ĐẠO đức PHẬT GIÁO và ẢNH HƯỞNG của nó đến VIỆC xây DỰNG NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HUYỀN

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG NHÂN CÁCH
CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HUYỀN

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG NHÂN CÁCH
CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Nguyễn Hùng Hậu

HÀ NỘI - 2014

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

WTO

: Tổ chức thương mại thế giới


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam từ những năm cuối của thế kỷ XX, đất nước ta đang ngày
càng chịu nhiều tác động mạnh mẽ của quá trình đổi mới của quá trình công
trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Bên cạnh những thành tựu đáng tự hào
trên tất cả các mặt của đời sống xã hội thì có một điều không thể phủ nhận
được đó là sự mất cân đối trong quá trình phát triển con người – xã hội trong
giai đoạn hiện nay.
Chính sự phát triển nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế
đã là một trong những nguyên nhân phá vỡ nhiều nét đẹp văn hóa truyền
thống, làm thay đổi những giá trị lâu đời của dân tộc. Một trong những điều
đáng lo ngại nhất là về lối sống và nhân cách đạo đức con người đang dần bị
băng hoại, nhiều biểu hiện của lối sống xa lạ, trái với thuần phong mỹ tục
trong một bộ phận cộng đồng dân cư diễn ra ngày càng phổ biến. Thái độ coi
thường những giá trị truyền thống là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội
đang ngày càng có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là ở lớp trẻ. Họ có thiên
hướng đề cao cá nhân, sống ích kỷ, lạnh lùng, không tình nghĩa, ít chú ý đến
nghĩa vụ và trách nhiệm, ít quan tâm đến những người xung quanh… Hàng
loạt những hiện tượng đau lòng diễn ra trong xã hội gần đây khiến cho chúng
ta không thể làm ngơ.
Trước thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính

một cách nhìn khách quan khoa học trong việc kế thừa và phát huy những giá
trị tốt đẹp của đạo đức truyền thống vừa chọn lọc, tiếp thu những giá trị tiến
bộ trong văn hóa nhân loại để xây dựng nhân cách con người.
Là một trong những thành tố tạo nên nền văn hoá dân tộc trong suốt
hàng nghìn năm, Phật giáo ở Việt Nam chứa đựng giá trị đạo đức nhân bản và
tầm ảnh hưởng của nó vô cùng to lớn trong đời sống tinh thần người Việt rất
hữu ích cho việc xây dựng một nền đạo đức mới và nhân cách con người Việt
Nam hiện nay mà giá trị lớn nhất của đạo đức Phật giáo chính là góp phần
duy trì đạo đức xã hội, hoàn thiện nhân cách cá nhân, định hướng cho con
2


người đến tính thiện hòng cải tạo đời sống cá nhân gia đình và xã hội được tốt
đẹp yên vui hơn. Vì vậy khai thác những yếu tố tích cực của đạo đức Phật
giáo và hạn chế những tiêu cực của sự ảnh hưởng đạo đức Phật giáo đến xây
dựng nhân cách đạo đức của con người Việt Nam hiện nay là một điều cần
thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và lí luận đó tác giả lựa chọn vấn đề
“Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến việc xây dựng nhân cách
con người Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một trong ba tôn giáo thế giới, Phật giáo có lịch sử phát triển lâu dài
và có nhiều đóng góp cho tư tưởng nhân loại, do đó được dư luận và giới
khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu. Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu đã được công bố và trở thành tài liệu có giá trị trong việc nhìn
nhận và đánh giá lịch sử phát triển của dân tộc.
Có thể kể đến một số tác phẩm sau: Tác phẩm “Ảnh hưởng của các hệ
tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” do Giáo sư
Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội, 1997. Trong phần
viết về Phật giáo, các tác giả đã tập trung vào khái niệm từ, bi, hỉ, xả cùng các
giá trị tư tưởng của Phật giáo với tư tưởng của con người Việt Nam. Đặc biệt

với cuốn “Đến hiện đại từ truyền thống”, Nxb Văn hóa, 1996. Ở đây tác giả
trình bày những tư tưởng, quan niệm của mình về nhân cách con người trong
lịch sử Việt Nam. Đến tác giả Trần Thị Tuyết Sương với công trình “Vấn đề
xây dựng nhân cách đạo đức con người Việt Nam trong điều kiện hiện nay”,
luận văn thạc sĩ triết học, Viện Triết học, 1998. Bài viết của tác giả Lê Đức
Phúc “Hình thành và phát triển nhân cách trong kinh tế thị trường”, Tạp chí
cộng sản, số 6, 1995; Dương Phú Hiệp với bài “Sự hình thành và phát triển
nhân cách người Việt Nam trong điều kiện chuyển từ nền kinh tế bao cấp
sang nền kinh tế thị trường”, tạp chí Triết học số 4, 1992…
4


Về ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đời sống xã hội cũng có nhiều
công trình đã nghiên cứu. Tiêu biểu như công trình nghiên cứu của tác giả Tạ
Chí Hồng với “Ảnh hưởng của Đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức
của xã hội Việt Nam hiện nay” (Luận án Tiến sĩ triết học, năm 2003), tác giả
Hoàng Thị Lan với bài viết “Góp phần tìm hiểu một số vấn đề về đạo đức
Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay” (Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số
2/1997); tác giả Hoàng Thị Thơ với bài viết “Đạo đức Phật giáo với vấn đề
xây dựng nhân cách con người Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số
1/2002); tác giả Ngô Thị Lan Anh với bài “Phậm trù “Tâm” trong Phật giáo
với việc xây dựng đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay” (Luận án Tiến sĩ
Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2011); tác
giả Lê Văn Đình với bài viết “Bàn thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong xã
hội Việt Nam hiện nay” ( Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 10/2007)… Trong
đó các tác giả làm rõ giá trị nhân văn của đạo đức Phật giáo như từ bi, hỷ xả,
nhân ái, vị tha và ảnh hưởng của nó trong việc hoàn thiện đạo đức, nhân cách
con người Việt Nam trong xã hội hiện đại. Ngoài những công trình nghiên
cứu mang tính chuyên đề thì đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó còn
được bàn xen kẽ, rải rác trong các tác phẩm thuộc về lĩnh vực khoa học xã

Nam tư 1990 đến nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
∗ Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ những nội dung và giá trị của đạo đức Phật
giáo, tìm hiểu ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến việc xây dựng nhân cách
con người Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích thực trạng ảnh hưởng của
đạo đức Phật giáo từ đó nêu ra phương hướng và giải pháp nhằm phát huy
ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Phật giáo đến
việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay.
∗ Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện nhiệm vụ sau:
- Phân tích nội dung đạo đức Phật giáo và những giá trị cơ bản của đạo
đức Phật giáo
- Phân tích ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến việc xây dựng nhân
cách con người Việt Nam hiện nay.
6


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
∗ Cơ sở lý luận
- Cơ sở lí luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói
riêng.

∗ Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp luận của triết học Mác –

Lênin và kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như
phân tích, tổng hợp, so sánh, lôgíc – lịch sử, ...

văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất trên thế giới. Chủ nhân của nền văn minh
Ấn Độ cổ đại là người bản địa Đravida và người Aryan Châu Âu nhập cư.
Quá trình hỗn dung về dòng máu và văn hóa đã tạo điều kiện cho việc xây
dựng nơi đây thành một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa phát triển của thế
giới thời cổ đại. Khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, chế độ nô lệ kiểu
phương Đông đã phát triển với sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt và nhà nước
quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền là sở hữu tối cao về ruộng đất và
thần dân. Trong thời kỳ này có sự phát triển vượt trội về kinh tế, văn hóa tư
tưởng, song đồng thời cũng có những biến động lớn về mặt xã hội. Công cụ
lao động bằng sắt rất phát triển. Trên cơ sở mở mang các công trình thủy lợi,
khẩn khai đất đai, trồng các loại ngũ cốc, nông nghiệp phát triển mạnh. Nghề
thủ công rất phát đạt, nhất là nghề dệt sợi, tơ lụa; nghề luyện sắt; nghề làm đồ
8


gỗ, gốm sứ và nghề làm đồ trang sức. Mặc dù nền kinh tế tự nhiên còn chiếm
ưu thế song thương nghiệp, buôn bán cũng có sự phát triển vô cùng mạnh mẽ.
Các thư tịch cổ cho thấy khi đó các nhà buôn có những đội quân vận chuyển
cả bằng đường bộ lẫn đường thủy với quy mô lớn. Tiền tệ bằng kim loại xuất
hiện. Cùng với sự phát triển kinh tế hàng hóa, hàng loạt thành phố, thị trấn
mọc lên trở thành trung tâm công thương nghiệp quan trọng. Nhiều con
đường thương mại bộ thủy nối liền các thành thị với nhau và thông thương từ
Ấn Độ qua các nước như Trung Hoa, Ai Cập và các miền Trung Á… dần dần
xuất hiện.
Về mặt tư tưởng, đời sống tinh thần xã hội lúc này bị thống trị bởi quan
điểm duy tâm, tôn giáo trong thánh kinh Vê - đa và đạo Bà – la – môn (tôn
giáo đề cao, tuyệt đối hóa sự bất bình đẳng giữa các giai cấp). Đây chính là cơ
sở triết lý cho chế độ phân chia đẳng cấp trong xã hội. Dân chúng Ấn Độ thời
bấy giờ bị phân chia thành nhiều giai cấp khác nhau, tựu chung có các giai
cấp chính sau đây :

con người.
Phật giáo ra đời ngoài những tiền đề về kinh tế, xã hội và tư tưởng
như trên, nó còn gắn với vai trò của Đức Phật Thích Ca và những người kế
tục ông.
Theo truyền thuyết người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Cồ Đàm Tất
Đạt Đa (Gautama Siddhartha) con vua Tịnh Phạn (Shuddhodana) và hoàng
hậu Ma đa, họ Thích Ca trị vì nước nhỏ là Ca - tỳ - la - vệ (Kapilavastu) (nay
thuộc Nêpan) sinh ngày 15 – 4 (có tài liệu ghi ngày 8 – 4) năm 524 trước
Công nguyên.
Bấy giờ toàn cõi Ấn Độ chia làm rất nhiều nước nhỏ, thường khi hòa
chiến với nhau như đời Chiến quốc bên Trung Quốc, tuy đại thể vẫn thu về
nước Ma - kiệt - đà (Magadha). Nước này lớn nhất ở phía Nam sông Hằng
(Gange), làm tâm điểm cho toàn xứ Ấn Độ.
Trong những nước có danh tiếng nhất thời ấy, có nước Ca - tỳ - la - vệ,
vua tên là Tịnh Phạn (Sudhodana), hoàng hậu là Ma - ha Ma - da (Maha 10


maya) con vua A - nâu Thích - ca (Anu - Sakya) nước Câu - ly (Koly). Khi ấy
vua Tịnh Phạn đã 50 tuổi và Hoàng hậu 45 tuổi mới có thai lần đầu. Nơi sinh
Đức Phật tương truyền là vườn Lâm - tỳ - ni (Lumbini). Năm 1897, bác sĩ A.
Fuhrer có đào được ở nơi ấy một trụ đá của vua A Dục (Asoka) (sau khi Phật
tịch diệt chừng 270 năm) đánh dấu chỗ của Đức Phật giáng sinh.
Đức Phật tư bẩm thông minh và tính tình đức độ từ thuở nhỏ. Bảy tuổi
Ngài theo học các đạo sĩ phái Bà – la - môn. Dần dần Ngài thông hiểu các
khoa, nhất là nghị luận, triết lý. Chính trong khi bắt đầu hiểu biết ấy, cũng là
khi Ngài bắt đầu cảm thấy chán nản cuộc đời vinh hoa phú quý và buồn đau
cho thế cuộc của nhân sinh.
Như trên đã nói, dân tộc Ấn Độ bấy giờ chia ra làm bốn phái rõ rệt Ngài
là dòng quý tộc. Nhưng xét ra dòng quý tộc chỉ có quyền mà không có thế, vì
bao nhiêu học thuật, luật pháp đều ở trong tay phái Bà – la - môn cả. Một

trời tu khổ hạnh, nhưng Ngài không thấy chứng được đạo quả gì. Ngài mới đi
đến núi Tượng Đầu (Gajasirsa) bên sông Ni – liên - thuyền tắm rửa xong,
Ngài thọ bát sữa của mấy nàng mục nữ cúng, rồi Ngài ở đó một mình thiền
định và thề rằng: "Ta ngồi ở đây nếu không chứng được đạo quả, thì dù có tan
nát thân này, ta quyết không bao giờ đứng dậy”. Dưới gốc cây Tất – bát - la
(Pippala), Ngài ngồi định tâm, vừa định tâm 48 ngày thì, một hôm, khi sao
mai vừa mọc, Ngài bỗng thấy trong tâm sáng suốt, rõ thấy chân lý của vũ trụ
và nguồn gốc sanh tử của chúng sinh: Ngài đã thành Phật. Bấy giờ Ngài vừa
31 tuổi, ngày ấy nhằm ngày mồng 8 tháng chạp lịch Trung Hoa (ngày nay ở
Nam thành Patna chừng 110 cây số có thành Già gia (Gaya) và cách thành
này 13 cây số có linh địa gọi là Phật - đà Già - gia (Bouddha Gaya), tức là chỗ
Ngài thành Phật vậy). Còn cây Tất – bát - la là chỗ Ngài ngồi nhập định, sau
gọi là cây Bồ - đề, dấu tích nay vẫn còn.

12


Khi ấy Ngài yên lặng, hoàn toàn sống trong sự sáng suốt nhiệm mầu
của chân lý mà Ngài đã chứng ngộ, rồi Ngài trở lại với loài người đem
đạo lý ra mà thuyết pháp giáo hóa. Từ đó Ngài chu du khắp các lưu vực
sông Hằng Hà, giáo hóa được vô số chúng sinh đương mê muội, trở nên
giác tĩnh, đều qui y Phật pháp để tu hành diệt khổ, chứng đạo Niết - bàn.
Ngài thọ 80 tuổi và tịch diệt vào ngày rằm tháng hai, trong một vườn cây
gần thành Câu – thi – la (Kusinagar).
Như vậy một cuộc đời vô cùng vĩ đại đã xuất hiện cứu vớt cõi đời sầu
khổ của chúng sinh. Đạo Phật với luật lệ, lễ nghi đơn giản, giáo lý sâu sắc,
nêu nên khả năng chế ngự dục vọng, vai trò tự giải thoát của con người, sự
bình đẳng của con người với con người … nên được đông đảo quần chúng tin
theo. Tư tưởng triết lý của Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viết
thành văn thể hiện trong “Tam tạng” (Tripitaka) gồm 3 bộ: 1) Tạng kinh

vị tha.
Đạo đức Phật giáo - với những giới luật (nguyên tắc trong cuộc sống
cao đẹp) mang tính chất quy luật đặc thù (thập nhị nhân duyên, biến chuyển
theo vòng lưu chuyển và hoàn diệt), trong thực tế vẫn nằm trong Định luật
chung (lý duyên khởi) - trong cùng hệ thống cơ cấu xây dựng trên nền tảng lý
luận của một phương pháp luận đúng đắn, liên kết nhiều mặt quy luật tự
nhiên, xã hội, tư duy, hợp nhất thành một nguồn trí tuệ sáng suốt, hướng dẫn
con người trong mọi hoạt động nhận thức cũng như trong mọi hoạt động thực
tiễn, giải quyết tốt nhất những vấn đề cần thiết trong cuộc sống giữa thiên
nhiên và xã hội.
Phật giáo thiết lập đạo đức không phải dựa trên cơ sở trái tim hay nhiều
lòng tin mù quáng, mà đạo đức Phật giáo chính là sự hoàn thiện nhân cách
đem lại lợi ích cho mình và cho người. Triết lý đạo đức Phật giáo chủ yếu
được đặt trên nhân sinh quan và thế giới quan, đó là những triết lý sâu sắc
14


mang đậm tính từ bi, trí tuệ và đặc biệt mang tính nhất quán về đạo đức. Có
thể nói, toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật giáo chính là đạo đức vì giúp con
người tu dưỡng thân tâm đưa đến an lạc, hạnh phúc.
Trước hết là ta xem xét quan niệm về thế giới của đạo Phật.
∗ Thế giới quan Phật giáo

Theo Phật, mọi sự vật, hiện tượng (chư pháp) trong vũ trụ đều phải xem
xét đến cái chân tướng, thực trạng của nó, phải gạt bỏ mọi mường tượng,
tưởng tượng – nguyên dẫn đến nhận thức sai lầm; phải như thị kiến
(yathatatha) và như thực kiến (yathabhutam), tức là mọi sự vật hiện tượng
như thế nào thì quán đúng như thế, không thêm không bớt, không yêu không
ghét. Đây là xuất phát điểm vô cùng quan trọng trong nhận thức về thế giới.
Bởi người đời thường quẳng cái thích và cái không thích, yêu và ghét, thêm

danh và sắc (yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần) tạo thành, nó chính là vật và
tâm, vật chất và ý thức. Theo thuyết “Chư pháp nhân duyên sinh” thì hai cái
này liên hệ mật thiết khăng khít với nhau, không tách rời nhau, không có cái
này thì cũng không có cái kia và ngược lại. Cụ thể tức là không có vật thì
cũng không có tâm, sở dĩ có vật là do có tâm, không có tâm thì vật là gì thì
cũng không ai biết…Còn bản thân con người là do 5 yếu tố tạo nên (gọi là
ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức).
Tóm lại, thế giới quan Phật giáo cho rằng, vũ trụ là vô thủy, vô chung;
vạn vật trong thế giới chỉ là dòng biến hóa vô thường, vô định không do một
vị thần nào tạo nên cả; tất cả đều biến đổi theo luật nhân quả, theo quá trình
sinh, trụ, dị, diệt và chỉ có sự biến hóa này là thường hữu. Vì không nhận thức
được sự biến ảo vô thường đó nên người ta nhầm tưởng là cái tôi tồn tại mãi
mãi, cái gì cũng là của ta nên con người khát ái tham dục, hành động chiếm
đoạt nhằm thỏa mãn những ham muốn, dục vọng đó tạo ra những kết quả, gây
16


nên nghiệp báo (karma), mắc vào bể khổ triền miên (sam – sara) tức là mắc
vào kiếp luân hồi.
Từ quan niệm về thế giới như vậy, Phật giáo đi đến giải quyết vấn đề
nhân sinh quan. Đây là cơ sở để Phật giáo xây dựng và thực hiện các nguyên
tắc đạo đức.
∗ Nhân sinh quan Phật giáo

Thừa nhận quan niệm “luân hồi” và “nghiệp” trong Upanishad, Phật
giáo đặc biệt chú trọng triết lý nhân sinh, đặt mục tiêu tìm kiếm sự giải thoát
cho chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại
Niết bàn (Nirvana). Từ sự lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người, Đức
Phật đã đưa ra thuyết “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên” để giải thoát
chúng sinh ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân hồi. Đây là triết lý

ngoài quy luật chung đó.
Hành khổ: Những nỗi khổ về tinh thần con người, do không làm chủ
được mình bị lôi kéo vào những dục vọng làm cho tâm bị dằn vặt sinh ra buồn
vui, giận hờn, yêu ghét...
Tám thứ khổ (Bát khổ): Đức phật tóm tắt thành tám thứ khổ trong cuộc đời
của một con người gồm: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất
đắc, thụ ngũ uẩn khổ. Tám thứ khổ này là sự cụ thể hóa, tỉ mỉ hơn về các nỗi khổ
của chúng sinh ở trần thế, song nội dung thì được bao hàm bởi ba khổ trên.
Sinh khổ, con người khi sinh ra đã cất tiếng khóc chào đời, trước đó còn
ở trong bụng mẹ thì chật chội tăm tối; người mẹ mang thai con thì vất vả mệt
nhọc, kém ăn, mất ngủ, chịu bao cái khác thường so với người khác.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người muốn tồn tại được thì trước hết
phải ăn, uống, mặc ở, sinh hoạt, đi lại... Muốn vậy, con người phải lao động
hết sức vất vả, cực khổ, tất bật trong công việc. Đó là về mặt vật chất, còn
những nỗi khổ về tinh thần dày vò con người cũng không kém nỗi khổ về vật
chất, nó làm con người suy kiệt, ốm yếu,... Lão khổ, con người đến lúc già,
18


tuổi cao, thân thể hao mòn già yếu các giác quan, hoạt động kém, mắt mờ,
chân chậm, tai điếc... dễ sinh bệnh gây đau ốm cho người bệnh và người thân
xung quanh.
Đến một thời điểm nhất định con người phải chết, xa lìa trần thế để lại
nỗi xót thương vô hạn cho người thân, bè bạn. Ai cũng vậy, sợ phải xa lìa
người thân, bè bạn, bởi cuộc sống biết bao điều thú vị (Tử khổ).
Ái biệt ly: nỗi khổ khi phải xa cách chia ly người mình mến thương như
vợ chồng, cha mẹ, anh em... Nỗi khổ này bao gồm cả nỗi khổ sinh tử biệt ly:
Sống phải xa nhau đã khổ, nhưng người ở lại người đi vào thế giới khác thì đó
là nỗi khổ tình thương, tuyệt vọng biết nhường nào.
Oán tăng hội khổ: nỗi khổ vì phải sống cùng với người mà mình không

bản thể chủ quan đều chỉ là vô thường vô ngã trong vòng luân hồi trôi chảy
bất tận, chính cái này dẫn đến lòng tham sống ở trong con người. Phật giáo
nói đến đau khổ chủ yếu là chỉ tinh thần bức bách.
Trong 12 nguyên nhân đưa ra thì Đức Phật cho rằng, vô minh và ái dục
là hai nguyên nhân chủ yếu đưa đến đau khổ cho con người. Sự kết hợp giữa
ái dục và vô minh xuất phát từ nguồn gốc của ba thứ mà Phật gọi là tam độc:
Tham, Sân, Si.
Tham: Biểu hiện sự tham lam của con người làm xúi dục con người hành
động để thỏa mãn lòng tham của mình. Lòng tham của con người không có
giới hạn, đây là nguyên nhân gây bao nỗi thống khổ cho con người như chém
giết, xâm hại lẫn nhau.
Sân: Sự cáu gắt, bực tức, nóng giận khi con người không hài lòng về
điều gì đó, làm cho con người không kiểm soát hết hành động của mình (giận
quá mất khôn), như thế cũng đem lại những điều khổ đau, không hay cho con
người. Sách Phật ghi rằng, một đốm lửa giận có thể đốt hết muôn mẫu rừng
công đức và một niệm sân hận nổi lên thì trăm ngàn cửa nghiệp chướng mở.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status