QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI - Pdf 12


§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ

§Ò tµi: Quan hÖ ph©n phèi ë níc ta hiÖn nay – Thùc tr¹ng vµ
gi¶i ph¸p nh»m hoµn thiÖn quan hÖ ph©n phèi ë níc ta
trong thêi gian tíi.1
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng phân phối thu nhập giữ một vai trò hễt sức quan trọng.
Nó là một khâu không thể thiếu đợc của quá trình tái sản xuất. Phân phối thu nhập nối
liền sản xuất với sản xuất, sản xuất với tiêu dùng, nối liền thị trờng hàng hoá tiêu dùng
và dịch vụ với thị trờng các yếu tố sản xuất làm cho sự vận động của cơ chế thị trờng
diễn ra thông suốt.
Một xã hội muốn ổn định và phát triển thì cần đảm bảo đợc những lợi ích của cá
nhân trong xã hội, trong đó phân phối đảm nhận vai trò phân chia lợ ích cho từng cá
nhân. Giải quyết vấn đề phân phối thu nhập có ý nghĩa to lớn đối với sự ổn định, tăng tr-
ởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.Thực tiễn ở Việt Nam đã chỉ rõ, trong quá
trình đi tới ổn định và tăng trởng nền kinh tế, trớc hết chúng ta phải cải cách lu thông,
phân phối. Nhờ tháo gỡ những ách tắc trong lĩnh vực này mà nền kinh tế nớ ta đã và
đang dần thoát khỏi tìng trạng khủng hoảng, lạm phát từng bớc có sự tăng trởng phát
triển.Tuy nhiên khi chuyển sang cơ chế thị trờng định hớng XHCN thì hàng loạt các vấn
đề thuộc lĩnh vực phân phối thu nhập nh tiền lơng, lợi nhuận, lợi tức ... đã nảy sinh, đòi
hỏi phải có những cải cách thờng xuyên, liên tục để phù hợp với những nguyên lý kinh
tế kinh tế thị trờng cũng nh những đòi hỏi cấp thiết của xã hội đang đặt ra. Vì vậy việc
nghiên cứu quan hệ phân phối trong nền kinh tế thị trờng và vận dụng vào Việt Nam là
hết sức cấp thiết, cấp bách và có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Hơn thế nữa, trong chặng đờng đầu của thời kỳ quá độ ở nớc ta, do nền kinh tế có
nhiều thành phần kinh tế vận động trong cơ chế thị trờng nên cũng có nhiều lợi ích kinh
tế khác nhau và tất yếu cũng xuất hiện mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế. Việc phát

nghĩa rộng bao gồm bốn khâu: Sản xuất,phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Các khâu này
có quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó sản xuất đóng vai trò quyết định, các khâu khác
phụ thuộc vào sản xuất và cũng có tác động ngợc trở lại với quá trình sản xuất, đồng
thời cũng có tác động qua lại với nhau. Trong guồng máy đó phân phối là một khâu
không thể thiếu đợc, nó nối liền sản xuất với tiêu dùng, nó phục vụ và thúc đẩy sản xuất,
phục vụ tiêu dùng. Hơn thế nữa quan hệ phân phối còn là một mặt của quan hệ sản xuất,
nó phản ánh mối quan hệ lợi ích của mỗi thành viên và lợi ích của toàn xã hội. Sản xuất
tạo ra những vật phẩm thích hợp với nhu cầu, phân phối chia các sản phẩm (đợc quy ra
giá trị) đó theo những quy luật xã hội, nối tiếp đó là quá trình trao đổi, phân phối các
sản phẩm đẫ đợc phân phối theo những nhu cầu cá biệt. Quá trình đợc kết thúc khi sản
phẩm đợc tiêu dùng và lúc đó sản phẩm thoát ra khỏi sự vận động mang tính kế thừa,
trực tiếp trở thành đối tợng phục vụ cho nhu cầu cá biệt và thoả mãn nhu cầu đó trong
quá trình tiêu dùng.
Nh vậy phân phối đợc xem là yếu tố xuất phát từ xã hội còn trao đổi là yếu tố
xuất phát từ cá nhân. Trong sản xuất con ngời đợc khách thể hoá, trong tiêu dùng đò vật
đợc chủ thể hoá,trong phân phối dới hình thái những quy định phổ biến có tác dụng chi
phối thì xã hội đảm nhiệm vai trò trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng.Phân phối xác
định tỷ lệ về lợng sản phẩm dành cho cá nhân. Trao đổi xác định những sản phẩm trong
đó cá nhân đòi hỏi phần phân phối dành cho mình. Mac đã nhận định rằng:

Một nền
sản xuất nhất định quyết định một chế độ tiêu dùng nhất định, một chế độ trao đổi nhất
định cũng ảnh hởng đến phân phối.
,, (1)
Trên thực tế nếu ta chỉ nhận định rằng các khâu
đó chỉ là các bớc kế tiếp của nhau thì cha phản ánh hết đợc bản chất bên trong mang
tính khách quan của quá trình tái sản xuất. Sản xuất chụi ảnh hởng bởi các quy luật của
tự nhiên và phân phối cũng chụi ảnh hởng bởi các quy luật ngẫu nhiên của xã hội, nên
nó có ảnh hởng ít nhiều thuận lợi đến sản xuất. Kế tiếp đó là quá trình trao đổi đợc xem
nh sự vận động xã hội có tính hình thức, còn hành vi cuối cùng là tiêu dùng, không

sản phẩm mà xã hội tạo ra đều đực phân phối cho tiêu dùng cá nhân.Trớc hết xã hội cần
phải một phần để:
Bù đắp những t liệu sản xuất đã hao phí.
Mở rộng sản xuất.
Lập quỹ dự phòng.
Các khoản đợc trích trên đợc xem là một điều tất tếu về kinh tế, vì nếu không
khôi phục và mở rộng sản xuất thì không thể đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng cao của xã
hội. Phần còn lại của tổng san phẩm xã hội thì để tiêu dùng. Nhng trớc khi tiến hành
phân phối trực tiếp cho tiêu dùng cá nhân, còn phải trích một phần để:
Chi phí về quản lý hành chính và bảo vệ tổ quốc.
Chi cho các chơng trình phúc lợi và cứu tế xã hội.
Cuối cùng phần vật phẩm tiêu dùng còn lại mới đợc trực tiếp phân phối cho tiêu
dùng cá nhân của những ngời làm việc trong nền sản xuất xã hội phù hợp với chất lợng
4
và số lợng của lao động cũng nh số lợng vốn và tài sản mà họ đóng góp cho quá trình
sản xuất.
1.2 Vai trò của quan hệ phân phối
Bàn về vai trò của phân phối trong nền sản xuất xã hội, F.Ăngghen cho rằng:

Sự
phân phối chừng nào mà còn bị những lý do thuần tuý kinh tế chi phối, thì nó sẽ đợc
điều tiết bởi lợi ích của sản xuất, rằng sản xuất sẽ đợc thuận lợi trên hết trong mọi ph-
ơng thức phân phối mà mọi thành viên trong xã hội có thể phát triển, duy trì và thực
hiện những năng khiếu của họ một cách toàn diện nhất.
,, (1)
Ta thấy rằng mỗi một hình thái kinh tế xã hội đều bao gồm cả một hệ thống phức
tạp các lợi ích mà trong đó lợi ích kinh tế đóng vai trò quyết định. Các lợi ích kinh tế đ-
ợc quy định bởi quan hệ sản xuất cua mỗi chế độ xã hội, trong đó quan hệ sở hữu với t
liệu sản xuất có vai trò chi phối hệ thống lợi ích kinh tế.
Bản chất của quan hệ sản xuất trong mối phơng thức sản xuất đợc thể hiện qua

chống Đuy- rinh
,,
NXB Sự Thật, Hà Nội 1960 tr 336
5
Đó là lợi ích nhà nớc, lợi ích tập thể lợi ích và lợi ích của bản thân ngời lao động. Sự
thống nhất giữa các hình thức lợi ích kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ dẫn đến sự liên
hệ chặt chẽ và thâm nhập nhau giữa chúng. Trong đó lợi ích cá nhân trực tiếp là động
lực mạnh mẽ nhất đối với sự phát triển của xã hội.
Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ đã nói lên sự không
đồng nhất về lợi ích kinh tế xã hội. Tuy nhiên đây là một xu thế tất yếu bởi điểm xuất
phát đi lên là thấp trong khi đó yêu cầu hội nhập quốc tế là cách duy nhất để thực hiện
mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tơng ứng với quá trình đó, trong nền kinh tế sẽ
có nhiều quy luật vận động. Các quy luật kinh tế phát sinh trên cơ sở những quan hệ
kinh tếa tơng ứng và cũng trực tiếp quy định sự hình thành các lợi ích kinh tế của từng
giai cấp từng tầng lớp dân c trong xã hội. Tuy nhiên bên cạnh sự thống nhất giữa các lợi
ích kinh tế cơ bản, không loại trừ những mâu thuẫn giữa chúng cũng nh trong phạm vi
mỗi nhóm lợi ích. Vì vậy cần phải phát hiện kịp thời các mâu thuẫn giữa các lợi ích và
tìm cách giải quyết các mâu thuẫn đó.
Việc giải quyết các quan hệ về lợi ích kinh tế đợc thực hiện thông qua quan hệ
phân phối. Khi phơng thức sản xuất còn phù hợp (lợi ích của giai cấp thống trị còn phù
hợp với lợi ích của xã hội) thì ngời ta còn bằng lòng với sự phân phối của xã hội. Nhng
khi nó thoái trào thì không còn điều kiện để tồn tại phân phối bởi phân phối khi đó đã
không còn là công cụ đẩm bảo cho sự công bằng xã hội, bất công ngày càng sâu sắc đẫn
đến đấu tranh xã hội và cuối cùng là một phơng thức sản xuất mới ra đời. Nh vây quan
hệ phân phối mang tính lịch sử và thớc đo mức độ tiến bộ của một hình thái xã hội. Nó
chỉ có thể thay đổi khi quan hệ sản xuất đẻ ra quan hệ phân phối đó mất đi - đó là thông
qua cách mạng xã hội.Bởi trong mỗi hình thái kinh tế thì quan hệ phân phối giải quyết
những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế và đến khi nào nó không thể giải quyết đợc nữa thì
tất yếu sẽ bị thay thế bằng hình thức phân phối khác cho phù hợp.
1.3 Các hình thức phân phối ở nớc ta hiện nay.

Trong giai đoạn ngày nay phân phối theo lao động phải đợc dựa trên kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế. Việc đánh giá thông qua hai tiêu chí này không những phản
ánh đợc đầy đủ mặt lợng của lao động mà còn phản ánh đợc mặt chất ẩn sâu trong phạm
trù lao động đóng góp thực sự là bao nhiêu?. Chính vì việc phản ánh đúng và đầy đủ
nên phân phối theo lao động đợc coi là hình thức phân phối chủ yếu ở nớc ta hiện nay.
Nó không chỉ đảm bảo công bằng mà còn tạo động lực cho ngời lao động làm việc hăng
say, không ngừng nâng cao kiến thức, trình độ tay nghề.
1.3.1.2 Tính tất yếu của việc phân phối theo lao động.
Trong thời kỳ quá độ ở nớc ta hiện nay thì phân phối theo lao động là hình thức
thức căn bản, là nguyên tắc phân phối chủ yếu thích hợp nhất với các thành phần kinh tế
dựa trên chế độ sở hữu công hữu về t liệu sản xuất. Trong thành phần kinh tế này tất cả
mọi ngời dều có quyền bình đẳng đối với t liệu sản xuất, thì chỉ có thể thực hiện phân
phối giữa những ngời lao động với nhau thông qua việc láy lao động làm thớc đo. Đối
với các thành phần kinh tế thì việc phân phối theo lao động là một điều tất yếu. Bởi
nhiều nguyên nhân:
Nhờ dựa trên chế độ công hữu mà chế độ ngời bóc lột ngời bị xoá bỏ. Quyền
làm chủ về mặt kinh tế đợc xác lập. Lao động đang trở thành cơ sở quyết định địa vị xã
hội và phúc lợi vật chất của mỗi ngời.Chính vì vậy mà phân phối theo lao động và phù
hợp với các thành phần kinh tế đang tồn tại ở nớc ta hiện nay.
Lý do thứ hai khiến phân phối theo lao động là cần thiết là: trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất còn thấp, cha có đủ sản phẩm để phân phối theo nhu cầu. Tiếp đó
là sự khác biệt về tính chất và trình độ lao động .... Dẫn đến mỗi ngời có cống hiến khác
nhau đến kết quả lao động do đó phải căn cứ vào lao động đã cống hiến cho xã hội để
phân phối.
Thêm một nguyên nhân nữa cho thấy sự cần thiết phải phân phối theo lao động
---------------------------------------
(1): Mac-Angghen VI tập, tập IV, NXB Sự Thật, Hà Nội 1983, trg 474-479
là lao động cha trở thành nhu cầu của cuộc sống, nó còn là phơng tiện để kiếm sống,
còn là


nghiệp chuyên môn làm cho đội ngũ lao động lành nghề ngày càng đông đảo. Điều đó
còn thúc đẩy ngời lao động ra sức học tập văn hoá kỹ thuật, góp phần làm cho sự khác
biệt giữa lao động trí óc và lao động bằng chân tay bị xoá bỏ dần. Tạo điều kiện cho
việc phân bổ và sử dụng nguồn sức lao động đợc ổn định trong cả nớc đảm cho sản xuất
xã hội cân bằng và có kế hoạch. Thêm vào đó nó góp phần giáo dục về quan điểm, thái
độ và kỷ luật lao động đối với mỗi thành viên xã hội. Nó làm cho bản thân ngời lao
động vì lợi ích vật chất của mình mà quan tâm đến kết quả lao động của mình , từ đó ra
sức mà đẩy mạnh sản xuất.
Tuy nhiên để thực hiện đợc mục tiêu

làm theo năng lực hởng theo nhu cầu
,,
thì
còn nhiều việc phải làm. Bởi theo Mac phân phối theo lao động vẫn là một thứ pháp
quyền t sản, quyền bình đẳng vẫn nằm trong khuôn khổ t sản, tức là trong xã hội sản
xuất hàng hoá đợc thực hiện theo nguyên tắc trao đổi ngang giá và quyền của ngời lao
động tỷ lệ với lao động ngời ấy cung cấp thì điều đó vẫn còn thiếu xót. Bởi vởi với một
công việc ngang nhau một phần tham dự nh vào quỹ tiêu dùng xã hội nhng trên thực tế
ngời này vẫn đợc hởng nhiều hơn ngời kia.
Chế độ phân phối theo lao động vẫn còn những thiếu xót nhng đó là những thiếu
xót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa công sản. Nếu nh trong xã
8
hội t bản phân phối dựa trên cơ sở

ngời có của, kẻ có công
,,
thì trong xã hội XHCN đợc
dựa trên nguyên tắc

ngời làm nhiều hởng nhiều, ngời làm ít hởng ít, không làm kong

rỗi vào vòng chu chuyển. Qua đó kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nắm quyền sử
dụng một nguồn vốn to lớn hơn nhiều nguồn vốn tự có. Nh vậy, mặc dù sở hữu vốn là t
nhân, nhng việc sử dụng vốn đã mang tính xã hội.
Trớc nhu cầu vốn nh hiện nay cần tạo đủ điều kiện pháp lý để các thành phần
kinh tế , t nhân cá thể và tất cả các thành viên trong xã hội yên tâm mạnh dạn đầu t vốn
vào sản xuất kinh doanh để nguồn vốn không chỉ tạo ra cơ hội sinh lợi cho các thành
viên tham gia đầu t mà còn tạo ra những lợi ích kinh tế xã hội to lớn.
Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: Cần sửa đổi bổ sung và công bố rộng rãi các
chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế. Những quy định có tính chất
9
nguyên tắc phải trở thành pháp luật để mọi thành viên xã hội yên tâm đầu t vốn vaò sản
xuất kinh doanh. Với quan điểm đổi mới đó, cần phải xem xét phân phối kết quả sản
xuất kinh doanh theo vốn và tài sản của mỗi cá nhân đóng góp vào quá trình sản xuất xã
hội dới hình thức

lợi tức
,,


lợi nhuận
,,
, là một hình thức phân phối hợp pháp và phải
đợc bảo hộ của pháp luật đối với những thu nhập hợp pháp đó .
1.3.3 Phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi x hội.ã
1.3.3.1 Tính tất yếu của việc phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ
phúc lợi xã hội.
Nếu nh phân phối theo lao động và phân phối theo vốn hay tài sản và những
đóng góp khác đợc xem là tất yếu, là biện pháp thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển
và tạo lập đợc sự công bằng giữa mọi thành viên trong xã hội. Tuy nhiên với bản chất
nhân đạo từ ngàn đời:

xây dựng các quỹ phúc lợi xã hội là việc làm cần thiết và ngày càng có ý nghĩa to lớn.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status