn về kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao đời sống về
vật chất và tinh thần cho nhân dân. Song cũng phải thừa nhận rằng chúng ta

một bộ phận nhân dân, nó còn tồn tại lâu dài và chi phối đời sống tinh thần văn
hoá của một bộ phận dân chúng, trong đó có những giá trị đạo đức phù hợp với
lợi ích của toàn dân, với công cuộc xã hội mới" [2, 67], Gần đây trong Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảns; ta tiếp tục khẳng định: "Tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân" cần "phát huy những
giá trị tốt đẹp về vãn hoá, đạo đức của tôn giáo". [19, 128]
Hiện nay, Phật giáo nói chung và những tư tưởng đạo đức Phật giáo nói
riêng vẫn đang tiếp tục ảnh hưởns đến con người Việt Nam. Một bộ phận dân
cư ngoài việc tin vào sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vãn minh, còn tin vào một tôn giáo nào
đó, trong đó có Phật giáo. Họ lấy niềm tin tôn giáo làm một trong nhữrm lẽ
sống của mình, lấy đạo đức tôn giáo làm một trong nhữns; chỗ dựa để điều
chính hành vi, xử lý các mối quan hệ eiữa cá nhãn với cá nhãn, giữa cá nhãn
với xã hội.
Vì vậy, việc tìm hiểu đạo đức Phật yiáo va nhừntỉ ảnh hưởní} của nó đốn
đạo đức con nsười Việt Nam hiện nay là một van đề cấp thiết khỏnẹ nhữnư; về
mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn. Với một bè dày [Ịch sư và co ánh hướne
sâu rộng trong quân chúns, đạo đức Phật giao đã qia nhập như một Vcu tố của
truyền thônỵ đạo đức dân tộc. Mặc dù còn có những yêu tố tiêu cực soniT
những giá trị, những quan niệm và chuán mực đạo đức mà Phật giáo dật ra
cũng chứa đựng không ít những nhân tố có giá trị. Biết tận dụng, kế thừa, phát
huy những yếu tố tích cực đó là một trong những yếu tố góp phần xây dựng và
phát triển đời sống đạo đức lành mạnh trong xã hội ta hiện nay.
Vì những lý do trên đây, tôi chọn vấn đề "Ảnh hưởng của đạo đức Phật
giáo đến đạo đức con người Việt N am ' làm đề tài luận án của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Đạo Phật là tồn giáo đã có quá trình tồn tại cùng dân tộc gần 2000 năm.
Nghiên cứu đạo Phật từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và giới lý
luận. Cho đến nay, ở nước ta đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu đạo
Phật dưới những góc độ khác nhau. Có thể tóm lược thành những hướng

chỉ ra những mặt tích cực và những hạn chế của nó, đồng thời làm rõ sự ảnh
hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam trong lịch sử
cũng như trong hiện tại. Qua đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy những
mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo trong quá
trình xây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay.
- Nhiệm vụ:
+ Phân tích những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức tôn giáo nói chung và đạo đức Phật giáo nói riêng. Trình
bày những nội dung chủ yếu cúa đạo đức Phật ơiáo.
+ Phân tích sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức truyền thống
dân tộc và đến việc xây dựng, hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay.
+ Nêu ra một số giải pháp nhằm phát huy nhừnơ mặt tích cực và hạn chế
nhữnơ mặt tiêu cực của đạo đức Phật ỵiáo.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trune; nghiên cứu những si áo lý. ui ới luật
căn bản của Phật giáo mà qua đó thổ hiện nội dunii đạo đức: sự ánh hưứrm, Sỉiao
thoa giữa đao đức Phât eiáo và đao đức truvền thònu Viêt Nam: sư ánh hườnu của
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận của luận án: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đạo đức tôn giáo; Đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta vê tôn giáo nói chung và Phật
giáo nói riêng.
- Cơ sở thực tiễn của luận án: Quá trình tồn tại phát triển lâu dài của Phật
giáo ở Việt Nam và ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần
của dân tộc nói chung cũng như đối với đạo đức con người Việt Nam nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu: Phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử kết hợp
với các phương pháp trừu tượng hoá, khái quát hoá, thống kê, đối chiếu, so
sánh
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án.
- Định hướng cách tiếp cận vai trò của Phật giáo đối với đời sống xã hội
và con người Việt Nam.

nhữns cơ sở sau đây:
Thứ nhất, cẩn bắt đâu từ luận điểm của CNDVLS vé đặc điểm phản ánh
của ỷ thức xỡ hội. Một trong những đặc điểm đó là sự rác độno Un nhau giữa
các ỉììtiìì thái V thức xã hội trong quá trình phản ánh tồìì tụi xã hội.
Trong khi chỉ ra nguyên tắc quyết định của tổn tại xã hội đối với ý thức
xã hội, CNDVLS đồng thời cũns chí ra rằng bản thân đời sống ý thức xã hội
cũng có tính độc lập riêrm của nó. Trong quá trình phat Iriến. các hình thái V
thức xã hội có sư giao lưu. kế thừa và ảnh hướng lản nhau. Như vâv, V thức tòn
giáo không bao giờ tồn lại một cách biệt lập với các hình thái ý thức khác như:
đạo đức, thẩm mỹ, chính trị, pháp luật Giữa chúníĩ có sự liên hệ tác động qua
lại và ảnh hưởng lẫn nhau tạo ra sự phong phú của mỗi hình thai V thức xã hội.
Trong ý thức tôn giáo không thể không có những yếu tố của tư tưởng đạo đức,
thẩm mỹ, văn hoá và trong điều kiện xã hội có giai cấp thì còn có cả những
yếu tố chính trị, đảng phái nữa. Nếu như Lrong bản chất của tôn giáo chỉ toàn
là những sai lầm, ảo tưởng và tiêu cực thì có lẽ tôn giáo đã không thể tồn tại và
phát triển hàng ngàn năm trong lịch sử các dân tộc khác nhau trên thế giới.
Trong cuốn sách "Phát hiện Ấn Độ", J. Nehru đã viết: "Rõ ràng là tôn giáo đã
đáp ứng một nhu cầu trong tính chất con người, và đa số rộng lớn con người
trên thế giới đều không thể không có một dạng tín ngưỡng nào đó Tôn giáo
đã đưa ra một loại giá trị cho cuộc sống con người, mà dù một số chuẩn mực
ngày nay không còn được áp dụng, thậm chí còn tai hại, những chuẩn mực
khác vẫn còn là cơ sở cho tinh thần và đạo đức". [69, 29]
Như vậy, trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội, giữa hình thái tôn giáo
và hình thái đạo đức có quan hệ tương tác, đan xen và vay mượn lẫn nhau. Vì
vậy bản thân tôn giáo chứa đựng những nội dung đạo đức là điều có thể hiểu
được. Tôn giáo và đạo đức, với tư cách là những thành tố tạo nên kiến trúc
thượng tầng của xã hội, chúng có những cách phản ánh khác nhau đối với tồn
tại xã hội. Tôn giáo phản ánh một cách hư ảo hiện thực khách quan vào trong
đầu óc con người, trong đó cái hiện thực đã bị biến dạng, cái tự nhiên đã trở
thành cái siêu nhiên. Còn đạo đức phản ánh các mối quan hệ của con người với

đạo đức trên lập trường tôn giáo (thường được gọi là "thần học đạo đức").
Trong hâu hết học thuyết của các nhà thần học Tây Âu thời Trunìĩ cổ đều co
một phần quan trọng của học thuyết đạo đức. Trons thời đại phát triển mạnh
mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, các nhà thần học càng đặc biệt quan
tâm nghiên cứu vấn đề đạo đức, đậc biệt là những chuẩn mực đạo đức đáp ứng
được nhu cầu của cách maniz khoa hoc và côns rmhệ hiên đai.
Thực tế cho thấy quan niệm đạo đức của hầu hét mọi tòn iĩiáo, nsỉoài
những giá trị đặc thù hảo vệ niềm tin tôn siáo thiêng liêng còn đề cập đến
những chuẩn mực đạo đức mane tính nhân loại như: sống hiếu thảo với cha
mẹ, trung thực, nhân ái, hướng tới cái thièn, tránh xa điều ác
Hơn nữa, đạo đức tôn giáo có một nét đặc thù: những quy phạm, những
điều răn dạy, cấm đoán trong đạo đức tôn giáo ngoài việc khuyẽn khích
hướng thiện còn tạo ra sự đan xen giữa hy vọng và sợ hãi. ở những trường hợp
tu hành đạt đến"tự giác", đến "giác ngộ", con người hành động có đạo đức vì
triết lý đạo đức tôn giáo đã thấm vào họ, chuyển thành nhân sinh quan trong
cuộc sống. Song trên thực tế, có nhiều người thực hành đạo đức tôn giáo do sợ
hãi, do sợ bị trừng phạt.
Về mặt nào đó, tôn giáo đã đề cập trực tiếp đến những vấn đề đạo đức cụ
thể của cuộc sống thế Lục và những giá trị có tính nhân văn. Có thể coi đó là
tiếng chuông đồng điệu của tôn giáo với đời sống xã hội. Hầu hết mọi tôn giáo
khi mới ra đời đều phản ánh khát vọng về tự do, công bằng, bác ái của người
dân lao động. Bằng hình thức phản ánh đặc thù, tôn giáo thực sự mang lại cho
con người một sự "an ủi mơ hồ", giúp họ khắc phục những khoảng trống hẫng
hụt trong cuộc sống.
Như vậy, chúng ta thấy cả hai ý kiến trên đều phiến diện hoặc không
chuẩn xác. Có lẽ giáo sư Nguyễn Hữu Vui đã có một cách đánh giá công bằng
và xác đáng khi cho rằng: "Trong hệ thống nhữns giá trị chuẩn mực tôn giáo,
ngoài những điều khuyên răn cấm đoán tạo nên nội dung riêng của đạo đức tôn
giáo còn có những điều khuyên răn cấm đoán không hề có nội dung tôn giáo,
mà là biểu hiện của các mối quan hệ thuần tuý trán thế. [113, 46]

nghĩa duy vật lịch sử, gắn vấn đề tôn giáo theo quan điểm cu thể và xuất phát
từ thực tế sinh động của cuộc sốn£. Lênin thường nói đèn vai tro tiêu cực của
tôn giáo và của giáo hôi tronỉĩ một tình huỏng cu thể. Đó là sư lơi dune tòn
giáo của các thế lực tư sản phản độns để bảo vệ chế độ bóc lột và đáu độc
quẩn chúng bị áp bức.
I 1
1 i
Điểm nổi bật trong học thuyết về tôn giáo của cìiủ nghĩa Mác-Lênin la:
tôn giáo thườtig được xem xét gắn liền với tình hình đấu tranh giai cấp ở Châu
 lúc đương tììời, phục vụ trực tiếp cho yêu càu cách mạng của giơi cấp vô sản.
Do ỉioàn cảnh lúc đó, các ông phải nói nhiêu đến mặt tiêu cực của tôn giáo mà
chưa có điều kiện đi sâu nghiên cíãi các kỉìíơ cạnỉì văn ìioá, tâm lý, tình cảm,
đạo đức của tôn giáo.
Tuy nhiên, phải thấy rằng các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác-Lênin cũng
đã lưu ý đến khía cạnh tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhàn dân, nhu cầu
của sự phát triển xã hội trong những thời kỳ lịch sử nhất định.
Ph. Ăng-ghen viết: "Tôn giáo do con người sáng tạo ra, bản thân những
người này cảm thấy được nhu cầu cần phải có tôn giáo của quần chúng”. [56,
438-439]
Ảngghen còn chỉ rõ, sự xuất hiện của đạo Kitô ở La Mã cổ đại đã đáp ứng
yêu cầu của quần chúng nô lệ bị áp bức mong muốn được giải phóng, nhưng
lại không có cách nào giải phóng trong hiện thực. Còn Mác cũng đã chỉ rõ:
chính thế giới con người không hoàn thiện đã sản sinh ra thế giới ấy là một thế
giới cần có tôn giáo và ngược lại tổn giáo cũng đáp ứng những yêu cầu của con
người trong các thế giới ấy. Khi bàn về thuyết tạo thần, Lênin cũng nhìn thấy
tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, chí có điều là đứng trước kẻ thù
đang ra sức đề cao nhu cầu tôn giáo để chống lại cách mạng thì Lênin đã phê
phán không thương tiếc nhữn^ nhà văn tuyên truyền tạo thẩn và "nâng nhu cáu
tôn giáo lên".
Về chính sách của Đảng cộng sản đối với tôn giáo, Lênin luôn nhắc nhở

hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội.
2. Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡnu theo nhữní tièu chuẩn
đạo đức mà có.
Còn đạo đức học là khoa học nghiên cứu nội dunc quá trình phát sinh,
phát triển của đạo đức.
Đạo đức học Mác - Lênin cho rằng: Đạo đức ỉa một hình thái ỷ thức xã
hội đặc thù, một phương thức điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội thông qua một hệ thống ììỉũùìg giá trị, nguyên tắc, chuẩn
mực biểu thị sự quan tâm tự nguyện tự giác của con người với con người, con
người với xã hội.
Như vậy, theo quan điểm mácxít, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội,
một định chế xã hội thực hiện các chức năng điều chỉnh hành vi con người.
Đạo đức là những nguyên tắc sống, những quy phạm gắn liền và phù hợp với
một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, được hình thành từ những điều kiện
sinh hoạt vật chất của xã hội; những quy phạm, nguyên tấc, tiêu chuẩn, lý
tưởng này có tính chất nhất thời về lịch sử và mang tính giai cấp rõ rệt.
Trong các phạm trù đạo đức luôn luôn phản ánh địa vị và lợi ích của giai
cấp. Mỗi giai cấp trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội
đều có những quan niệm đạo đức riêng của mình. Giai cấp tiêu biểu cho xu thế
phát triển đi lên của xã hội thì đại diện cho một nền đạo đức tiến bộ. Còn các
giai cấp phản động thì đại diện cho một nền đạo đức suy thoái.
Khi phê phán Đuy-rinh về sự thừa nhận có một thứ đạo đức vĩnh cửu cho
mọi thời đại, Ăng-ghen đã khẳng định: "Xét cho đến cùng, mọi học thuyết đạo
đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế, của xã hội
lúc bấy giờ" và do vậy, "từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sanu
thời đại khác, những quan niệm thiện và ác đã biến đổi nhiều đẽn mức chúns
thường trái ngược hẳn nhau". [57; 135, 137]
Trong cuốn "Đạo đức học", Badzeladze cho rằng trong xã hội nguyên
thuỷ. trình độ sản xuất còn rất thấp kém. sán phám làm ra còn quá ít. Trone
điều kiện thiếu thốn về kinh tế. xã hội nguven thuv không đu khá năng nuoi

cũnơ như tinh thần.
15
Điều dễ nhận thấy là những hệ thống đạo đức của tôn giáo rất khác nhau
về niềm tin, rất xa nhau về địa lý vãn có một mẫu số chung là nội dung khuyến
thiện. Cái mạnh trong truyền thụ đạo đức tồn giáo là ngoài những điều phù hợp
với tình cảm đạo đức của con người, nó lại được thực hiện thông qua tình cảm
tín ngưỡng, lòng tin giáo lý. Do đó, tình cảm đạo đức tôn giáo được tín đồ tiếp
thu tạo thành đức tin thiêng liêng bên trong và chi phối hành vi ứng xử của họ
trong các quan hệ cộng đổng. Khi hoạt động hướng thiện của con người được
tôn giáo hoá sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, nhiệt thành hơn. Sẽ là sai lầm nếu phủ
định hoặc xem nhẹ mặt tích cực này của tôn giáo trong việc xây dựng một nền
đạo đức xã hội tương ứng với một xã hội văn minh và phát triển cao về đời
sống vật chất. Ngày nay, việc phát huy mặt tích cực của đạo đức tôn giáo là
hoàn toàn hợp lý nhằm xây dựng con người mới và nền văn hoá mới. Những
giá trị và chuẩn mực của tôn giáo không chỉ ảnh hưởng trong đồng bào có đạo
mà còn lan toả đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Điều đó góp phần
chống lại sự xâm nhập của các hiện tượng phi đạo đức, hay sự suy thoái về đạo
đức nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường và đẩy mạnh mở cửa trong
quan hệ quốc tế. Tuy vậy, cũng không nên cường điệu mặt tích cực đến mức
không thấy trên bình diện thế giới quan, ý thức hệ tôn giáo với triết lý nhân
sinh thụ động đã ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi của đồng bào có đạo trong
công cuộc cải tạo thế giới hiện thực để mưu cầu hạnh phúc trẩn thế của mình.
Bởi vì suy cho cùng, đạo đức tôn giáo vẫn cố íắng hướniỉ con ne ười quên
lãng nỗi khổ đau trần tục, đưa ỈÌỌ vê một thế giới ảo tưởng, trong khi đó để
khấc phục những khổ đau đó họ lại cần đến những phương tiện hiện thực, cần
đến nghị lực để vượt bỏ một cách hiện thực xã hội trần thế.
Tôn giáo khô nu chỉ có nội duns các quan niệm đạo đức mà còn cỏ cả
những chức năng và tổ chức dể điều chỉnh các hành vi đạo đức và hiện thực
hoá các quan niệm đạo đức. Khi tôn ơiáo thực hiện các chức nănơ của mình:
chức nãng thế giới quan, chức năng liên kết, chức nãnu íĩiao tiếp thì đồng

nâng cao có thể trỏ thành một động lực mạnh m ẽ thúc đẩy khả năng sáng tạo
của con người. Với hình thức phản ánh đặc thù, với chức năng khá đặc biệt
"đền bù hư ảo", tôn giáo và đạo đức tôn giáo có thể tạo nên những phút thăng
hoa trong cuộc sống con người, trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy khả nãng
sáng tạo của họ. Thừa nhận điều này, chúng ta có thể cắt nghĩa được vì sao
nhiều công trình văn hoá có giá trị trên thế giới và những phát minh khoa học
lớn lại do những nhà văn hoá và khoa học theo tòn giáo tạo nên.
Khi nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam, chúng ta thấy rằng: một khi
tình cảm tôn giáo chuyển thành tình cảm, tâm lý dân tộc sẽ tạo ra những nội
lực mạnh mẽ góp phần củng cố khối đoàn kết toàn dân, chống lại sự xâm nhập
của các yếu tố ngoại lai. (Ví dụ: hiện tượng Tam giáo đồng nguyên đã góp
phần củng cố các giá trị của dân tộc). Hay khát vọng bình đẳng, bác ái, tư
tưởng từ bi của Phật giáo đã hoà quyện với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từng
là một động lực để xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc (đặc biệt trong thời
kỳ Lý - Trần).
Nói đến vai trò của đạo đức tôn giáo đối với xã hội còn phải nói đến vai
trò của các tổ chức tôn giáo. Niềm tin, lý tưởng, đạo đức tôn giáo có đi được
vào ý thức quần chúng hay không trước ỉìêí là nììờ vào tổ chức tôn giáo. Ngoài
các chức năng thuần tuý tôn giáo, các tổ chức tòn giáo còn thực hiện những
hoạt động kinh tế, chính tiị, xã hội, văn hoá, giáo dục Hiện nay, tôn giáo có
xu hướng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề của trần thế thay vì chỉ chú trọng tới
cuộc sống bên kia. Các nhà nghiên cứu gọi xu thế này là "thế tục hoá" tôn
giáo: quan tâm và phục vụ đời sốnw con người nơi trần thế. Thông qua các hoạt
độ nu mang tính thế tục của tổ chức tòn máo mà đạo đức tôn giao và tôn o iáo
nói chung thế hiện vai trò tiến bộ nhất định tron í đời sốny vật chải, tinh thần,
đạo đức của xã hội.
Trong quá trình vận dộng, phứt triển cùa cúc tôn giáo, đạo đức tôn gián
luôn dược cức nhà thẩn học, những tn thức của cúc tôn giáo bô sung, ỉàni
lo
phong phú bằng các vấn đề cụ thể của đạo đức trần thê' trong từng giai đoạn

Ảngghen cũng nhấn mạnh rằng để tạo ra được cơ sở vật chất ấy phải có một
quá trình lịch sử lâu dài, phải vượt qua nhiều khó khăn trắc trở. Những kiến
giải đúng đắn và thiên tài của hai ông dựa trên nhận thức khoa học về quy luật
phát triển khách quan của xã hội đương thời.
Nhưng sự phát triển thực tế của tình hình xã hội và tôn giáo trong những
thập kỷ gần đây chứng tỏ hiện nay vấn đề cơ sở tồn tại của tôn giáo và điều
kiện tiêu vong của nó rất phức tạp. Khoa học kỹ thuật đã phát triển đến trình
độ cao giúp con người có thể làm chủ được tự nhiên, song còn biết bao mối
quan hệ mà con người vẫn chưa thể giải quyết được: vấn đề mối quan hệ giữa
chủ quan và khách quan, giữa tất nhiên và ngẫu nhiên, giữa hữu hạn và vô hạn,
giữa đau khổ và hạnh phúc, giữa mơ ước và hiện thực Cuộc đời vẫn còn
những may rủi, bất hạnh, những cảm giác trống rỗng, mất cân bằng về tâm lý
trước bệnh tật, tai họa không thể đoán định trước Những sự thực đó còn tồn
tại thì tôn giáo không dễ dàng mất đi.
Như vậy, tôn giáo trong tương lai sẽ như thế nào? Nhiều người dự đoán
đó là khả năng "văn hoá hoá tôn giáo".
Một trong những nguyên nhân khiến cho tư tưởng tôn giáo dễ xâm nhập
vào đời sống tinh thần của con người là vì: rác tôn giáo đều có trong giáo lý
những tư tưởng nhân đạo, ít nhiều phù hợp với mong muốn và lòng nhân ái của
quần chúng lao động. Ở nội dung đạo đức đó. cức tôn giáo oầ n ofii với chủ
nghĩa nhân đạo múc xít.
Như trên đã phân tích, ta thấv đạo đức tôn £Íáo có nhiều điểm tích cưc,
phù hợp với xã hội ta hiện nay như Đán‘4 ta khẳne định. Sonti. cũng sẽ là
khôns khoa học nêu chúns ta tuvôt đỗi hoá đao đức tòn giáo, thổi phô nu vai
trò của nó như một số nu ười cho rằnc: sự suv đổi đạo đức xã hội trong xã hội
vãn minh này chỉ có thể tìm cách "chạy chữa" bằng đạo đức tôn ciáo. Bời vì
20
như Ăng-ghen nói, ngay cả một số những yếu tố tiến bộ của đạo đức tôn giáo
cũng chỉ giống về mặt hình thức với đạo đức mới của chúng ta mà thôi! Đạo
đức tôn giáo là một hình thái ý thức đặc biệt, nó có nội dung và hình thức phản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status