Tiểu luận Triết học
Tiểu luận triết học :
Vận dụng quan điểm triết học Mác xít
về quy luật quan hệ sản xuất phải phù
hợp
, Tháng năm
1
Tiểu luận Triết học
MỤC LỤC
2
Tiểu luận Triết học
PHẦN MỞ ĐẦU
Từ khi xuất hiện con người trên hành tinh này đến ngày nay đã trải qua
5 phương thức sản xuất tồn tại trong 5 chế độ xã hội: công xã nguyên thuỷ,
chiếm hữu nô lệ, phong kiến tập quyền, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
Tư duy nhận thức của con người không dừng lại ở một chỗ mà ngày càng
phát triển hoàn thiện hơn. Từ đó kéo theo sự thay đổi phát triển lực lượng sản
xuất cũng như quan hệ sản xuất. Từ hái lượm săn bắt để duy trì cuộc sống
đến trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu và đến ngày nay trình độ khoa học đã
đạt tới mức tột đỉnh. Mà cốt lõi của nền sản xuất xã hội chính là sự thống
nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, như Mác và
Ăngen nói, đó là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng
sản xuất.
Từ quan điểm này của chủ nghĩa Mác xít, Đảng và Nhà nước ta đã vận
dụng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội nước ta trong giai đoạn từ đổi mới
đến nay.
Biện chứng quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất tạo điều kiện cho
chúng ta có được nhận thức về sản xuất xã hội và kinh tế. Thấy được ý nghĩa
đó, tôi xin bày tỏ một vài ý kiến bản thân về vấn đề: "Vận dụng quan điểm
triết học Mác xít về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ
làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Xét đến cùng đó là nguyên nhân sâu xa
của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo
4
Tiểu luận Triết học
trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời
đại kinh tế trong lịch sử.
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày
càng to lớn. Sự phát triển khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh
mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức
độ trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất,
trong đời sống và trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp". Những phát minh
khoa học trở thành điểm xuất phát ra đời những ngành sản xuất mới, những
máy móc thiết bị mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới, năng lượng mới.
Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất, trở thành 1 yếu tố
không thể thiếu được của sản xuất của sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất
có bước phát triển nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng khoa học và cách
mạng hiện đại. Yếu tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện
đại không còn là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa học. Có
thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất
hiện đại.
Nước ta từ trước tới nay nền kinh tế lấy nông nghiệp là chủ yếu, trình
độ khoa học kỹ thuật kém phát triển. Công cụ sản xuất của ta vừa nhỏ, vừa lạc
hậu so với trình độ phát triển chung trên thế giới. Thực tế trong nhiều ngành
sản xuất thủ công vẫn là chủ yếu, lao động thủ công chiếm tỉ lệ cao, cơ giới
hoá vẫn còn chưa phát triển. Mặt khác, trong 1 thời gian khá dài, lực lượng
sản xuất bị kìm hãm trong lối suy nghĩ bảo thủ, trì trệ. Chính bởi vậy, Đại hội
Đảng 6 đặt ra nhiệm vụ "Giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác
mọi khả năng tiềm tàng của đất nước, sử dụng có hiệu quặ giúp đỡ của quốc
tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất". Chúng ta đang ở trong giai
đoạn mà cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển một cách mạnh
từng xã hội. Nó quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quah hệ
phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ sản xuất khác (sự phát triển của
nhân loại đã chứng kiến có 2 loại hình sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất; sở
hữu tư nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu tư nhân là loại hình sở hữu trong đó
6
Tiểu luận Triết học
tư liệu sản xuất tập trung vào tay một số ít người, còn đại đa số không có hoặc
có rất ít tư liệu sản xuất. Vì vậy quan hệ giữa người với người trong sản xuất
vật chất và trong đời sống xã hội là quan hệ thống trị và bị trị, bóc lột và bị
bóc lột. Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất
thuộc về mọi thành viên trong cộng đồng. Nhờ đó, quan hệ người với người là
quan hệ bình đẳng, hợp tác và giúp đỡ nhau.
Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản
xuất, đến tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất. Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm
hãm quá trình sản xuất. Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất do quan hệ sở
hữu quyết định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu. Tuy nhiên, cũng có
quan hệ tổ chức và quản lý không thích ứng với quan hệ sở hữu, làm biến
dạng quan hệ sở hữu.
Quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất ra mặc dù do quan hệ sở hữu tư
liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất chi phối, song nó kích thích
trực tiếp đến lợi ích của con người, tác động đến thái độ của con người trong
lao động sản xuất, và do đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển.
Ở nước ta vừa tồn tại quan hệ sản xuất mởi của quá trình đi lên chủ
nghĩa xã hội vừa tồn tại quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ. Chúng ta quan
niệm chưa đúng về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý sản xuất
và phân phối sản phẩm chưa hợp lý. Điều đó khiến nền kinh tế nước ta chưa
thực sự phát triển. Muốn phát triển, Đảng và Nhà nước cần xác định rõ quan
hệ sở hữu cần thiết của quá trình đổi mới, tổ chức quản lý sản xuất (đặc biệt là
sự phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động) một cách khoa học,
phân phối sản phẩm mở rộng. Đó chính là xây dựng một quan hệ sản xuất lý
sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có…
trong khi đó từ trước đến giờ các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là
những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở
thành xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại 1 cuộc
cách mạng xã hội"
8
Tiểu luận Triết học
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản
xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất quyết định mục đích của sản xuất, tác động
đến thía độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao
động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ… do đó tác
động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp sẽ
thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, ngược lại sẽ kìm hãm. Và khi
quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất thì theo quy luật
chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù
hợp để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất vừa tác động cho nhau lại vừa
mâu thuẫn với nhau. Việc giải quyết mâu thuẫn này là yêu cầu cần có. Nó
phải thông qua nhận thức và cải tạo xã hội của con người. Trong xã hội có
giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, quan cách mạng xã hội.
II. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI NƯỚC TA TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
Đối với nước ta để phù hợp giữa lao động sản xuất và quan hệ sản xuất,
Đảng nêu ra công nghiệp hoá đi đôi hiện đại hoá. Mặt khác chúng ta phải chú
trọng xây dựng và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đây là 2 nhiệm vụ thực hiện đồng thời chúng luôn tác động thúc đẩy
và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. Bởi lẽ "Công nghiệp hoá - hiện đại hoá"
tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới thì việc xây dựng
sáng suốt. Hay quan điểm từ Đại hội Đảng VI cũng khẳng định: Không những
khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể mà còn phải
phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều
quan trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước
trng thời kỳ quá độ.
10
Tiểu luận Triết học
Ngoài ra nền kinh tế nhiều thành phần này còn được vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc thay đổi cơ chế quản lý kinh tế theo hướng: xoá bỏ cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp hình thành cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN khẳng định việc thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng
quan hệ sản xuất mới được tạo ra bởi nền kinh tế nhiều thành phần.
2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất được vận dụng trong quá trình CNH- HĐH đất nước
CNH-HĐH được xem xét từ tư duy triết học là thuộc phạm trù của lực
lượng sản xuất trong mối quan hệ biện chứng của phương thức sản xuất.
Muốn CNH- HĐH đất nước cần phải có tiềm lực về kinh tế, con người, trong
đó lực lượng lao động là yếu tố vô cùng quan trọng. Ngoài ra phải có sự phù
hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Với tiềm năng lao động lớn nhưng công cụ lao động lại hết sức thô sơ,
lạc hậu, CNH- HĐH đứng trước khó khăn lớn cần nhanh chóng khắc phục.
Đảng ta đã thực hiện một cơ cấu sở hữu hợp quy luật, gắn liền với một cơ cấu
thành phần kinh tế hợp lý, và trong thời cơ cũng như thách thức to lớn hiện
nay, đất nước ta đang có rất nhiều tiềm năng phát triển, mà cốt lõi của sự phát
triển cũng vẫn là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất.
Mục tiêu của CNH-HĐH đất nước đang được nỗ lực thực hiện và đã đạt
được nhiều thành tựu đáng kể. Cùng với nó vẫn là những khó khăn, hạn chế
song tương lai phát triển đất nước vẫn mang nhiều yếu tố chủ quan.
ổn định 6,7%; 6,8% và 7,0%.
Nông nghiệp phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, nghề rừng
và thuỷ sản. Sản lượng lương thực tăng nhanh từ 21,5% triệu tấn (1990) lên
27,5 triệu tấn (1995) và 34,5 triệu tấn (năm 2000), gần 36 triệu tấn (năm
2002), bình quân mỗi năm tăng 1,4% triệu tấn. Tốc độ tăng lương thực bình
quân 5%/năm, cao hơn tốc độ tăng dân số (1,8%) nên sản lượng lương thực
bình quân đầu người tăng từ 304 kg (1985) lên 364 Kg (1995); 4448 Kg
12
Tiểu luận Triết học
(2000) và 450 Kg (2002). Việt Nam từ một nước thiếu lương thực đến 1989
trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới. Sở dĩ nông nghiệp tăng nhanh là
nhờ những đổi mới trong cơ chế chính sách quản lý nông nghiệp: nhân dân
được giao ruộng đất để sử dụng lâu dài, phát triển trang trại, khuyến khích
khai hoang mở rộng diện tích canh tác, nâng cao năng suất cây trồng. Những
thành tựu trên mặt trận lương thực đã góp phần quan trọng vào sự ổn định đời
sống nhân dân.
Trong 10 năm 1991- 2000, bình quân mỗi năm xuất khẩu gạo tăng
7,6%, cao su tăng 12,4%, cà phê tăng 17,7%, rau quả tăng 10,8%, hạt tiêu
24,8%, hạt điều tăng 37,5%. Tổng giá trị nông sản xuất khẩu chiếm 40% tổng
giá trị xuất khẩu cả nước. Một nền nông nghiệp hàng hoá nhiều thành phần
gắn với thị trường quốc tế.
Công nghiệp tăng liên tục, bình quân trong thời kỳ 1991-1995 tăng
13,7%; 1996-2000 tăng 13,2%. Công nghiệp tăng nhanh là do đầu tư lớn của
nhà nước trong những năm trước đây cho một số ngành quan trọng như dầu
khí, điện, xi măng, thép, giấy, đường nhưng quan trọng hơn là có sự đổi mới
cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước, xóa bỏ bao cấp, nhận vốn đầu tư
nước ngoài.
Hệ thống đường giao thông, bưu điện xây dựng mới và nâng cấp trên
khắp mọi miền của tổ quốc: quốc lộ 1A, 5, 18, sân bay, bến cảng được nâng
cấp và xây dựng, thương mại và dịch vụ có nhiều khởi sắc.
hội này.
Ngoài ra, cũng không thể không kể đến một số nguyên nhân khách quan
quan trọng, đó là:
- Quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam được tiến hành muộn, đi sau các
nước phương tây và một số nước châu Á. Do bắt đầu muộn nên Việt Nam có
thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm, cả kinh nghiệm thành công lẫn không
thành công của các nước đi trước, để trên cơ sở đó, rút ra bài học bổ ích cho
cách đi riêng của bản thân mình.
14
Tiểu luận Triết học
- Trong quá trình CNH-HĐH, Việt Nam có thể tranh thủ cơ hội đi tắt
đón đầu bằng việc nhập các thiết bị kĩ thuật tiên tiến để đổi mới thiết bị kĩ
thuật đã lạc hậu.
- Quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam được tiến hành trong môi trường
hoà bình với xu hướng hoà hoãn và hợp tác quốc tế. Nhờ vậy, nước ta mở
rộng quan hệ bạn bè và hợp tác với nhiều nước nhằm tranh thủ sự viện trợ,
giúp đỡ của các nước trên thế giới. Đồng thời xu hướng quốc tế hoá đời sống
kinh tế thế giới đã tạo điều kiện và thời cơ cho Việt Nam có thể sử dụng khoa
học, công nghệ mới, nguồn vốn của các nước giàu vào sự nghiệp CNH-HĐH,
trên cơ sở đó, tham gia vào quá trình phân công và hợp tác quốc tế.
Có thể nói, môi trường quốc tế và xu hướng phát triển mới của thếgiới
đang tạo tiền đề bên ngoài thuận lợi cho quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam.
Việc Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, OPEC, việc quốc
hội Mĩ thông qua hiệp dịnh thương mại Việt - Mỹ gần đây… là những bằng
chứng khẳng định điều đó.
2. Hạn chế
Do nền kinh tế nước ta có điểm xuất phát thấp chủ yếu vẫn là nông
nghiệp, công nghiệp còn nhỏ bém, kết cấu hạ tầng kém phát triển, cơ sở vật
chất kỹ thuật chưa xác định được nhiều. Mặc dù cơ cấu các ngành GDP có
chuyển dịch rõ rệt những cơ hội nhưng cơ cấu lao động chậm biến đổi. Hiện
tác dộng của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.
Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta cần phải hiểu và vận dụng tốt quy
luật này để phát triển kinh tế. Trên thực tế không thể có sự phù hợp tuyệt đối
giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Song phải tuỳ theo tình hình
thực tế mà chọn giải pháp phù hợp. Sự vận dụng đúng đắn của Đảng và Nhà
nước sẽ đem lại thành tựu vô cùng to lớn cho nền kinh tế - xã hội nước ta ta
hoàn thành tốt mục tiêu CNH-HĐH đất nước. Tuy vậy, hạn chế, yếu kém còn
rất nhiều, đòi hỏi cần có sự nỗ lực hết sức, phát huy mọi tiềm năng vốn có để
khắc phục.
Chỉ tính từ đổi mới đến nay, đất nước ta đã có những bước chuyển mình
lớn lao trong đời sống kinh tế xã hội. Đó là nhờ sự nhận thức và vận dụng kịp
thời quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, mở ra con
đường đầy hứa hẹn cho sự phát triển của đất nước. Trong tương lai, chúng ta
sẽ là những người gánh vác nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước, vì vậy
ngay từ lúc này cần nhận thức rõ ràng và đúng đắn mối quan hệ biện chứng
của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, như quan điểm triết học Macxit
thì đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất.
17
Tiểu luận Triết học
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Triết học Mác - Lênin
NXB Chính trị Quốc gia
2. Giáo trình Lịch sử kinh tế
3. Văn kiện Đại hội Đảng
4. Một số bài báo, bài luận khác.
18
Tiểu luận Triết học