Thông tin về
Môi trường
Bên ngoài
Thông tin
về nội bộ
hệ thống
chủ thể quản lýđối tượng quản lý
MỤC LỤC
- 1 -
A/ LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới hiện nay đang diễn ra một cuộc cách mạng về thông tin hết sức
sôi động.Trong xu thế phát triển của thế giới có sự đóng góp to lớn của thông
tin ,khoa học công nghệ.Để phát triển thì mỗi quốc gia đều cần có những
nguồn lực nhất định và thông tin ngày nay đã trở thành một trong những nguồn
lực thực sự của mỗi quốc gia ,mỗi tổ chức.Vì vậy xu hướng chung của xã hội
ngày nay là hướng vào một xã hội thông tin ,trong xã hội đó những giá trị vật
chất mà thông tin và tri thức đem lại chiếm một tỉ lệ lớn trong xã hội.Thông tin
là một nguồn lực quan trọng góp phần to lớn không chỉ trong công tác quản
lý,điều hành các hoạt động mà còn góp phần tạo ra các giá trị mới ,mà sự tăng
trưởng của một quốc gia lại phụ thuộc rất lớn vào những giá trị mới trong quốc
gia đó.Vì vậy thông tin được coi là một trong những loại tài sản quan trọng
nhất đối với bất kỳ tổ chức nào.
Đối với Việt Nam hiện nay thì một trong những khâu yếu kém nhất đó là
quá trình quản lý.Chính bởi sự quản lý còn yếu kém mà chúng ta không tận
dụng được các nguồn lực gây lãng phí nguồn lực cho phát triển ,đôi khi còn có
những quyết định sai lầm… Vì vậy trong bài viết này em đi sâu nghiên cứu về
vai trò của thông tin trong quá trình quản lý kinh tế đặc biệt là quá trình ra
quyết định.Tuy nhiên ,các thông tin phải được tổng hợp lại thành một hệ thống
thông tin tuỳ theo nội dung ,tính chất …của thông tin.Do đó trọng tâm nghiên
cứu ở đây là hệ thống thông tin phục vụ cho quá trình quản lý đặc biệt là ra
quyết định .Trong công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay đòi hỏi một trình
1.Thông Tin
1.1.Các khái niệm
1.1.1.Thông tin chung:
Thông tin là một khái niệm rộng và phổ biến liên quan đến tất cả các
hoạt động của con người như sản xuất ,kinh doanh,nghien cứu khoa học ,nghệ
thuật,chính trị…Vì vậy cũng có nhiều khái niệm về thông tin khác nhau vói
nhiều góc độ xem xét khác nhau:góc độ triết học ,góc độ tin học, điều khiển
học…
Từ nhiều góc độ trên ta có thể nêu nên một khái niệm về thông tin một
cách tổng quát : Thông tin là thông báo tin tức các dữ liệu phản ánh hiện thực
khách quan,là thuộc tính đặc biệt của vật chất.Nó có thể được truyền đạt xử lý
phục vụ các hoạt động lý luận và thực tiễn của con người.
Thông tin luôn phản ánh mối liên hệ qua lại lẫn nhau giữa người gửi tin
với người nhận tin hoặc người sử dụng tin.
1.1.2.Thông tin kinh tế
a. Thông tin kinh tế
-là những tín hiệu mới , được thu nhận , được cảm thụ,và được đánh giá
là có ích cho việc ra quyết định hoặc giải quyết một nhiệm vụ nào đó trong
quản lý kinh tế.
Thông tin kinh tế là hoạt động thông tin gắn liền với hoạt động kinh tế,
xuất phát từ nhu cầu kinh tế và phục vụ cho kinh tế,nó lấy đối tượng phục vụ
là sự vận hành kinh tế .
1.1.3.Thông tin quản lý kinh tế:
a. Thông tin quản lý kinh tế
Thông tin quản lý kinh tế là những tin tức sự kiện liên quan đến hoạt
động quản lý kinh tế ở cả tầm vĩ mô và vi mô.
Ở tầm vi mô : để ra được quyết định kinh doanh người quản lý phải
được thông tin về nhu cầu ,giá cả hàng hoá ,về công nghệ ,tài chính ,chính
sách của chính phủ…
Ở tầm vĩ mô :Trong nền kinh tế thị trường thì một trong những vai trò
Hàng ngày người quản lý thường tiếp nhận rất nhiều thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau.Với số lượng lớn như vậy thì mỗi người mỗi doanh nghiệp
đều có thể trở thành một trung tâm thu và phát tin.Vì vậy những thông tin này
cần được tổng hợp lại sao cho ngắn gọn hơn nhưng vẫn chứa đựng đầy đủ
những nội dung cần thiết cho việc ra quyết định.Những thông tin này cũng có
những mối quan hệ tưong đối với nhau chẳng hạn như thông tin về sản phẩm
của doanh nghiệp với thông tin về sản phẩm của đối thủ cạnh tranh,hay thông
tin của nhà quản lý cho cấp dưới với thông tin về đối tượng quản lý.Như vậy
ngoài việc tổng hợp lại thông tin nhà quản lý còn phải nắm bắt mối quan hệ
trong các thông tin đó để giải quyết các mối quan hệ ấy.
1.2.3.Thông tin phản ánh trật tự và phẩm cấp của quản lý kinh tế.
Trong cơ cấu của mỗi tổ chức nhất định có thể hình thành nhiều bậc
quản lý vì người lãnh đạo cao nhất không thể bao quát toàn bộ công việc của
tổ chức đặc biệt là những tổ chức có quy mô lớn.Ở mỗi cấp quản lý như vậy
thì đều có luồng thông tin riêng của mình,các luồng thông tin này được trải
theo các kênh tổ chức của hệ thống ,nêu rõ cấp độ quyền hạn của từng cấp.Đối
với người lãnh đạo của hệ thống ,các thông tin đều được quy tụ tập trung giúp
cho người lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược so với các nhà quản lý ở các cấp
phân hệ.
Tuy nhiên mức độ tổng hợp thông tin cao hay thấp còn phụ thuộc vào
loại thông tin và quy trình quản lý.Chẳng hạn để thực hiện chức năng hoạch
định trong quy trình quản lý ,doanh nghiệp cần có thông tin nội bộ và các
thông tin từ môi trường bên ngoài ,trong đó các thông tin về môi trường bên
ngoài chiếm tỉ lệ cao hơn.Nhưng để thực hiện chức năng kiểm tra ,lại chủ yếu
cần các thông tin nội bộ bên trong.Ta có thể thấy được mối quan hệ giữa các
cấp quản lý và các loại thông tin cần thiết được biểu diễn dưới dạng sơ đồ sau:
Cao
Trung bình
Thấp
Cấp quản lý Mức độ tổng hợp thông tin
2.Quyết định quản lý kinh tế :
Quản lý kinh tế là nhằm đạt tới mục tiêu chung của mỗi một tổ
chức.trong quá trình quản lý kinh tế đó các nhà quản lý phải đưa ra các quyết
định giữa rất nhiều phương án được đề ra nhằm đi tới mục tiêu một cách tối ưu
nhất.Sự thành công của các nhà quản lý và của chính các tổ chức phụ thuộc rất
nhiều vào các quyết định mà họ đưa ra.Trong quá trình ra quyết định cung
chứa đụng rất nhiều rủi ro do các yếu tố thường xuyên biến động vì vậy nhà
quản lý phải là người dám chấp nhận rủi ro và dám chịu trách nhiệm về quyết
định của mình.
2.1.Khái niệm quyết định quản lý kinh tế:
Trước khi xem xét quyết định quản lý kinh tế ta cần xét xem thế nào là
quyết định: quyết định là quá trình xác định lựa chọn và thực hiện những
phưong thức hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định.
Quyết định quản lý kinh tế là hành vi sáng tạo với tư cách là sản phẩm
lao động của chủ thể quản lý nhằm định ra mục tiêu ,chương trình và tính chất
hoạt động của người hay cấp phải thực hiện quyết định đó.Như vậy quyết định
quản lý kinh tế là các chỉ thị mệnh lệnh của chủ thể quản lý nhằm tổ chức định
hướng và kích thích các hoạt động kinh tế của đối tượng quản lý để thực hiện
mục tiêu của tổ chức
Mỗi quyết định quản lý nhằm trả lời một hoặc một số câu hỏi sau: Tổ
chức cần làm gì ? Khi nào làm cái đó ? Làm trong bao lâu ?Ai làm ? Và làm
như thế nào ?
Trả lời các câu hỏi làm gì khi nào làm và làm cái đó trong bao lâu,
thường là những quyết định kế hoạch.Tổ chức cần đạt được những mục tiêu
nào trong tương lai gần ? Mục tiêu đó có nhằm đạt mục tiêu tông thể dài hạn
không ? Để đạt được những mục tiêu đó tổ chức cần thực hiện những nhiệm
vụ nào ?...
Trả lời câu hỏi ai làm , thường là nhũng quyết định tổ chức.Để thực hiện
mục tiêu cần sắp xếp cơ cấu tổ chức như thế nào để đảm bảo toàn bộ hệ thông
hoạt động một cách linh hoạt để đi đên mục tiêu ? Sắp xếp hệ thông quản lý ,
thể chung của cả hệ thống thông việc thực hiện các mục tiêu bộ phận.Như vậy
các bộ phận của tổ chức không chỉ quan tâm đến mục tiêu riêng của bộ phận
mình mà phải xem xét đóng góp của mục tiêu riêng đó vào mục tiêu chung
như thế nào.Vì vậy quyết định phải thực hiện chức năng phối kết hợp .Chức
năng này thực hiện trong quá trình đưa ra quyết định có sự phối kết hợp của
các bộ phận và cá nhân có liên quan đến quyết định,bao gồm cả bộ phận quản
lý và bộ phận bị quản lý ,đặc biệt giữa các bộ phận quản lý.Thực hiện chức
năng này nhằm tránh sự chồng chéo , mâu thuẫn giữa các quyết định trong tổ
chức hay bỏ xót một trong những nhiệm vụ cần làm.
2.2.4.Chức năng động viên cưỡng bức:
Các quyết định mà nhà quản lý đưa ra đều phải có các cấp dưới thực
hiện , quyết định được ban hành phải được coi như một mệnh lệnh hành chính
mang tính bắt buộc mà cấp dưới phải có trách nhiệm thực hiện.Tính bắt buộc
thể hiện ở việc ai vi phạm hoặc không hoàn thành tốt nhiệm vụ sẽ bị xử lý
nghiêm khắc.Tuy nhiên cũng cần phải động viên họ để họ làm việc hăng say
hơn sáng tạo hơn và đạt hiệu quả cao hơn do nhiều khi sự cưỡng bức làm việc
sẽ lam triệt tiêu sáng tạo của họ.
2.2.5.Chức năng bảo mật:
Các quyết định quản lý quan trọng cần được đảm bảo bí mật trong một
phạm vi nhất định như chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp , chiến lược
sản phẩm mới …Khi các thông tin quyết định bị rò rỉ hay bị đối thủ cạnh tranh
nắm được thì doanh nhgiệp sẽ đánh mất cơ hội của thị trường và thất bại.Khi
đó quyết định cần có chức năng bảo mật,nhờ đó ý đồ quản lý của hệ thống
được thực hiện một cách vững chắc.
3.Mối quan hệ giữa thông tin và ra quyết định trong quản lý
3.1.Thông tin là nguyên liệu đầu vào ,quyết định quản lý là sản phẩm đầu ra
Quản lý nối chung và thông tin là hai lĩnh vực có liên hệ mật thiết với
nhau . Nếu không có thông tin quản lý sẽ không tồn tại với tư cách là quản
lý.Thông tin ban đầu được thu thập lại dưới dạng các số liệu dữ liệu cụ thể
(nguyên liệu đầu vào) được xử lý và tổng hợp lại bằng một hệ thống xử lý
và lập trường chính trị.
Thông tin là phương thức quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng
quản lý xã hội . Xã hội thông tin là xu thế phát triển của thời đại hiện nay.Xu
thế sử dụng thông tin như một ngồn lực quan trọng ngày càng được khẳng
định.Trong đời sống chính trị , thông tin chính trị - xã hội phục vụ trực tiếp cho
công tác chính trị tư tưởng mọi cấp mọi ngành . Thông tin chính trị là công cụ
hàng đầu của một đảng cầm quyền . Đó chính là việc thực hiện mục đích chính
trị tư tưởng và tuyên truyền chính sáng của đảng cầm quyền .
1.2.Thông tin giữ vai trò quan trọng trong công tác lãnh đạo và quản lý.
Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào chất lượng các quyết định mà chất
lượng các quyết định lại phụ thuộc vào sự đầy đủ và chất lượng của thông
tin .Cho nên không có thông tin đúng đắn thì không thể có quá trình quản lý
nào hiệu quả được.Chỉ có nhũng tin tức được chủ thể quản lý nhận thức như là
kiến thức có ích cho chủ thể quản lý mới là thông tin quản lý.
1.3.Thông tin giữ vai trò quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo.
Các hoạt động đào tạo giảng dạy học tập , nghiên cứu … luôn luôn cần
đến sự hỗ trợ đắc lực của công tác thông tin ,thông qua hàng loạt các loại hình
thu thập ,xử lý ,lưu trữ và phổ biến thông tin.Con người có thể tiếp thu được
những tinh hoa của nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác , từ nơi này đến
nơi khác là nhờ có thông tin ,dù ở bất cứ hình thức nào.
1.4.Thông tin thúc đẩy sự phát triển của khoa học
Thông tin là một nhu cầu khách quan để phát triển khoa học .Một trong
những quy luật phát triên của khoa học và nghiên cứu khoa học là thế hệ sau
chon lọc hệ thống hoá, kế thừa nhũng thành quả của thế hệ đi trước ,đồng thời
phát hiện , tìm tòi bổ xung những cái mới hơn. Như vậy hoạt động khoa học là
một quá trình khai thác tiếp nhận thông tin , lưu trữ thông tin và tạo ra những
thông tin mới khác với thông tin ban đầu.
1.5.Thông tin với sự phát triển của mỗi quốc gia .
Do sự phát triển không đồng đều ở các nước trên thế giới cho nên các
nước chậm phát triển muốn đuổi kịp các nước tiên tiến về kinh tế ,xã hội cần
bản thân các quyết định được đưa ra chính là những thông tin thể hiện ở việc
phân phát các quyết định cho cấp dưới đồng thời kiểm tra hoạt động của họ.
Một quyết định sẽ không được thực thi nếu như nó không được thông tin đến
các cấp dưới để họ thực hiện quyết định.
2.3. Đánh giá quyết định khi nó đã được thực thi nhờ hệ thống thông tin
phản hồi.
Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối tượng bị quản lý thì phải đưa ra
các thông tin ( mệnh lệnh , chỉ thị ,nghị quyết ,quyết định…),đó chính là thông
tin điều khiển.Tuy nhiên nhà quản lý không phải là người chỉ phát tin là các
quyết định đi cho các cấp dưới mà họ còn phải tiếp nhận thông tin phản hồi lại
từ hệ thống nhằm đánh giá không phải chỉ hoạt động của tổ chức mà còn để