[Type text]
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: “Bản chất con người theo quan điểm triết học Mác-Lênin và việc vận
dụng để xây dựng nguồn lực con người ở Nghệ An hiện nay”
Người thực hiện:Trần Thiên Tài
Lớp: K2-QTKD
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thương Uyên
Vinh, tháng 12 năm 2015
2
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ NHÂN TỐ
CON NGƯỜI VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG ĐẾN NHÂN TỐ CON
NGƯỜI……………………………………………………………………………
1.1. VỀ KHÁI NIỆM CON NGƯỜI VÀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI
1.1.1. Quan điểm mác - xít về con người và nhân tố con người
1.1.1.1. Quan điểm Mác - Lênin về con người
1.1.1.2. Quan niệm Mác - Lênin về nhân tố con người
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và nhân tố con người
1.1.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhân tố con người
1.2. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN NHÂN TỐ CON
2.1.2.2. Nhân tố con người dưới sự ảnh hưởng của đời sống chính trị ở Nghệ An
2.1.2.3. Nhân tố con người dưới sự ảnh hưởng của đời sống văn hoá - xã hội ở
Nghệ An
2.1.2.4. Nhân tố con người dưới sự ảnh hưởng của giáo dục, đào tạo ở Nghệ
An
2.2. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN TRONG VIỆC
PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI Ở NGHỆ AN TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.2.1. Phương hướng phát huy nhân tố con người trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế ở Nghệ An
2.2.1.1. Phương hướng chung phát huy nhân tố con người
2.2.1.2. Quan điểm phát triển của Nghệ An
2.2.2. Một số giải pháp cơ bản trong việc phát huy nhân tố con người ở Nghệ
An trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
2.2.2.1. Tiếp tục hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng XHCN tạo điều
kiện để phát huy nhân tố con người về nhiều mặt
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong triết học, con người là một đề tài lớn, nghiên cứu vấn đề con người
có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của thế giới, là vấn đề được các nhà
triết gia của mọi thời đại bao gồm phương Đông và phương Tây quan tâm
nghiên cứu. Trong các hệ thống tư tưởng đó, vấn đề của con người trong triết
học Mác-Lênin được nghiên cứu và trình bày một cách bao quát, đặc săc và
mang tính khoa học nhất. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã kết luận: con người không
chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự
phát triển của lực lượng sản xuất, mà con người là chủ thể của quá trình lịch sử,
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ NHÂN TỐ
CON NGƯỜI VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG ĐẾN NHÂN TỐ CON
NGƯỜI
1.1. VỀ KHÁI NIỆM CON NGƯỜI VÀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI
1.1.1. Quan điểm Mác – Lênin về con người và nhân tố con người
1.1.1.1. Quan điểm Mác - Lênin về con người
1.1.1.1.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội
Kế thừa các quan điểm tiễn bộ trong lịch sử triết học, dựa trên những thành
tự của khoa học tự nhiên, trực tiếp là thuyết tiễn hóa và thuyết tế bào, triết học
Mác đã khẳng định con người vừa là sản phẩm phát triển lâu dài của giới tự
nhiên, vừa là sản phẩm của chính hoạt động của chính ban thân con người. Con
người là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học với yếu tố xã hội-là thực thể sinh vật
– xã hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của
giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học,
tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn
tại của con người.
Vi vậy giới tự nhiên là ‟thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ
phận của tự nhiên.
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất
quy định bản chất của con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt của con người
với thế giới loài vật là mặt xã hội. Tính xã hội của con người biểu hiện trong
hoạt động sản xuất vật chất. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người
sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình;
Hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; Xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy
lao động chính là yếu tố quyết định bản chất xã hội của con người, đồng thời
hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội. Theo Mác, xã hội suy cho
cùng là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa người với người. Con người tạo ra
phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một giới tự nhiên thứ hai theo mục
đích của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình.
Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của
chính bản thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự
tồn tại của con người, vừa là phương thức làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã
hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt
động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp
với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người
thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ
lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai
đoạn phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người trong mỗi quan
hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động, biến đổi cũng phải thay đổi
cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống dòng kín, mà là hệ
thống mở, tương ứng với điêu kiện tồn tại của con người. Mặc dù là ‟tổng hòa
các quan hệ xã hội ”, con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư
cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến
đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiễn lên của lịch sử sẽ quy
định tương ứng (mặc dù không trùng khắp) với sự vận động và biến đổi của bản
chất con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm
cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là
toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh
hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa
định hướng giáo dục. Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách
tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiêu phương diện khác nhau: hoạt
động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất
của lịch sử nên chính con người chứ không phải đối tượng nào khác, phải loại trừ
những yếu tố ngăn cản tự do, hạnh phúc của con người, đồng thời thúc đẩy làm
biến đổi xã hội theo chiều hướng ngày càng tốt đẹp hơn. Thế giới hiện nay còn
chứa đựng những yếu tố khác đe dọa tự do và hạnh phúc của con người như đói
nghèo, dịch bệnh, thất học, ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng xã hội, nguy cơ
khủng bố, chiến tranh... Do đó mọi chủ trương chính sách, mọi hành động của
cộng đồng quốc tế, của các quốc gia và hành động của mỗi cá nhân phải nhằm
bảo vệ con người, vì tự do hạnh phúc của con người.
Vì con người là chủ thể của lịch sử nên con người cần được tôn trọng, cần
phải được đảm bảo các quyền chính đáng của mình, phải là mục tiêu của mọi
tiến bộ xã hội. Chủ Nghĩa Tư bản hiện đại vẫn đang còn sự phát triển. Nhưng
theo quy luật tiễn hóa của lịch sử, tương lai sẽ thuộc về một xã hội tốt đẹp hơn.
Một xã hội không có tình trạng áp bức, bót lột, và xã hội đó chỉ có thể là XHCN.
1.1.1.2. Quan niệm Mác-Lênin về nhân tố con người
Con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực lượng đối lập
với giới tự nhiên, sự tác động qua lại giữa cái sinh học và cái xã hội tạo thành
bản chất của con người. Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người,
C.Mác đã nêu lên luận điểm nổi tiếng Luận cương về Phoiơbắc: ‟Bản chất con
người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của một cá nhân riêng biệt. Trong
tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã
hội”.
Theo luận đề trên thì không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể của lịch sử và xã hội. Luận đề đã khẳng định bản chất xã hội
không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người. Trái lại, điều
đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và giới động vật trước hết là
bản chất xã hội và đó cũng là để khắc phục sự thiếu sót của các nhà triết học
trước Mác, không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác cái bản
chất với ý nghĩa là cái phổ biến, là cái mang tính quy luật. Vi vậy cần phải thấy
cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng
đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới.
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù
bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một
cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị
áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam
đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những "người nô lệ
mất nước" và "người cùng khổ". Lôgíc phát triển tư tưởng của Người là xuất
phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với chủ nghĩa
quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm "con người"
của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm "giai cấp vô sản cách mạng". Người đề
cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai
cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác (đặc biệt là nông dân). Người
nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt
tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại
khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm một khối
lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn về cách mạng (chiến lược giải
pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và thực
hiện các chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v...) về thực
chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu
của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính
sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ
đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta.
Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây
dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân chủ
người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao
động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, "lòng thương yêu
nhân dân, thương yêu nhân loại" là "không bao giờ thay đổi". Người có một
niềm tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người. Lòng tin mãnh liệt và vô tận
của Hồ Chí Minh vào nhân dân, vào những con người bình thường đã được hình
thành rất sớm. Từ những năm tháng Người bôn ba tìm đường cứu nước, thâm
nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc sống và tâm tư của những người dân lao
động trong nước và nước ngoài. Người đã khẳng định: "Đằng sau sự phục tùng
tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét, và sẽ
bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến"1. Tin vào quần chúng, theo quan
điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng
sản. Và đây cũng chính là chỗ khác căn bản, khác về chất, giữa quan điểm của
Hồ Chí Minh với quan điểm của các nhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả các bậc sĩ
phu tiền bối gần thời với Hồ Chí Minh) về con người. Nếu như quan điểm của
Hồ Chí Minh: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới
không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân", thì các nhà Nho phong
kiến xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực "lấy dân làm gốc", mặc dù cũng
chủ trương khoan thư sức dân", nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ
coi việc dựa vào dân cũng như một "kế sách", một phương tiện để thực hiện mục
đích "trị nước", "bình thiên hạ". Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí
Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một
quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh
của quần chúng nhân dân. Quan điểm tin vào dân, vào nhân tố con người của
Người thống nhất với quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin: "Quần chúng nhân
dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử".
Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dân của
Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyền thống
nhân ái ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao nhà Nho yêu nước khác có
Ngay từ những ngày đầu xây dựng XHCN, Đảng ta đã khẳng định ‟Con
người là vốn quý nhất” và ‟Muốn xây dựng thành công XHCN thì phải có con
người XHCN”.
Đảng ta đã đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội, nhằm giải quyết hài hòa mỗi quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích
tập thể, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, lợi ích riêng và lợi ích chung.
Đại hội lần thứ VII của Đảng: ‟Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển
là vì con người, do con người trước hết là người lao động ’’.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng: ‟Lấy việc phát huy yếu tố con người là nhân
tố cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững ”.
Đại hội lần thứ IX của Đảng: ‟Nguồn lực con người – yếu tố cơ bản của sự
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Phát triển nền văn hóa tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm xây dựng và phát
huy nguồn lực con người. Đại hội lần thứ Ĩ của Đảng cũng đã nêu: ‟Mọi hoạt
động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính
trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có tinh thần yêu nước
và yêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức tự cường dân tộc, trách nhiệm cao trong lao
động, có lương tâm nghề nghiệp, có tác phong công nghiệp, có ý thức cộng
đồng, tôn trọng nhân nghĩa, có lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình
và cộng đồng xã hội”.
1.2. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN NHÂN TỐ CON
NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
1.2.1. Đặc điểm của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay
1.2.1.1. Đặc điểm của kinh tế thị trường định hướng XHCN trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế
Nền kinh tế thị trường đang hình thành và phát triển
nhất với các quan hệ cung - cầu, tiền tệ, giá cả chung... Bởi vậy, chúng vừa hợp
tác, vừa cạnh tranh với nhau. Mỗi đơn vị kinh tế là một chủ thể độc lập, tự chủ
và tất cả đều bình đẳng trước pháp luật.
Tuy nhiên, mỗi thành phần kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế
riêng nên bên cạnh tính thống nhất của các thành phần kinh tế, chúng còn có sự
khác nhau và mâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị trường ở nước ta có khả năng
phát triển theo những phương hướng khác nhau. Chẳng hạn, các thành phần kinh
tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) tuy có vai trò quan trọng trong phát
triển sản xuất, giải quyết việc làm, đáp ứng nhu cầu về vốn, hàng hóa và dịch vụ
cho xã hội, nhưng vì dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, các thành phần
kinh tế này không tránh khỏi tính tự phát, chạy theo lợi nhuận đơn thuần, nảy
sinh những hiện tượng tiêu cực làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội.
Vì vậy, cùng với sự khuyến khích làm giàu chính đáng của các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế, Nhà nước ta phải sử dụng nhiều biện pháp để ngăn
chặn và hạn chế những khuynh hướng tự phát, những hiện tượng tiêu cực, hướng
sự phát triển của các thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhưng, vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất là Nhà nước phải quan tâm tạo điều
kiện củng cố, phát huy hiệu quả, ra sức xây dựng khu vực kinh tế nhà nước đủ
mạnh để làm tốt vai trò chủ đạo, tránh nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ cấu kinh tế "mở"
Cơ cấu kinh tế "mở" bắt nguồn từ sự phân bố không đều về tài nguyên thiên
nhiên và sự phát triển không đều về kinh tế, kỹ thuật giữa các nước, đáp ứng yêu
cầu quy luật phân công và hợp tác lao động quốc tế. Vì vậy, trong thời đại ngày
nay, mỗi quốc gia muốn phát triển toàn diện cần phải tích cực mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế.
Cơ cấu kinh tế "mở" thích ứng với chiến lược thị trường "hướng ngoại", làm cho
thị trường trong nước thông thoáng và gắn liền với thị trường thế giới. Thông
qua phát triển cơ cấu kinh tế "mở", cùng các hoạt động kinh tế đối ngoại sẽ giúp
phong của nhân dân và của cả dân tộc; bởi, thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhân
dân Việt Nam luôn thừa nhận và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng.
Thứ ba, HTCT mang tính nhân dân rộng rãi. Hiến pháp của nước ta ghi
rõ: “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với
nông dân và đội ngũ trí thức”. Tính nhân dân rộng rãi của HTCT thể hiện chủ
yếu ở mục tiêu, phương thức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTCT.
- Nhân dân là gốc của quyền lực, là chủ của xã hội. Tổ chức của Nhà nước
do nhân dân lập ra, hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước là đầy tớ
của dân chịu sự giám sát tối cao và thường xuyên của dân.
- HTCT bằng mọi hình thức khác nhau để tập hợp, tổ chức mọi người dân
thuộc các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, nghề nghiệp, chính kiến…ở trong và ngoài
nước để tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ tư, HTCT nước ta được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức năng,
nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức
cũng như của cả hệ thống. HTCT ở Việt Nam được tổ chức hết sức rộng rãi, chặt
chẽ, các mối quan hệ ngày càng được xác định rõ ràng hơn. Trong phạm vi hoạt
động của mình, cùng một lúc mỗi một thành viên phải thực hiện các quan hệ có
tính chất khác nhau với các đối tượng khác nhau của HTCT: quan hệ lãnh đạo,
chỉ đạo, hướng dẫn; quan hệ phối hợp, cộng tác, liên kết. Tất cả tạo thành một
mạng lưới chằng chịt, gắn kết chặt chẽ
Thứ năm, HTCT nước ta có thuộc tính bản chất là sự thống nhất giữa tính
giai cấp và tính dân tộc. Ở nước ta, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc luôn gắn
bó, quyện chặt lẫn nhau. Nghiên cứu quá trình dân tộc và quá trình chính trị của
nước ta sẽ đi tới khẳng định sự nổi trội của tính dân tộc trong suốt lịch sử hàng
nghìn năm dựng nước và gĩư nước. Nhận rõ đặc trưng về sự nổi trội của tính dân
tộc không phải là coi nhẹ tính giai cấp, mà là khắc phục quan niệm tuyệt đối hoá
bắc và Đông bắc. Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước
ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ởNam
Trung Bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các
tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người
ở Tây Nguyên.
•
Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt
cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của
người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong
hàng nghìn năm nay. Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung
Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương
Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Việt Nam đã có những thay
đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng
cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam
hiện đại.
Một số yếu tố thường được coi là đặc trưng của văn hóa Việt Nam khi nhìn nhận
từ bên ngoài bao gồm tôn kính tổ tiên, tôn trọng các giá trị cộng đồng và gia
đình, thủ công mỹ nghệ, lao động cần cù và hiếu học. Phương Tây cũng cho rằng
những biểu tượng quan trọng trong văn hóa Việt Nam bao gồm rồng, rùa, hoa
sen và tre.
1.2.1.4. Đặc điểm của giáo dục, đào tạo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế
Về mục tiêu giáo dục toàn diện, trước đây thường được hiểu đơn giản là:
Học sinh phải học đầy đủ tất cả các môn học thuộc các lĩnh vực khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội, rồi thì cả về nghệ thuật, thể dục thể thao…; chú trọng
dạy chữ hơn dạy người, chú trọng truyền bá kiến thức hơn đào tạo, bồi dưỡng
khắc phục được những yếu kém, những hạn chế, những bất cập của giáo dục tồn
tại trong nhiều năm qua và đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng