1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC HƯNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
2 Mục lục
2
Danh mục chữ viết tắt
3
Mở đầu
4
Chƣơng 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƢỜI
10
1.1.
Khái niệm giáo dục quyền con ngƣời
10
1.2.
Chủ thể, khách thể, hình thức, nội dung, phƣơng pháp giáo dục
quyền con ngƣời
32
1.3.
Vai trò của giáo dục quyền con ngƣời trong điều kiện xây dựng nhà
nƣớc pháp quyền ở nƣớc ta hiện nay
43
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƢỜI Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
46
PHỤ LỤC
129 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- CEDAW : Công ƣớc Liên Hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt đối xử với phụ nữ
- CRC : Công ƣớc Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em.
- ECOSOC : Hội đồng kinh tế xã hội.
- GDNQ : Giáo dục nhân quyền
- ILO : Tổ chức lao động quốc tế
- NGO : Tổ chức phi chính phủ
- RADDA BARNEN: Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển
- UNDP : Chƣơng trình phát triển Liên Hợp Quốc
- UNESCO : Tổ chức văn hóa khoa học giáo dục của Liên Hợp
Quốc
- UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc
- VOV : Chƣơng trình tiếng nói Việt Nam
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con ngƣời là những yếu tố cơ bản, nền tảng của một xã hội dân
chủ, văn minh. Tƣ tƣởng về quyền con ngƣời (nhân quyền) đã hình thành từ
dựng các công ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời làm cơ sở hình thành hệ thống
pháp luật quốc tế về quyền con ngƣời hiện nay. Qua Tuyên ngôn thế giới về
quyền con ngƣời 1948, vấn đề nhân quyền đã chuyển sang một bƣớc ngoặt
mới trong lịch sử nhân loại, trở thành một quan hệ cơ bản đƣợc điều chỉnh
bằng pháp luật quốc tế. Đến nay quyền con ngƣời đã đƣợc ghi nhận, khẳng
định trong Hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam, kể từ khi giành đƣợc độc lập (năm 1945), Đảng và Nhà
nƣớc ta luôn tôn trọng quyền con ngƣời. Tuyên ngôn độc lập của nƣớc Việt
Nam dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trƣờng Ba
Đình, Hà Nội ngày 2/9/1945 đƣợc coi là một văn kiện có tính lịch sử trên
phƣơng diện quốc tế về quyền con ngƣời. Trên cơ sở đó, quyền con ngƣời đã
đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp nƣớc ta: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm
1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Điều 50 Hiến pháp năm
1992 của nƣớc ta khẳng định: "Ở nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con ngƣời về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội đƣợc tôn
trọng và bảo đảm thực hiện". Gần đây nhất, vấn đề nhân quyền đã đƣợc tiếp
tục khẳng định trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng
khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng: "Phải bảo đảm
quyền con ngƣời, quyền công dân và các điều kiện để mọi ngƣời đƣợc phát
triển toàn diện”[35, tr. 100]. Chỉ thị 12 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng
(khoá VII) xác định: “Tăng cƣờng công tác tuyên truyền giáo dục trong nhân 8
dân ta để mọi ngƣời hiểu rõ quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nƣớc về quyền con ngƣời và quyền công dân…”.
Vấn đề nhân quyền có vai trò quan trọng nhƣ vậy, nên nhiều nƣớc trên
thế giới coi trọng việc giáo dục nhân quyền nhằm làm cho mỗi con ngƣời ý
thức biết tôn trọng quyền của ngƣời khác và tự mình biết bảo vệ quyền của
mình. Năm 1978 UNESCO cũng đã triệu tập Hội nghị quốc tế về giáo dục
Ngọc Minh (Tạp chí Cộng sản, số 10, 1983); "Giáo dục ý thức pháp luật để
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và xây dựng con người mới" của
Phùng Văn Tửu (Tạp chí Giáo dục lý luận, số 4, 1985); "Giáo dục ý thức
pháp luật" của Nguyễn Trọng Bình (Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4, 1989);
"Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật" đề tài
khoa học cấp nhà nƣớc, mã số 07-17 do Viện Nhà nƣớc - Pháp luật thuộc
Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn chủ trì; "Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", đề tài khoa học cấp
Bộ, mã số 92-98-223ĐT của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tƣ
pháp; "Tìm kiếm mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một
số dân tộc ít người" đề tài khoa học cấp bộ của Viện Nghiên cứu Khoa học
pháp lý; "Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta", luận án Phó tiến sĩ của
Đinh Xuân Thảo; "Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam",
luận án Phó tiến sĩ của Dƣơng Thị Thanh Mai; "Giáo dục pháp luật cho dân
tộc Khơme - Nam Bộ (qua thực tiễn tỉnh An Giang)", luận án Thạc sĩ của Lê
Văn Bền; "Bàn về giáo dục pháp luật" sách của Trần Ngọc Đƣờng - Dƣơng
Thị Thanh Mai; "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật" sách của Đào
Trí Úc chủ biên; "Một số vấn đề về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai
đoạn hiện nay" của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật - Bộ Tƣ pháp; "Đổi mới 10
giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường chính trị ở nước ta hiện nay",
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Khoa Nhà nƣớc - Pháp luật, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; "Thực trạng và phương hướng đổi mới giáo
dục pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở nước ta hiện nay", luận văn Thạc
sĩ của Đặng Ngọc Hoàng
Trong khi đó vấn đề giáo dục quyền con ngƣời mới chỉ đƣợc nghiên cứu
ở mức độ rất hạn chế. Đến nay, mới có một công trình đi sâu nghiên cứu vấn
giáo dục quyền con ngƣời ở nƣớc ta trong thời gian qua; trên cơ sở đó đề
xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt vấn đề giáo dục quyền con ngƣời
ở Việt Nam.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà nƣớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quan hệ giữa Nhà nƣớc pháp quyền
với quyền con ngƣời, về giáo dục quyền con ngƣời ở nƣớc ta.
Luận văn đặc biệt coi trọng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử để nghiên cứu nhà nƣớc pháp quyền với việc giáo dục quyền con ngƣời;
sử dụng phƣơng pháp thống kê, hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp để
đánh giá thực trạng giáo dục quyền con ngƣời ở nƣớc ta hiện nay nhằm phân
tích, luận chứng một cách khoa học khi đề ra sự cấp thiết, phƣơng hƣớng, giải
pháp tăng cƣờng giáo dục quyền con ngƣời ở nƣớc ta.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn đƣợc chia làm 3 chƣơng, 8 tiết. 12
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƢỜI
1.1. KHÁI NIỆM GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƢỜI
1.1.1. Khái niệm quyền con ngƣời
Quyền con ngƣời - Nhân quyền là một phạm trù lịch sử. Từ thời cổ đại
những tƣ tƣởng và yêu sách về các quyền, mà trƣớc hết yêu sách về các quyền
con ngƣời đã đƣợc phát sinh ở vùng Địa Trung Hải là nơi có nền văn minh,
kinh tế phát triển rực rỡ nhất lúc bấy giờ. Sau khi các quyền con ngƣời đƣợc
triển khai ở các quốc gia trong vùng và khu vực xung quanh rồi mới xâm
nguyên mới về quyền con ngƣời, thời kỳ mà quyền con ngƣời đƣợc đề cao,
đƣợc chính thức ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật.
Mặc dù vấn đề quyền con ngƣời đã đƣợc hình thành từ rất sớm trong lịch
sử nhân loại. Ở Việt Nam cũng vậy, nhƣng do nó đƣợc nhìn nhận dƣới những
góc độ khác nhau (triết học, chính trị học, kinh tế học, luật học ), xuất phát từ
những mục đích, màu sắc tƣ tƣởng, lãnh địa chính trị của các quốc gia khác
nhau; nên mặc dầu đã có nhiều hội thảo quốc tế, nhiều công trình nghiên cứu,
nhƣng khái niệm quyền con ngƣời vẫn tồn tại một cách trừu tƣợng, chung
chung và ngày càng trở nên mơ hồ, rắc rối hơn.
Do đó, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về khái niệm quyền con ngƣời và nội
dung của nó chính là cơ sở, nền tảng để xây dựng phƣơng hƣớng, nội dung,
phƣơng pháp, điều kiện cho việc thực hiện giáo dục quyền con ngƣời ở nƣớc
ta hiện nay.
Khái niệm quyền con người (Nhân quyền)
"Nhân quyền" là một từ Hán Việt, theo "Đại Từ điển Tiếng Việt" của
Viện Ngôn ngữ học thì "Nhân quyền" là "quyền con ngƣời" [104, tr. 1239].
Từ điển này mới chỉ giải trình đơn thuần nghĩa Hán - Việt của từ Nhân quyền,
mà chƣa đề cập đến khái niệm của vấn đề này theo nghĩa đƣợc khái quát hóa
từ những đặc điểm, nội dung, tính chất đặc thù của nó. 14
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con ngƣời, mỗi
định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau về góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân
quyền. Tuy nhiên, tổng hợp lại các quan niệm đó đƣợc phân chia thành ba
quan niệm chủ yếu, khác nhau về quyền con ngƣời nhƣ sau :
- Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con ngƣời là một thực thể tự
nhiên, nên quyền con ngƣời phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa
là quyền con ngƣời, quyền lợi của con ngƣời với tƣ cách là ngƣời, gắn liền
với cá nhân con ngƣời, không thể tách rời.
chẽ không thể tách rời. Xuất phát từ quan niệm này về quyền con ngƣời nên
chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con ngƣời: "Về bản chất bao
hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [65, tr. 12].
Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con ngƣời là "động vật xã
hội" [63, tr. 855] có khả năng "tái sinh ra con ngƣời", con ngƣời là động vật cao
cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này, cũng nhƣ quan niệm thứ
nhất, quyền con ngƣời trƣớc hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con ngƣời
không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà
nƣớc mà quyền con ngƣời trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản
chất tự nhiên, đƣợc thể hiện ở quyền đƣợc sống, quyền tự do, quyền đƣợc
sáng tạo, phát triển, quyền đƣợc đối xử nhƣ con ngƣời, xứng đáng với con
ngƣời.
Xét về mặt thứ hai của quan niệm này, con ngƣời mặc dù là động vật cao
cấp nhất của tự nhiên, nhƣng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp,
con ngƣời đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội.
Trong luận cƣơng thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực
của nó, bản chất con ngƣời là tổng hòa những quan hệ xã hội" [64, tr. 21].
Nhƣ vậy, con ngƣời mặc dù vẫn là thực thể tự nhiên sinh học, là bộ phận của
tự nhiên, nhƣng bên cạnh đó, để đƣợc gọi là ngƣời nó còn phải tồn tại trong
cộng đồng xã hội, và biến đổi cùng với cộng đồng xã hội của mình. Bằng khả
năng của mình, con ngƣời tác động vào tự nhiên, xã hội làm biến đổi tự nhiên 16
và xã hội để phục vụ nhu cầu tự tồn tại, phát triển của mình. Ngƣợc lại, những
biến đổi của tự nhiên, của xã hội do con ngƣời tạo ra cũng tác động chi phối
trở lại con ngƣời, làm biến đổi con ngƣời. Do đó xét về khía cạnh xã hội, thì
"quyền con ngƣời, ngay từ khi có xã hội loài ngƣời, bên cạnh bản tính tự
nhiên còn in đậm bản tính xã hội" [65, tr. 13].
Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà nƣớc đã tạo ra những
Nhận thức khái niệm quyền con ngƣời với đầy đủ bản chất, thuộc tính
của nó cho thấy quyền con ngƣời là một phạm trù phức tạp. Vì vậy, cần thiết
phải đƣa ra định nghĩa về quyền con ngƣời. Tuy nhiên, nếu chỉ đƣa ra định
nghĩa quyền con ngƣời với tƣ cách là một phạm trù riêng biệt của chính trị
học, kinh tế học, triết học, luật học sẽ là điều phiến diện, không đầy đủ, vì nhƣ
thế nó mới chỉ thể hiện đƣợc quyền con ngƣời dƣới góc độ khoa học, mà
không thể hiện đƣợc bản chất cũng nhƣ tính đa diện của vấn đề này. Hay nói
cách khác, nó mới chỉ thể hiện trạng thái tĩnh của quyền con ngƣời.
Jacques Mourgon (giáo sƣ đại học khoa học xã hội Toulouse) đƣa ra
định nghĩa: "Quyền con ngƣời là những đặc quyền đƣợc các quy tắc điều
khiển mà con ngƣời giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân
và với chính quyền" [68, tr. 12]. Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền
con ngƣời ở khía cạnh tự nhiên của nó.
Một học giả Việt Nam cho rằng:
Quyền con ngƣời là các khả năng của con ngƣời đƣợc đảm bảo bằng pháp
luật (luật quốc gia và luật quốc tế) về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các
giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong
phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình và của ngƣời
khác trên cơ sở pháp luật [31, tr. 34].
Định nghĩa này cũng mới chỉ đề cập đến quyền con ngƣời với tƣ cách là
phạm trù luật học. 18
Chúng tôi nhận thức rằng, khái niệm quyền con ngƣời phải là một phạm
trù tổng hợp, bao hàm cả bản chất và những thuộc tính đa diện - nhiều mặt
của nó. Có một định nghĩa đang đƣợc sử dụng phổ biến trong giảng dạy,
nghiên cứu về nhân quyền ở nƣớc ta hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền con
ngƣời) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con ngƣời, với tƣ
cách là thành viên cộng đồng nhân loại, đƣợc thể chế hóa bằng pháp luật quốc
Tây hiện đang rất quan tâm đến vấn đề giáo dục quyền con ngƣời. Vấn đề này
đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục cho mọi đối tƣợng cả trong phạm vi
quốc gia và cả trên phạm vi toàn cầu dƣới nhiều hình thức, phƣơng pháp khác
nhau, nhằm đạt đƣợc những mục đích khác nhau. Xuất phát từ lợi ích chính trị
của mình, họ chỉ tập trung vào việc giáo dục một số quan điểm về quyền con
ngƣời dƣới đây:
Ưu tiên giáo dục các quyền tự nhiên:
Quan niệm này xuất phát từ việc tuyệt đối hóa quyền tự nhiên của con
ngƣời, dẫn đến việc tuyệt đối hóa cá nhân trong quan hệ cộng đồng xã hội, coi
quyền con ngƣời là bất khả xâm phạm, không phụ thuộc vào không gian, thời
gian, quốc gia, dân tộc. Mục đích của việc giáo dục quan điểm này nhằm:
Thứ nhất, đối với dân chúng trong nƣớc, quan điểm này tạo ra đƣợc một
hình thức xã hội dân chủ. Mọi ngƣời đều có quyền nhƣ nhau trong việc thực
hiện các mục tiêu, ý tƣởng sống, đƣợc quyền tự do, quyền sở hữu, quyền
đƣợc an toàn và chống áp bức
Thứ hai, khi quyền, tự do cá nhân đƣợc đề cao tuyệt đối sẽ dẫn đến việc
triệt tiêu quyền lợi của tập thể, nhóm, giới, xóa nhòa quyền giai cấp và sẽ dẫn
đến hệ quả mà giai cấp tƣ sản - giai cấp đang thống trị xã hội mong muốn là ý
thức đấu tranh giai cấp trong xã hội bị thủ tiêu, ý thức đấu tranh đòi quyền lợi
của tập thể dân cƣ, sắc tộc, bộ phận xã hội bị xóa bỏ. 20
Để hiểu rõ quan điểm này của giai cấp tƣ sản, chúng tôi xin nêu một số
dẫn chứng cụ thể sau:
+ Nhà hoạt động xã hội ngƣời Mỹ Barbara B.Bird đã viết:
chúng tôi khai quốc bằng một cuộc cách mạng chống chủ nghĩa thực
dân áp bức. Những sự kiện ấy kết hợp với chủ nghĩa cá nhân thô thiển. Sự
thiếu chủ nghĩa cổ điển, sự tin tƣởng vào những tự do mà Hiến chƣơng về
quyền lợi (Bill of Rights) đảm bảo đã dẫn đến sự chấp nhận bạo lực khi dân
Hoạt động tự do của con ngƣời là một quyền tự nhiên, vì vậy, không cần
phải liệt kê lại những quyền gì là đƣợc phép: tất cả những gì luật pháp không
nghiêm cấm đều đƣợc phép làm; ngƣợc lại, cần phải xác định rõ những điều
cần nghiêm cấm dĩ nhiên là có xét đến những quy định trong Hiến pháp [47,
tr. 370].
Đặc trƣng cơ bản cho các quyền tự do của con ngƣời đƣợc Hiến pháp
của Pháp ghi nhận là quyền sở hữu. Ở đây, quyền này đƣợc quan niệm nhƣ là
quyền sở hữu, sử dụng hay phân chia từng phần tùy theo ý chí chủ nhân. Theo
một số nhà nghiên cứu thì quyền này đã đƣợc phản ánh một cách nhất quán và
chi tiết hóa qua các tiêu chuẩn của Bộ luật Dân luật của Napoleon năm 1804.
Mà Bộ luật này theo nhận xét của Ăngghen chính là: "Là khung Bộ luật cơ
bản mẫu mực của xã hội tƣ bản". Với tinh thần coi tài sản sở hữu là nền tảng
của tự do nêu trên, Điều 554 Bộ Dân luật Pháp quy định: "Sở hữu là quyền
đƣợc sử dụng và phân chia tài sản hoàn toàn tuyệt đối miễn sao việc sử dụng
và phân chia tài sản không phạm vào những gì sắc luật và quy chế không
cấm". Nhà làm luật không có quyền xâm phạm hoặc hạn chế quá mức việc
chiếm giữ, sử dụng và phân chia tài sản, phải theo đúng nguyên tắc: "Cho phép
làm tất cả những gì không gây phƣơng hại đến những ngƣời khác, hay làm hại
đến lợi ích xã hội" [47, tr. 372], hoặc theo ý kiến của Giscard d'Estaing thì
nhà làm luật: 22
Chỉ có đƣợc quyền can thiệp vào các quan hệ kinh tế tự do dựa trên cơ sở
cạnh tranh và thị trƣờng trong những trƣờng hợp bất đắc dĩ hoặc trong những
trƣờng hợp phải kìm lại sự tiến triển buộc cá nhân phải mất qua nhiều công sức
vất vả không đáng có, hoặc nhằm mục đích thay đổi quá trình chuyên môn hóa
nền kinh tế đang khiến nó phụ thuộc quá vào ngƣời cấp vốn và thị trƣờng quốc
tế [47, tr 372].
Theo quy định của Hiến pháp Pháp, một cơ sở quan trọng để bảo đảm
tƣ sản. Vấn đề này tiếp tục đƣợc đề cao trong quá trình phát triển của chủ
nghĩa tƣ bản vì những lý do chính trị của giai cấp tƣ sản. Hiện nay, một số
nhà khoa học, nhà chính trị tƣ sản vẫn tiếp tục phủ nhận ý nghĩa của các
quyền về kinh tế - xã hội đối với toàn bộ các quyền về chính trị, dân sự và các
quyền, tự do khác của con ngƣời. Họ cho rằng các quyền dân sự, chính trị có
tầm quan trọng hàng đầu trong việc đảm bảo thực hiện các quyền con ngƣời.
Thậm chí, họ còn phủ nhận cả trách nhiệm pháp lý của các quốc gia trong
việc bảo đảm thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa. Mặc dù các
quyền đó đã đƣợc ghi rõ trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời và
các Công ƣớc quốc tế khác về quyền con ngƣời. Một minh chứng rất điển
hình cho luận điểm này của giai cấp tƣ sản là việc Liên Hợp Quốc cùng lúc
thông qua hai "Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị" và "Công
ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa". Giải thích về vấn đề
này, La-lê-ri Sa-lit-de cho rằng:
Khi Liên Hợp Quốc quyết định thảo ra một hiệp ƣớc về quyền con
ngƣời, Liên Xô tham gia hoàn chỉnh hiệp ƣớc này. Lập trƣờng của Liên Xô về
những quyền xã hội - kinh tế rất cứng rắn, khó mà các nƣớc tƣ bản thỏa hiệp
đƣợc với Liên Xô trên lĩnh vực này. Tuy thế, ngƣời ta vẫn tìm ra đƣợc cách
nhân nhƣợng nhau, đáng lẽ thảo chỉ một hiệp ƣớc về quyền con ngƣời, ngƣời
ta đã thảo ra hai bản. Hiệp ƣớc quốc tế về các quyền xã hội, kinh tế và văn
hóa, chủ yếu phản ánh quan điểm của Liên Xô và hiệp ƣớc quốc tế về các 24
quyền công dân và quyền chính trị của con ngƣời phản ánh chủ yếu quan
điểm phƣơng Tây [107, tr. 3].
Ông cũng cho rằng, hiện có nhiều ngƣời nghi ngờ thuật ngữ "các quyền
xã hội - kinh tế", họ thậm chí còn không cả thừa nhận các quyền này nhƣ là
một bộ phận trong toàn bộ các quyền cơ bản của con ngƣời và không chịu coi
đó là những quyền phải đƣợc nhà nƣớc bảo đảm. Cơ sở của quan điểm này là
để khiếu nại lên tòa án Hiến pháp.
Giáo dục quan điểm về quyền con người là tuyệt đối, vĩnh hằng, phổ
biến:
Chủ nghĩa nhân bản trừu tƣợng của giai cấp tƣ sản cho rằng, nhân quyền
là quyền lợi vốn có không thể tƣớc đi đƣợc của con ngƣời với tƣ cách là con
ngƣời. Mà quyền con ngƣời do "luật lệ của tự nhiên và của đấng tạo hóa đã
cho họ đƣợc hƣởng" [93, tr. 15] hoặc do "Quốc hội thừa nhận và tuyên bố, với
sự chứng kiến và sự bảo hộ của đấng tối cao, các quyền sau đây của con
ngƣời và của công dân" [94, tr. 21].
Vì thế, quyền con ngƣời trở nên tuyệt đối, vĩnh hằng và phổ biến. Thậm
chí các nhà lý luận chính trị của giai cấp tƣ sản còn cho rằng quan niệm nhân
quyền của họ nhƣ là giá trị phổ biến mà toàn thế giới phải tuân thủ.
Giáo dục quan niệm về nhân quyền cao hơn chủ quyền:
Cũng với căn cứ xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa nhân bản trừu
tƣợng, luận điểm của các nhà lý luận, chính trị tƣ sản cho rằng, con ngƣời là
điểm xuất phát và cũng là điểm cuối cùng, là giá trị cao nhất trong mọi giá trị.
Vì thế, vấn đề thứ nhất của mọi quan hệ quốc tế là con ngƣời, quyền con
ngƣời. Nó còn cao hơn cả vấn đề chủ quyền quốc gia. Khi quyền con ngƣời ở
một quốc gia nào đó bị xâm phạm thì các nƣớc khác có nghĩa vụ phải can
thiệp để bảo vệ quyền con ngƣời ở đó. Thí dụ: điển hình cho quan điểm này là
sự can thiệp của Mỹ, Anh và các nƣớc NATO vào Irắc, Nam Tƣ cũ, 26
Apganistan, Libya trong thời gian qua. Hàng năm Mỹ đều có báo cáo về việc
bảo đảm nhân quyền của các nƣớc trên thế giới theo tiêu chí nhân quyền của
Mỹ; và coi đây là căn cứ để thực hiện chính sách can thiệp vào công việc nội
bộ của nƣớc khác.
- Quan điểm của Liên Hợp Quốc về giáo dục quyền con người: Ngay từ khi
ra đời, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã lập tức có giá trị nhƣ một văn