1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công
nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước.
Khoa học xã hội và nhân văn đặt trọng tâm vào tổng kết thực tiễn, đi
sâu nghiên cứu những vấn đề lớn của đất nước, khu vực và toàn cầu, giải
quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chính sách,
chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phát huy nhân tố con người và văn
hoá Việt Nam. Khoa học tự nhiên chú trọng hướng vào giải quyết các vấn
đề thực tiễn, nghiên cứu cơ sở khoa học của sự phát triển các lĩnh vực
công nghệ trọng điểm và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ môi trường, dự báo, phòng, tránh, giảm nhẹ hậu quả thiên tai. Khoa
học công nghệ tập trung vào đáp ứng yêu cầu nâng cao năng suất, chất
lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh, bảo vệ môi
trường và bảo đảm an ninh quốc phòng; coi trọng phát triển và ứng dụng
công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công
nghệ tự động hoá.
Đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và các lĩnh
vực hoạt động khác, thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ so với các
nước tiên tiến trong khu vực. Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với các
ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp, không gây ô
nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động. Chú trọng nhập khẩu công
nghệ mới, hiện đại, thích nghi công nghệ nhập khẩu, cải tiến từng bộ phận,
tiến tới tạo ra những công nghệ đặc thù Việt Nam. Hiện đại hoá công nghệ
trong quản lý. Hoàn thành xây dựng hai khu công nghệ cao ở gần Hà Nội
1
2
3
hiện nay của mình, chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, non kém. Bản thân
Em kính mong quý thầy, quý cô giúp đỡ góp ý để tiểu luận của Em được
hoàn thiện hơn.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng tổng hợp các phương
pháp sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh.
B. NỘI DUNG
I. ĐẢNG LÃNH ĐẠO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1. Vị trí, vai trò, chức năng của khoa học và công nghệ ở nước ta
hiện nay
1.1. Khái niệm
Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của
tự nhiên, xã hội và tư duy.
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,
công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Nội
dung công nghệ bao gồm bốn yếu tố thống nhất và đồng bộ:
- Thiết bị: bao gồm máy móc, dụng cụ, kết cấu xây dựng, nhà xưởng.
- Con người: bao gồm đội ngũ nhân lực để vận hành, điều khiển và
quản lý dây chuyền thiết bị.
- Thông tin bao gồm tư liệu, dữ kiện, bản thuyết minh, catalô, tài liệu
không chỉ giữ vai trò then chốt mà còn là động lực phát triển kinh tế xã
hội.
Bước vào thời kỳ đổi mới, từ Đại hội VI Đảng ta đã chỉ rõ khoa học công nghệ là động lực quan trọng của công cuộc đổi mới toàn diện đất
4
5
nước, là cơ sở để củng cố và nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo và vị trí
tiền phong của Đảng. Đại hội toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, Nghị quyết
Trung ương 2 khoá VIII, kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá IX của
Đảng đều nhấn mạnh: ... "là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước". "Khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo
phải được xem là quốc sách hàng đầu.
Khoa học và công nghệ là phương tiện, công cụ để thực hiện các
chính sách và những nội dung của công cuộc đổi mới. Ở đây, vai trò nổi
bật là sự kết hợp hữu cơ giữa khoa học tự nhiên và công nghệ với khoa học
xã hội và khoa học quản lý. Nó thể hiện đầy đủ tư duy đến hành động, từ tổ
chức và quản lý đến chủ trương và chính sách cụ thể, từ đổi mới công nghệ
đến chính sách công nghệ, ... tất cả đều không tách rời đường lối, chính
sách về khoa học và công nghệ của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn
hiện nay.
Để lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng phải nhận thức được quy luật
khách quan định hướng phát triển đất nước, đó là cơ sở để Đảng định ra
đường lối và chính sách đúng. Để làm được điều này, Đảng phải nắm vững
khoa học và công nghệ, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng mang tính cách
mạng và tính khoa học.
Khoa học và công nghệ ở nước ta có ba chức năng cơ bản sau:
- Xây dựng luận cứ khoa học cho đường lối chung và các quyết định
tế - xã hội, chiến lược khoa học và công nghệ của nước ta, tham gia đẩy
mạnh điều tra cơ bản, xây dựng các chính sách đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế, quản lý xã hội; khai thác phát huy giá trị nhân văn của dân tộc, góp
phần giáo dục lòng yêu nước, nâng tro trí tuệ và năng lực sáng tạo của cán
bộ và nhân dân. Luật Khoa học - công nghệ ra đời đã phát huy hiệu lực.
Mô hình liên kết nghiên cứu khoa học, đào tạo với sản xuất xuất hiện ngày
càng nhiều.
6
7
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ ở nước ta còn phụ
thuộc không nhỏ vào tiềm năng - nguồn lực tự nhiên và nguồn lực xã hội
và nhân văn.
Nguồn lực tự nhiên nước ta phong phú và đa dạng, có đủ điều kiện
để thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Tiềm năng năng lượng lớn
và đa dạng, đặc biệt gần như chỉ bắt đầu khai thác sử dụng. Tuy là nước
đông dân, song tiềm năng đất đai còn lớn cho đến nay, do kém phát triển,
chúng ta mới chỉ tập trung khai thác vùng đất truyền thống nông nghiệp đó
là châu thổ Sông Hồng, đồng bằng Sông Cửu Long và các dải đồng bằng
Duyên Hải. Với bờ biển dài 3.260 km, nước ta có một hải phận có chủ
quyền rộng gấp 3 - 4 lần diện tích lục địa, đây là nguồn lực chưa được khai
thác bao nhiêu trước "kỷ nguyên biển" hiện nay. Tiềm năng sông nước ngọt
cũng chưa được khai thác tốt.
Con người Việt Nam có lòng nồng nàn yêu nước, giàu sức sống và
bản sắc dân tộc kiên cường bất khuất; thông minh và sáng tạo cần cù trong
lao động, nhân ái trong đời sống, linh hoạt trong ứng xử, biết quý trọng ý
thức cộng đồng và tinh thần dân chủ, nhạy cảm với tinh hoa nhân loại. Đó
phát triển thực hiện vai trò nền tảng và động lực trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi còn rất nhiều khó khăn, khoa học và
công nghệ nước ta phát triển chậm, chưa đáp ứng được những yêu cầu bức
xúc của công cuộc đổi mới.
Khoa học xã hội chưa nghiên cứu sâu sắc và lý giải một cách thuyết
phục, có căn cứ khoa học nhiều vấn đề cơ bản về thời đại, về CNTB về
thời kỳ quá độ lên CNXH của nước ta, chưa cung cấp đầy đủ luận cứ khoa
học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế - xã hội, giáo dục thế giới quan và phương pháp luận khoa học, bồi
dưỡng nhân sinh quan và đạo đức cách mạng.
8
9
Khoa học công nghệ chưa đóng góp được nhiều để làm chuyển biến
mạnh mẽ nền kinh tế về mặt năng suất, chất lượng và hiệu quả, thúc đẩy
phát triển nhanh các ngành sản xuất, dịch vụ có hàm lượng khoa học và
công nghệ cao.
Các hạn chế trên do nhiều nguyên nhân khác nhau:
- Nguyên nhân khách quan:
+ Phương thức sản xuất tiểu nông, sự ăn sâu của quan hệ và triết lý
phong kiến lâu dài ở con người Việt Nam. Chiến tranh liên miên đã kìm
hãm sự phát triển kinh tế - khoa học và kỹ thuật, làm tầm nhìn con người
hạn hẹp, tư duy phân tán, kém hiểu biết kinh doanh, không dễ làm quen và
thích ứng với cơ chế thị trường.
Kế thừa là quy luật của sự phát triển, chúng ta có đặc điểm không
thuận lợi là thời kỳ Pháp thuộc những di sản văn hoá, khoa học và công
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới Việt Nam; góp
phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc
sống của nhân dân, bảo đảm quốc phòng an ninh.
3.1.2. Nội dung tổng quát
- Vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho
việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phòng an ninh; góp phần xây dựng nền giáo dục tiên tiến,
xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy các giá trị truyền
thống của văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và đóng góp
vào kho tàng văn hoá khoa học thế giới.
- Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để làm chủ các công
nghệ tiên tiến, công nghệ cao, các phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ của
10
11
nhân dân; dự báo kịp thời, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả
thiên tai.
- Tiếp thu các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới để tạo ra,
ứng dụng có hiệu quả các công nghệ mới; tạo ra sản phẩm có sức cạnh
tranh cao; phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiên
tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho
việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và
ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống.
3.2. Nội dung cụ thể với các ngành khoa học
Nghiên cứu cơ bản có định hướng, có trọng điểm các lĩnh vực khoa
học tự nhiên nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý và bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, phòng chống, hạn chế
hậu quả thiên tai và nhừm xây dựng năng lực khoa học cho việc làm chủ
các công nghệ tiên tiến được chuyên giao từ nước ngoài và sáng tạo ra
công nghệ mới. Chú trọng đúng mức những nghiên cứu lý thuyết hiện đại
cần thiết để đón đầu sự phát triển của khoa học và công nghệ.
3.2.3. Khoa học kỹ thuật và công nghệ
Đến năm 2020 đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ở các ngành kinh
tế trọng điểm. Phát triển ngành công nghiệp biển. Ứng dụng có chọn lọc
các thành tựu khoa học hiện đại nhằm tiếp cận với trình độ thế giới trong
một số lĩnh vực quan trọng, làm cơ sở vững chắc cho phát triển cho các
ngành công nghiệp hiện đại.
3.2.4. Tiềm lực khoa học và công nghệ
Nâng cao năng lực nội sinh về khoa học công nghệ để có khả năng
tiếp thu các tri thức mới của thế giới, thích nghi làm chủ các công nghệ tiên
tiến từ nước ngoài. Nghiên cứu giải quyết các vấn đề khoa học và công
nghệ do thực tiễn đặt ra trong quá trình phát triển; bảo đảm căn cứ khoa
học cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển.
4. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với khoa học - công nghệ
12
13
4.1. Đổi mới quản lý và tổ chức hoạt động khoa học - công nghệ
Đổi mới quản lý và tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ gắn
với đổi mới và tổ chức quản lý kinh tế; bảo đảm sự gắn kết lợi ích của
người sáng tạo và lợi ích của các thành phần kinh tế - xã hội. Hoàn thiện cơ
chế quản lý kinh tế nhằm thúc đẩy cạnh tranh và hội nhập kinh tế, phát
mạnh mẽ các hoạt động sáng tạo khoa học và công nghệ. Bảo trợ ứng dụng
các tiến bộ khoa học và công nghệ được sáng tạo ở trong nước.
4.2. Tạo lập và phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Hoàn thiện các cơ chế chính sách hiện có và xây dựng cơ chế chính
sách mới để hỗ trợ và thúc đẩy các doanh nghiệp nghiên cứu khoa học và
thường xuyên đổi mới công nghệ, thúc đẩy các hoạt động thị trường khoa
học và công nghệ. Hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao hiệu lực thực thi
pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Áp dụng chế độ thuế nhập khẩu thấp đối với các thiết bị công nghệ
tiên tiến. Miễn mọi loại thuế cho các sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất
thử bằng công nghệ mới, giảm thuế lợi tức trong một số năm đối với các
sản phẩm làm ra bằng công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng trong
nước. Có chính sách ưu đãi đối với việc áp dụng các công nghệ do trong
nước áp dụng.
4.3. Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ
Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ khoa học; tăng số lượng để
đạt mức trung bình các nước công nghiệp mới ở châu Á, tăng số lượng cán
bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao. Đẩy mạnh tốc độ gửi cán bộ
khoa học và công nghệ đi đào tạo, bồi dưỡng tại các nước có trình độ khoa
học và công nghệ tiên tiến, hiện đại. Khai thác các phòng thí nghiệm trọng
điểm quốc gia, một số viện nghiên cứu, trường đại học trọng điểm đạt trình
độ tiên tiến khu vực.
Ban hành các văn bản pháp lý về công tác thống kê khoa học và công
nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và hội nhập
kinh tế quốc tế.
14
15
Tổ chức đảng ở các cơ quan khoa học và công nghệ, các trường đại
học có trách nhiệm phát triển đảng sâu rộng trong đội ngũ trí thức, đặc biệt
đối với những nhà khoa học đầu ngành và những trí thức trẻ.
4.5. Đề cao trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động khoa học
- công nghệ
Nhà nước xây dựng và thực hiện các chính sách và biện pháp để phát
triển khoa học và công nghệ.
- Bảo đảm để khoa học và công nghệ là căn cứ và là một nội dung
quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh.
- Đầu tư xây dựng và phát triển năng lực nội sinh, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài về khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hợp
tác quốc tế; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển khoa học
và công nghệ; sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực khoa học và công nghệ.
- Bảo đảm sự phát triển ổn định, liên tục cho nghiên cứu cơ bản trong
các lĩnh vực khoa học, nhất là một số lĩnh vực khoa học đặc thù của Việt
Nam; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực khoa học và công
nghệ, chú trọng phát triển công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ có
ý nghĩa quan trọng.
- Đẩy mạnh ứng dụng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ; phát
triển dịch vụ khoa học và công nghệ; xây dựng và phát triển thị trường
công nghệ khuyến khích hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật,
hợp lý hoá sản xuất, phổ biến tri thức khoa học và công nghệ, kinh nghiệm
thực tiễn; tạo điều kiện thuận lợi cho các hội khoa học và công nghệ thực
hiện tốt trách nhiệm của mình.
16
công nghệ. Thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ, đãi ngộ đặc biệt
đối với nhà khoa học có công trình nghiên cứu xuất sắc.
17
18
Trong 5 năm tới cần tạo bước phát triển mới, có hiệu quả trong các
lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng các thành quả khoa học và công nghệ vào
sản xuất, kinh doanh, nâng cao tỷ trọng đóng góp của khoa học và công
nghệ vào tăng trưởng trong từng ngành, từng sản phẩm, từng lĩnh vực và
từng vùng kinh tế.
Khoa học xã hội và nhân văn tập trung nghiên cứu những luận cứ
cho việc tạo động lực phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới
sâu rộng, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, đi lên chủ nghĩa xã hội.
Khoa học tự nhiên chú trọng nghiên cứu cơ sở khoa học cho sự phát
triển các lĩnh vực công nghệ trọng điểm và khai thác các tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ môi trường, dự báo, phòng tránh, giảm nhẹ hậu quả thiên tai.
Việc đổi mới công nghệ sẽ hướng vào chuyển giao công nghệ, tiếp
thu, làm chủ những công nghệ mới; đặc biệt lựa chọn những công nghệ cơ
bản, có vai trò quyết định đối với nâng cao trình độ công nghệ của nhiều
ngành, tạo ra bước nhảy vọt về chất lượng và hiệu quả phát triển của nền
kinh tế.
Trong nông nghiệp tập trung nghiên cứu ứng dụng để có bước đột
phá về giống cây, con có năng suất và giá trị cao; nghiên cứu và đưa vào
ứng dụng tốt công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công
nghệ chế biến nông sản.
Trong công nghiệp và xây dựng, tập trung nghiên cứu và ứng dụng
nhất là các gia đình nghèo.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo mới ở mức 20% (so với 50% trở lên ở
nhiều nước và chưa đạt mục tiêu 22-25%) làm cho khả năng tiếp thu kỹ
thuật công nghệ mới gặp nhiều khó khăn.
Các hoạt động khoa học và công nghệ chưa thực sự gắn kết với
nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội, chậm đưa vào ứng
dụng những kết quả đã nghiên cứu được. Trình độ công nghệ của nước ta
19
20
còn thấp nhiều so với các nước xung quanh, chưa đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Năng lực tự tạo ra công nghệ mới còn
rất có hạn.
Các cơ quan nghiên cứu khoa học chậm được sắp xếp cho đồng bộ,
còn phân tán, thiếu phối hợp, do đó đạt hiệu quả thấp. Các viện nghiên cứu
và các doanh nghiệp, các trường đại học chưa gắn kết với nhau. Việc đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật thiếu tập trung và dứt điểm cho từng
mục tiêu. Cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao tuy còn ít, song
chưa được sử dụng tốt.
C. KẾT LUẬN
Khoa học xã hội và nhân văn đã bước đầu cung cấp được các luận cứ
khoa học phục vụ yêu cầu hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch
phát triển kinh tế, xã hội và đổi mới các cơ chế chính sách.
Khoa học tự nhiên và công nghệ tập trung triển khai nghiên cứu
những đề tài cấp nhà nước và cấp bộ, tỉnh, thành phố. Nhiều kết quả
nghiên cứu được ứng dụng trong sản xuất, kinh doanh và trong đời sống xã
định và phát triển kinh tế, xã hội. Báo Nhân dân, thứ năm ngày 29/10/1998.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII), Nxb
CTQG, Hà Nội 1997, tr.51.
5. ESCAP: Phương pháp lập kế hoạch phát triển năng lực công nghệ. Tập 1,
Trung tâm Thông tin tư liệu và công nghệ quốc gia, Hà Nội 1997.
6. Việt Nam tiến bộ về phát triển nhân lực:
Việt Nam - đầu tư nước ngoài. Số 172, ngày 23-29 tháng 7 năm 1996, tr.19.
7. Bùi Mạnh Hải (chủ biên). Tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ 19911995. Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường. H.1996, tr.41.
21
22
8. Những điều cần nói về lực lượng lao động trẻ. Hà Nội mới, số 9973, ngày
8/1/1996, tr.2
9. Chu Tuấn Nhạ: Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững. Hoạt
động khoa học, số 8, 1996, tr.8-9.
10. Đoàn chuyên gia quốc tế IDRC: Báo cáo đánh giá về chính sách khoa học
và công nghệ và đổi mới ở Việt Nam. Hà Nội, tháng 12-1997, tr.60.
11. Bộ Khoa học, công nghệ và Môi trường: Khung đề cương chi tiết... Hà Nội,
tháng 5/1998, tr.37.
12. Báo cáo tổng kết 10 năm đổi mới chính sách và quản lý khoa học và công
nghệ. Bộ KHCN&MT. Hà Nội, 1996.
13. Điều tra tiềm lực khoa học và công nghệ các đơn vị khoa học và công nghệ
và công nghệ thuộc Bộ ngành Trung ương, Hà Nội. TCTK và Bộ
KHCN&MT. Hà Nội, 10/1996.
14. Nguyễn Trọng Tài và Nguyễn Tiến Tùng: Góp thêm một số ý kiến về chính
sách thuế. Kinh tế và dự báo, 9/1998, tr.20.
15. Đặng Đình Đào: Một vấn đề về chính sách thuế trong nền kinh tế thị
trường. Kinh tế và phát triển, số 15 (12/1996), tr.37 - 41.